THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỔ CHUYÊN MÔN Ở
TRƯỜNG TIỂU HỌC LÊ HỒNG PHONG QUẬN KIẾN AN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG THEO YÊU CẦU CHƯƠNG TRÌNH
GIÁO DỤC PHỔ THÔNG TỔNG THỂ
- Khái quát về tình hình kinh tế, văn hoá, xã hội và giáo dục
của quận Kiến An, thành phố Hải Phòng.
- Tình hình kinh tế, văn hoá, xã hội quận Kiến An, thành phố
Hải Phòng
Hải Phòng là một thành phố lớn trực thuộc Trung ương.
Thành phố luôn được Trung ương quan tâm đầu tư, nhất là từ khi
Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 32-NQ/TW về xây dựng thành phố
Hải Phòng trở thành thành phố loại I cấp Quốc gia thì nhiều lĩnh
vực có chuyển biến hiệu quả, thành phố đang nỗ lực phấn đấu
xứng đáng là cực tăng trưởng quan trọng của vùng kinh tế trọng
điểm phía Bắc và vùng đồng bằng sông Hồng. Trong đó có quận
Kiến An là một trong 13 quận, huyện của thành phố Hải Phòng.
Được thành lập từ năm 1994; với diện tích tự nhiên 29,6
km2; dân số 11 vạn người, phân bố trên 10 phường trong quận,
người dân Kiến An có tinh thần cách mạng cao. Trải qua 20 năm
thực hiện công cuộc đổi mới, quận Kiến An đã đạt được nhiều
thành tích khá toàn diện về chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội,
quốc phòng - an ninh và tích luỹ được nhiều kinh nghiệm quý.
- Tình hình Giáo dục & Đào tạo quận Kiến An, thành phố Hải
Phòng
Hiện nay toàn quận đã có 7 trường đạt chuẩn quốc gia, 138
phòng học đạt chuẩn, 9 trường đẹp. 100% các trường phổ thông
trên địa bàn quận đã được nối mạng Intenet. Các trường đều khai
hình
Số lớp Số HS Số lớp Số HS Số lớp Số HS
Tiểu học
239
8877
251
9284
263
9800
- Khái quát về trường TH Lê Hồng Phong, quận Kiến An,
thành phố Hải Phòng
- Quy mô, số lượng lớp, học sinh
Trong những năm gần đây, quy mô số lớp, số HS của nhà
trường phát triển nhanh, số lượng lớp tăng từ 30 đến 34 lớp, số
HS tăng từ 1127 em đến 1345 em.
- Số lớp, số học sinh của nhà trường từ năm 2014 đến năm
2017
Toàn
trường
Khối 1 Khối 2
34 129 07 270 07 65 07 54 07 83 06 25
2017
7
Năm học 2017 -2018 nhà trường có tổng số 80 cán bộ, giáo
viên, nhân viên trong đó có 3 CBQL, 67 giáo viên, 10 nhân viên.
Nhà trường có 6 TCM được biên chế theo khối lớp và 01 tổ văn
phòng.
- Cơ cấu, trình độ đào tạo của CBQL, GV năm học 2017 -2018
Trình độ
Trình độ CM
Tổng
số
chính trị
Đản
Nữ g
viên
Độ tuổi
Đạt
chuẩ ĐH
n
C Trun Sơ
0
TTCM
6
5
6
0
5
1
2
4
3
3
1
GV
61
30
34
6
Từ số liệu thống kê cơ cấu trình độ của CB, GV ở bảng 2.3
ta thấy:
Số lượng CBQL, GV của trưởng đảm bảo theo quy định của
Bộ GD&ĐT, đáp ứng yêu cầu và sự phát triển về quy mô số lượng
của nhà trường. GV được biên chế đủ số lượng và theo tỉ lệ 1,4
GV/lớp. Các TTCM 100% là đảng viên, có trình độ trên chuẩn,
từng là GV dạy giỏi cấp trường, cấp quận, cấp thành phố nhiều
năm liền. Phần lớn TTCM có trình độ chính trị từ Sơ cấp trở lên.
Đội ngũ GV trường TH Lê Hồng Phong đến nay 100% đạt chuẩn,
tỉ lệ CBQL, GV có trình độ trên chuẩn (ĐH,CĐ) khá cao, 100%
CBQL đã qua đào tạo lý luận chính trị. Đây là điều kiện rất thuận
lợi cho công tác chỉ đạo hoạt động CM của nhà trường. Số lượng
GV trẻ dưới 40 tuổi, chiếm tỷ lệ tương đối cao (42,8 %). Số GV
này được đào tạo cơ bản, nhiệt tình, năng động có điều kiện tiếp
