Việc tạo biểu tượng lịch sử trong giảng dạy các cuộc cách mạng tư sản thời cận đại (lớp 10 - chương trình chuẩn) trên địa bàn TP Đà Nẵng. - Pdf 55

1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA SỬ
----------

HỒ THỊ MỸ LỆ

Việc tạo biểu tượng lịch sử trong giảng dạy các
cuộc cách mạng tư sản thời cận đại ( lớp 10 chương trình chuẩn) trên địa bàn TP Đà Nẵng

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP


2

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục từ lâu luôn là quốc sách hàng đầu trong chiến lược phát triển của đất
nước ta. Đại hội toàn quốc lần thứ VII của Đảng đã xác định mục tiêu giáo dục đào
tạo của nước ta là “ nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, hình
thành đội ngũ lao động có tri thức và tay nghề, có năng lực thực hành, tự chủ, năng
động sáng tạo, có đạo đức cách mạng, tinh thần yêu nước, yêu chủ ngĩa xã hội” [ 33 ;
81]. Gia đình- nhà trường- xã hội có mối quan hệ khăng khít, giúp đỡ lẫn nhau trong
việc đào tạo nên thế hệ nhân tài tương lai cho đất nước.
Việc học tập lịch sử ở trường THPT cung cấp cho học sinh kiến thức cơ bản về
khoa học xã hội, giúp cho quá trình nhận thức ban đầu của các em về lịch sử dân tộc
và lịch sử thế giới. Môn lịch sử với những chức năng và nhiệm vụ của mình đã phần
nào thực hiện tốt công việc của mình trong việc cung cấp và bổ sung kiến thức, làm
hành trang vào đời cho các em.

chương trình dạy - học lịch sử ở các trường THPT.
2. Lịch sử vấn đề
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề tạo biểu tượng trong dạy học lịch sử
ở trường THPT ở các mức độ khác nhau.
Các công trình lý luận về việc tạo biểu tượng lịch sử được trình bày trong các giáo
trình phương pháp dạy học lịch sử ở bậc Đại học, Cao đẳng. Điển hình nhất là cuốn “
Phương pháp dạy học lịch sử” của GS. TS Phan Ngọc Liên ( chủ biên), PGS. TS
Trịnh Đình Tùng, PGS. TS Nguyễn Thị Côi, xuất bản năm 2002. Trong chương V “
Hình thành tri thức lịch sử cho học sinh” có phần tạo biểu tượng lịch sử. Trong phần
này, tác giả cũng đã nêu khái quát những vấn đề liên quan đến việc tạo biểu tượng
lịch sử, về khái niệm, phân loại và các biện pháp sư phạm tạo biểu tượng lịch sử. Ở
mức độ chi tiết hơn có cuốn “ Tạo biểu tượng dạy học lịch sử thời Nguyễn cho học
sinh phổ thông”( 2005) ( Trích sách lịch sử nhà Nguyễn - một cách tiếp cận mới),
NXB ĐHSP Hà Nội, .
Tạo biểu tượng lịch sử sử dụng rất nhiều tài liệu văn học liên quan đến các bài học.
Liên quan đến vấn đề này có luận văn thạc sĩ của Hồ Phi Cường ( trường ĐHSP Huế)


4

với đề tài “ Sử dụng tài liệu văn học theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh
trong dạy học lịch sư Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945” ở trường THPT ( chương
trình chuẩn). Trong luận văn của mình, tác giả đã đưa ra những tác phẩm văn học có
giá trị trong giai đoạn 1930 - 1945 để diển tả lại bối cảnh lịch sử đất nước lúc bấy giờ.
Đây cũng là một trong những biện pháp sư phạm tạo biểu tượng lịch sử nhưng chỉ là
một phần nào đó của vấn đề. Do đó, chưa thể trình bày được hết các biện pháp sư
phạm cần được sử dụng để giảng dạy lịch sử.
Cũng với đề tài này có bài viết của PGS. TS Đặng Văn Hồ với bài viết “ Tạo biểu
tượng các nhân vật lịch sử - một biện pháp sư phạm hình thành tri thức lịch sử cho
học sinh” , đăng trên tạp chí lịch sử Đảng, số 5 ( 2007) . Bài viết cũng đã nêu bật


phù hợp, giúp học sinh hiểu đúng bản chất của các sự kiện, hiện tượng lịch sử đã xảy
ra thời cận đại, nâng cao chất lượng dạy và học lịch sử ở trường THPT.
d.

Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu chương trình lịch sử lớp 10 ở trường THPT để xác định mức độ, dung
lượng các sự kiện, hiện tượng lịch sử trong các cuộc cách mạng tư sản để vận dụng
vào việc giảng dạy.
- Tiến hành điều tra cơ bản về việc giảng dạy lịch sử thế giới cận đại ở các trường
THPT hiện nay.
- Tìm hiểu cơ sở lý luận về việc tạo biểu tượng lịch sử và ý nghĩa của nó.
- Lựa chọn và góp thêm những hình thức, biện pháp phù hợp trong việc giảng dạy
các cuộc cách mạng tư sản thời cận đại.
- Tiến hành thực nghiệm giáo dục để kiểm tra, đánh giá tính khả thi của đề tài.
4.

Phương pháp nghiên cứu
Cơ sở phương pháp luận của đề tài là lý luận chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng

Hồ Chí Minh về giáo dục nói chung và dạy học lịch sử nói riêng là những nguyên tắc
pháp lý của lý luận dạy học hiện đại.
Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Nghiên cứu tài liệu: chúng tôi tìm hiểu các công trình nghiên cứu về lý luận dạy
học hiện đại của thế giới, tham khảo các công trình của tâm lý học và giáo dục học có
liên quan. Nghiên cứu các tài liệu lịch sử viết về các sự kiện, hiện tượng lịch sử, các
nhân vật, các tác phẩm văn học, các báo, tạp chí… có liên quan để tiến hành đề tài.
- Điều tra cơ bản: tiến hành điều tra tình hình giảng dạy của giáo viên và mức độ
nhận thức của học sinh về các sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử. Tất cả được điều


PHẦN NỘI DUNG
Chương 1 : Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc tạo biểu tượng lịch sử để giảng dạy
các cuộc cách mạng tư sản thời cận đại ( lớp 10 – chương trình chuẩn) trên địa
bàn TP Đà Nẵng
1.1.

Cơ sở lí luận

1.1.1. Khái niệm biểu tượng, biểu tượng lịch sử
1.1.1.1.

Biểu tượng

Khái niệm biểu tượng là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội
khác nhau.
Theo từ điển Tiếng Việt (GS Hoàng Phê, chủ biên ) “biểu tượng là hình ảnh
tượng trưng, hình ảnh của nhận thức, cao hơn cảm giác, cho ta hình ảnh của sự vật
còn giữ lại trong đầu óc khi tác dụng của sự vật vào giác quan đã chấm dứt ”.
Theo từ điển tâm lí học “ Biểu tượng là hình ảnh của các vật thể, cảnh tượng và
sự kiện xuất hiện trên cơ sở nhớ lại hay tưởng tượng. Khác với tri giác, biểu tượng có
thể mang tính khái quát. Nếu tri giác chỉ mang tính hiện tại, thì biểu tượng liên quan
đến quá khứ và tương lai”.
Theo tâm lí học “ biểu tượng chính là những hình ảnh của các sự vật, hiện tượng
của thế giới xung quanh ta được giữ lại trong ý thức và hình thành trên cơ sở tri giác,
cảm giác xảy ra trước đó” [ 27;180].
Trong quá trình tri giác thế giới khách quan con người phản ánh sự vật, hiện
tượng xung quanh mình dưới dạng các hình ảnh và sự phản ánh đó mang tính trực
quan. Các hình ảnh mang tính trực quan đó luôn tác động lên các cơ quan thụ cảm
khác nhau của hệ thần kinh con người và được duy trì một khoảng thời gian nhất định

kiện, hiện tượng lịch sử mà việc hình thành nên những biểu tượng lịch sử phải dựa
trên những hiện tượng, sự kiện lịch sử mà con người đã được nhận thức từ trước để
nhằm tái tạo lại một cách chính xác và sinh động.
Để giúp học sinh nhận thức đúng lịch sử thì giáo viên cần phải tạo biểu tượng lịch
sử, bởi việc học tập lịch sử cũng tuân thủ theo quy luật chung của quá trình nhận thức
là đi từ nhận thức cảm tính lên nhận thức lí tính. Học sinh nhận thức thông qua việc
tạo nên hình ảnh về quá khứ bằng các hoạt động của giác quan: thị giác tạo nên những
hình ảnh trực quan, thính giác đem lại hình ảnh của quá khứ thông qua lời giảng của
giáo viên, từ đó giúp học sinh hình thành được biểu tượng thông qua những thông tin
mà giáo viên đưa ra. Như vậy, biểu tượng lịch sử là “ hình ảnh về những sự kiện,


9

nhân vật lịch sử, điều kiện địa lý .v..v. được phản ánh trong óc học sinh với những nét
chung nhất, điển hình nhất” [ 19;189 ].
Tuy nhiên, cần nhớ rằng biểu tượng lịch sử không chỉ gồm những biểu hiện bên
ngoài vô cùng đa dạng của hiện thực mà còn bao gồm những dấu hiệu của sự vật, hiện
tượng được phơi bày ra. Vì “biểu tượng không chỉ dừng lại ở việc miêu tả bên ngoài
mà còn đi sâu vào bản chất sự kiện” [ 19;52 ].
Việc tạo biểu tượng cho học sinh là một vấn đề khó khăn vì “ yêu cầu cơ bản của
dạy học lịch sử là phải tái tạo lại những hình ảnh về các sự kiện đúng như nó tồn tại,
mà những sự kiện đó học sinh không được trực tiếp quan sát, x a lạ với đời sống hiện
nay, với kinh nghiệm và hiểu biết của các em” [ 2;189 ]. Chính vì vậy, vai trò của
người giáo viên là vô cùng quan trọng “ giáo viên phải làm cho các sự kiện lịch sử
xích lại gần với khả năng hiểu biết của các em” .
Cũng như biểu tượng nói chung, biểu tượng lịch sử tái hiện những đặc trưng cơ
bản nhất của sự kiện, hiện tượng lịch sử. Biểu tượng lịch sử rất gần với khái niệm sơ
đẳng, chính là cơ sở để hình thành khái niệm cho học sinh.
1.1.2. Ý nghĩa, vai trò của việc tạo biểu tượng trong dạy học lịch sử

thịnh và suy vong của các quốc gia. Các loại sự kiện này không đối lập nhau mà có
mối liên hệ, quan hệ chặt chẽ, giúp học sinh thấy được sự phong phú và đa dạng của
lịch sử xã hội, phát triển hợp quy luật. Ví dụ khi dạy bài “ Cách mạng tư sản Pháp
cuối thế kỉ XVIII” với sự kiện tấn công ngục Bax-ti ngày 14 – 7 – 1789. Sự kiện này
phản ánh những vấn đề chủ yếu của lịch sử, về những mối quan hệ, những mâu thuẫn
giữa các giai cấp trong xã hội Pháp trước cách mạng.
Cách mạng thành công đóng góp vai trò to lớn là quần chúng nhân dân, trong đó
người lãnh đạo đóng vai trò rất quan trọng. Từ các sự kiện lịch sử, giáo viên tạo biểu
tượng cho học sinh về các nhân vật lịch sử. Biểu tượng nhân vật lịch sử đúng đắn tức
là những biểu tượng phản ánh về nhân vật lịch sử - những cá nhân biểu tượng cho một
giai cấp hay một tầng lớp trong xã hội. Mỗi nhân vật lịch sử đại diện cho một giai
nhất định, ý chí và nguyện vọng của nhân vật đó đại diện cho cuộc đấu tranh giai cấp
mà họ đại diện. Ví dụ khi dạy bài “Thống nhất nước Đức”, giáo viên cần tạo biểu
tượng ngắn gọn về Bix-mac “ Đó là một con người độc đoán với bản tính cương
quyết, lại thông minh và xảo quyệt, là một nhà chính trị rất khôn khéo. Y là địa chủ


11

quý tộc người Phổ thuộc phái quân chủ chuyên chế, rất căm ghét giai cấp công
nhân”…Qua những biểu tượng về nhân vật Bix-mac, chúng ta có thể thấy rằng tuy là
một giai cấp đi ngược lại lợi ích của công nhân nhưng Bix-mac là một đại diện điển
hình của quý tộc địa chủ, người đã thực hiện thống nhất nước Đức từ trên xuống bằng
“sắt và máu”.
Việc giảng dạy các nhân vật lịch sử cho phép học sinh hiểu rõ hơn một số vấn đề
cơ bản của lịch sử dân tộc cũng như lịch sư thế giới. Nó phản ánh trình độ nhất định
lịch sử của một dân tộc, có tác dụng cụ thể hóa một số sự kiện lịch sử giúp cho ta có
cái nhìn khái quát về tình hình xã hội, trình độ phát triển của xã hội mà nhân vật đó
sinh sống.
Cùng với việc tạo tạo biểu tượng về sự kiện và nhân vật lịch sử, giáo viên còn

[ 27 ; 5]. Sử học có ưu thế trong việc giáo dục tư tưởng, tình cảm đạo đức cho học
sinh thông qua những sự kiện, những sự kiện, những câu chuyện quá khứ.
“ Chúng ta bắt gặp trong lịch sử những câu chuyện bi thảm, những tình thế bất
ngờ, những số phận khác thường, ở đây trước mắt chúng ta hiện lên những con người
có những ước mơ, lo âu, những sự thành đạt và cả những tổn thất, bi kịch nữa. Ở đây
tất cả đều sẽ làm rung động tình cảm của con người” [ 32 ; 151]. Khả năng giáo dục
tình cảm của sử học nói chung và tạo biểu tượng lịch sử nói riêng đều bắt nguồn từ
một sự thật là trong khoa học lịch sử có những đặc trưng riêng biệt của việc giáo dục
tình cảm, đạo đức do nội dung của khoa học lịch sử và nội dung của việc giảng dạy ở
tường phổ thông quy định. Tạo biểu tượng lịch sử sẽ khơi dậy trong lòng học sinh
lòng trắc ẩn với những sự việc được nghe, được thấy. Khác với tôn giáo, đề ra phương
châm “ tin rồi biết”, chúng ta giáo dục thế hệ trẻ “ biết để tin”. Vì vậy tri thức lịch sử
kết hợp với tri thức của nhiều môn khoa học khác giúp học sinh có thể cảm nhận được
hết những nỗi cơ cực của con người dưới chế độ phong kiến thối nát.
Ví dụ, giáo viên có thể cho học xem bức tranh thân phận người nông dân Pháp
trước cách mạng. Hình ảnh người nông dân già nua, khắc khổ phải còng lưng cho bọn
lãnh chúa và giáo hội đè đầu cưỡi cổ với những bước đi xiêu vẹo cùng chiếc gậy
chống. Trong khi đó, bọn chúng thì cười vui vẻ, sung sướng trên sức lực của người
nông dân. Chính điều này cho học sinh thấy được thân phận bần cùng của người nông
dân dưới 2 tầng áp bức bóc lột của địa chủ và giáo hội…hình thành cho học sinh niềm


13

thương cảm với người nông dân và càng thêm thù ghét bọn quý tộc phong kiến chỉ
biết kiếm sống trên mồ hôi, nước mắt của người khác.
Tạo biểu tượng lịch sử không chỉ dạy cho học sinh tinh thần yêu nước, tự hào dân
tộc mà còn “ hình thành phẩm chất đạo đức, chính trị cho học sinh” và “ để cho các
em có những phẩm chất nhất định” . Các em sẽ học tập trước tiên ở các nhân vật lịch
sử những tấm gương anh hùng, nhũng con người đấu tranh cho độc lập của đất nước.

Qua đó, nhờ vào chức năng giáo dục mà việc giảng dạy lịch sử trở nên sinh động, đầy
đủ và có sức thuyết phục cao hơn.
1.1.2.3. Về mặt phát triển
Lịch sử với nhiều sự kiện xảy ra, đó là điều không dễ dàng cho học sinh khi học
lịch sử vì đó là những sự đã xảy ra trong quá khứ. Nhưng học lịch sử không phải là
việc học thuộc, ghi nhớ các sự kiện một cách máy móc mà phải hiểu và biết xâu chuỗi
các sự việc. Đó chính là chức năng phát triển của bộ môn, phát triển năng lực nhận
thức và hành động thực tiễn của học sinh.
Phát triển năng lực nhận thức của học sinh bao gồm nhiều yếu tố, trong đó quan
trọng nhất là phát triển tư duy. Engghen đã từng nói “ Lịch sử bắt đầu từ đâu thì tư
duy cũng bắt đầu từ đó”. Việc tạo biểu tượng lịch sử cho học sinh là yếu tố kích thích
khả năng tư duy của các em phát triển.
Tạo biểu tượng lịch sử góp phần bồi dưỡng quan điểm lịch sử cho học sinh. Quan
điểm lịch sử thể hiện ở chỗ : học sinh nhận thức được sự kiện nào cũng phải nhận
thức nó trong quá trình phát sinh, phát triển và kết thúc. Khi tạo biểu tượng lịch sử,
giáo viên cần phải đặc biệt chú ý tới những biểu tượng quan trọng, nổi bật nhất là
hoàn cảnh địa lí và nhân vật lịch sử. Nhân vật lịch sử bao giờ cũng được đặt trong
hoàn cảnh cụ thể gắn liền với những sự kiện cụ thể. Do đó khi nhận thức lịch sử, học
sinh không nói một cách chung chung mà hiểu rõ được quan điểm “chân lí bao giờ
cũng cụ thể”.[9; 364]
Khi giảng dạy một bài học lịch sử, giáo viên phải cung cấp đầy đủ cho học sinh
những tài liệu cần thiết. Về sự kiện lịch sử cần phải nêu rõ thời gian, không gian diễn
ra sự kiện, nguyên nhân, diễn biến, lãnh đạo, kết quả và ý nghĩa của sự kiện đó. Qua
đó bồi dưỡng cho các em khả năng nhận thức và đánh giá vai trò của các nhân vật,
bản chất sự kiện, xem xét sự kiện trong mối quan hệ nhiều mặt với các yếu tố xã hội.


15

Nhận thức đúng bản chất của sự kiện, nhân vật lịch sử, học sinh sẽ đi đến bước phát

16

của người giáo viên là hết sức quan trọng. Việc dạy học lịch sử cho học sinh phải có
tính nghệ thuật, nó thể hiện ở mục tiêu giáo dưỡng, giáo dục và phát triển. Thực hiện
tốt các chức năng này người giáo viên sẽ rèn luyện cho học sinh trở thành những con
người có tư duy độc lập, chủ động, tích cực trong suy nghĩ và hành động .
1.1.2. Các loại biểu tượng được sử dụng trong việc giảng dạy các cuộc cách
mạng tư sản (lớp 10 – chương trình chuẩn) ở trường THPT
Có nhiều cách phân loại biểu tượng lịch sử để giảng dạy. Theo PGS. TS Trịnh
Đình Tùng thì biểu tượng lịch sử được phân thành 4 nhóm sau: biểu tượng về hoàn
cảnh địa lý, biểu tượng về nền văn hóa vật chất, biểu tượng về nhân vật chính diện
cũng như phản diện, biểu tượng về thời gian, về những quan hệ xã hội của con người.
Trong cuốn “ Phương pháp dạy học lịch sử” của Phan Ngọc Liên ( chủ biên) và Trần
Văn Trị, GS Phan Ngọc Liên cũng phân chia biểu tượng thành 4 nhóm tương tự. Theo
chúng tôi, đối với các cuộc cách mạng tư sản thời cận đại ( lớp 10 – chương trình
chuẩn), do nội dung trong các bài chỉ đề cập chủ yếu đến sự kiện và nhân vật lịch sử,
không có yếu tố của nền văn hóa vật chất nên các loại biểu tượng được phân ra thành
3 nhóm: biểu tượng về hoàn cảnh địa lí, biểu tượng về nhân vật lịch sử, biểu tượng về
thời gian và các quan hệ xã hội của con người. Cụ thể:
Thứ nhất: biểu tượng về hoàn cảnh địa lí: thời điểm và địa điểm xảy ra sự kiện
Một sự kiện lịch sử bao giờ cũng diễn ra trong một không gian nhất định. Không
gian của sự kiện có thể là một khu vực rộng lớn, hoặc diễn ra trong phạm vi hẹp như
địa điểm của một trận đánh hay một cuộc khởi nghĩa. Vì vậy, tạo biểu tượng về hoàn
cảnh địa lý là yêu cầu bắt buộc trong dạy học lịch sử để xác định chính xác không
gian diễn ra sự kiện lịch sử. Nếu như học sinh không có những hình ảnh về hoàn cảnh
địa lý nơi xảy ra sự kiện lịch sử thì những những hiểu biết về sự kiện lịch sử đó trở
nên mơ hồ và không thể khắc sâu trong đầu óc học sinh, việc tạo biểu tượng sẽ không
thành công.
Các cuộc cách mạng tư sản trong chương trình lớp 10 địa điểm xảy ra sự kiện chủ
yếu là trong phạm vi đất nước dưới hình thức nội chiến, thống nhất đất nước hoặc

này giúp học sinh cụ thể hóa được sự kiện lịch sử, từ đó hiểu bản chất của sự kiện.
Thông qua những việc làm của nhóm nhân vật này, học sinh có thể nhận biết được


18

tiến trình phát triển đi lên của cách mạng các nước hoặc và đánh giá được vai trò của
các nhân vật này đối với giai đoạn lịch sử của đất nước đó, nắm được bản chất giai
cấp mà nhân vật đó đại diện.
Ví dụ khi tạo biểu tượng về nhân vật Lin-côn, giáo viên cần cho học sinh biết rằng
ông được mệnh danh là “Người giải phóng vĩ đại” và là một tấm gương sáng trong
việc vươn lên vượt qua mọi hoàn cảnh khó khăn. Những việc làm của ông về việc bãi
bỏ chế độ nô lệ, cấp đất cho những người di cư có ý nghĩa hết sức to lớn trong việc
giải phóng con người và tạo cho họ một cuộc sống có tương lai hơn. Chính việc tạo
biểu tượng về Lin- côn cho học sinh thấy được một tấm lòng nhân ái của vị tổng
thống Mĩ tính tình trung thực, tài hùng biện, tinh thần bình đẳng màu da, và thành quả
tránh được sự phân hóa quốc gia. Chính điều này sẽ cho học sinh một bài học có ý
nghĩa thấy được rằng mỗi nghịch cảnh là một thử thách để ông vươn lên, mỗi lần thất
bại là một cơ hội học hỏi để thành công sau đó.
-

Nhân vật phản diện đi ngược lại lợi ích nhân dân: Sác-lơ I, Lui XVI
Cùng với nhân vật chính diện thì nhân vật phản diện cũng là một đại diện tiêu

biểu cho một giai đoạn phát triển đi lên của các cuộc cách mạng tư sản. Nhóm nhân
vật này chính là nhân tố làm trị trệ sự phát triển của lịch sử. Tạo biểu tượng về tuyến
nhân vật phản diện trong các cuộc cách mạng tư sản thời cận đại giúp học sinh biết
được bộ mặt thật của chế độ phong kiến, một chế độ thối nát kìm hãm sự phát triển
của con người, đẩy con người xuống vực sâu của xã hội.
Ví dụ khi giảng về cách mạng tư sản Anh, giáo viên có thể tạo biểu tượng về vua

là loại biểu tượng trừu tượng nhất. Vì đây là những vấn đề khá phức tạp và có phần
trừu tượng của khoa học lịch sử. Muốn có được biểu tượng về nó thì học sinh phải có
khả năng tư duy cao và nhiệm vụ của người giáo viên là tạo điều kiện tối đa cho quá
trình tư duy của học sinh. Nếu làm tốt, chúng ta sẽ tạo cho học sinh biểu tượng cụ thể
về đời sống con người, về mối quan hệ giai cấp, về những mâu thuẫn trong xã
hội…qua các thời đại khác nhau. Để tạo biểu tượng về các mối quan hệ xã hội thành
công thì giáo viên có thể sử dụng biện pháp sử dụng số liệu lịch sử cụ thể. Ví dụ khi
dạy bài “ Cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỉ XVIII” giáo viên có thể sử dụng số liệu
của đạo luật hạn chế bầu cử của phái Lập hiến nhằm đề phòng quần chúng nhân dân
tham gia chính trị “ Dựa theo đạo luật này, nam giới trong cả nước được chia thành
công dân tích cực và công dân tiêu cực, chỉ có công dân tích cực mới được tham gia


20

bầu cử và tham gia quân đội quốc gia. Kết quả điều tra được công bố vào ngày 18 – 5
– 1791, trong số 260.000.000 nhân dân trong toàn quốc, công dân tích cực chỉ có
4.298.000 người. Trong số những người đàn ông đúng tuổi chỉ có 3.000.000 người có
đủ tư cách trên”[34 ;263]. Với những con số trên đây chúng ta có thể thấy được rằng
dưới sự thống trị của phái Lập hiến, số lượng người dân được tham gia chính trị là rất
ít ỏi, chỉ chiếm 1,65% dân số. Đó chính là những thủ đoạn của họ nhằm ngăn cản sự
nổi dậy của quần chúng nhân dân.
Trong các cuộc cách mạng hầu hết nguyên nhân dẫn đến cách mạng giống nhau,
đều bắt nguồn từ mâu thuẫn giữa phương thức sản xuất cũ và mới, cụ thể là giữa chế
độ TBCN đang lên và chế độ phong kiến lạc hậu. Ngoài ra ở một số nước còn có mâu
thuẫn dân tộc với các dân tộc ngoại bang thống trị. Ngoài mâu thuẫn dân tộc thì còn
một mâu thuẫn nổi bật là mâu thuẫn giai cấp, giữa các giai cấp trong xã hội có quyền
lợi khác nhau…Chính những mâu thuẫn đó dẫn đến bùng nổ các cuộc cách mạng tư
sản.
1.2. Cơ sở thực tiễn

- Tìm hiểu xem giáo viên đã sử dụng phương pháp nào trong việc tạo biểu tượng
để giảng dạy các cuộc cách mạng tư sản thời cận đại.
- Thăm dò ý kiến của giáo viên về nguyên nhân tại sao học sinh ít nhớ về các biểu
tượng lịch sử thời cận đại.
- Tìm hiểu đề xuất của giáo viên về việc tạo biểu tượng để giảng dạy các cuộc
cách mạng tư sản thời cận đại nhằm nâng cao hiệu quả đối với việc dạy và học lịch sử
thế giới cận đại.
Thông qua việc xử lí và tổng hợp các phiếu điều tra thu được, chúng tôi nhận
thầy rằng : các thầy (cô) đều cho rằng việc tạo biểu tượng để giảng dạy các cuộc cách
mạng tư sản rất cần thiết có ý nghĩa rất quan trọng giúp học sinh tái tạo hình ảnh của
những sự kiện lịch sử xảy ra trên tất cả các lĩnh vực, đời sống vật chất, đời sống xã
hội – chính trị…Tạo nên sự nhận thức cụ thể về thời gian diễn ra các sự kiện lịch sử,
sự phát triển đi lên của xã hội loài người. Các thầy (cô) muốn tạo biểu tượng lịch sử,
đặc biệt là biểu tượng về nhân vật, sự kiện lịch sử nhưng do những điều kiện khách
quan cũng như chủ quan mà việc tạo biểu tượng lịch sử chưa đạt được kết quả cao.
Theo thầy (cô), việc tạo biểu tượng lịch sử hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu vì
còn thiếu tranh ảnh, thiếu nguồn tài liệu. Hơn nữa, thời gian trên lớp quá ít, kiến thức


22

lịch sử quá nhiều cũng là một yếu tố làm hạn chế trong việc truyền đạt kiến thức cho
học sinh.
Sở dĩ có tình trạng này là do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, nhưng
một vấn đề đáng nói nhất chính là do quan điểm xã hội, chưa đánh giá đúng vai trò
của bộ môn lịch sử. Lịch sử chỉ được xem như là một môn phụ nên chưa được chú
trọng nhiều trong học tập cũng như trong việc đầu tư giảng dạy. Chính những quan
điểm sai lầm đó đã dẫn tới tình trạng giảm sút chất lượng học sử như hiện nay.
Chương 2. Hệ thống các loại biểu tượng được sử dụng trong giảng dạy các cuộc
cách mạng tư sản thời cận đại ( lớp 10 – chương trình chuẩn )

Như vậy, cho đến trước cách mạng tháng Mười Nga, cả thế giới đã vận hành ở
những tầng cấp khác nhau, vị thế khác nhau trong vòng quay của những quy luật tư
bản chủ nghĩa.
Nội dung của các cuộc cách mạng tư sản thời cận đại chương trình lớp 10 đề cập
đến sự phát triển của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa thời hậu kì trung đại dẫn đến bước
chuyển từ chế độ phong kiến sang chế độ tư bản chủ nghĩa. Các cuộc cách mạng nói
đến những mâu thuẫn gay gắt trong lòng chế độ phong kiến đang trên đường suy vong
và khủng khoảng. Những cuộc cách mạng còn nên lên vai trò to lớn của nhân dân,
động lực chủ yếu đưa cách mạng đi đến thắng lợi.
Lịch sử thời cận đại trong chương trình lớp 10, gồm 3 chương, chương I: Các cuộc
cách mạng tư sản ( từ giữa thế kỉ XVI đến nửa cuối thế kỉ XVIII), chương II: Các
nước Âu – Mĩ ( từ đầu thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX), chương III: Phong trào công
nhân ( từ đầu thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX), gồm tất cả 12 bài từ bài 29 “ Cách mạng
Hà Lan và cách mạng Anh” đến bài 40 “ Lê-nin và phong trào công nhân Nga đầu thế
kỉ XX”, tất cả có 15 tiết và 1 tiết kiểm tra 45’ ( không nằm trong phần các cuộc cách
mạng tư sản). Trong phần các cuộc cách mạng tư sản thời cận đại gồm 4 bài, bài 29,
30, 31 và 33, được phân phối trong 6 tiết học, tiết 37, 38, 39,40, 42 và 43. Trong đó
cách mạng tư sản Pháp được phân phối trong 2 tiết học ( tiết 39, 40) và bài Hoàn
thành cách mạng tư sản ở châu Âu và Bắc Mĩ giữa thế kỉ XIX cũng được phân phối
trong 2 tiết học (tiết 42 và 43) , còn lại các bài khác đều được phân phối trong một tiết
học. Với bài 39 và 43 thì điều này là hợp lí so với phần nội dung của 2 bài. Nhưng với
bài “Chiến tranh giành độc lập của các thuộc địa Anh ở Bắc Mĩ” và bài “Cách mạng


24

Hà Lan và cách mạng tư sản Anh” đây là 2 bài với nhiều kiến thức nhưng lại phân
phối trong một tiết học là hơi ít, giáo viên bị hạn chế về thời gian nên khó có thể tạo
đầy đủ các biểu tượng có trong bài học.
Như vậy, theo chúng tôi với khối lượng kiến thức có trong mỗi cuộc cách mạng tư

- Tháng 4 – 1572 quân khởi nghĩa làm chủ các tỉnh
phía Bắc
- Tháng 1 – 1579 đại biểu các tỉnh miền Bắc họp
hội nghị ở U-trếch, tuyên bố thống nhất tiền tệ, đo
lường...
- Tháng 7 – 1581 nước cộng hòa Hà Lan được thành
lập.


25

- Biểu tượng về - Vua philipII là vị vua hùng mạnh và giàu có nhất
nhân vật lịch sử

châu Âu vào nữa cuối thế kỉ XVI. Đế quốc của ông
gồm một phần nước Ý, Thụy Sĩ và trải dài khắp
Trung – Nam Mĩ.
Khi chiến tranh tôn giáo đang tàn phá ở châu âu,
Philip II là một tín đồ của Thiên chúa Cơ đốc. Ông
đã khiến thần dân tham gia vào nhiều cuộc chiến
nhưng hiếm khi ông để mục đích tôn giáo xen vào
các mục đích khác. Triều đại của ông là cái được
gọi là thời “kì vàng của Tây Ban Nha”. Tuy thế,
Philip II đã tiêu tốn quá nhiều của cải vào chiến
tranh nên đến khi ông qua đời thì kỉ nguyên quyền
lực và thịnh vượng của Tây Ban Nha cũng chấm
dứt.
- Khi cách mạng tư sản Hà Lan nổ ra và thắng lợi,
Philip II bị phế truất ngôi.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status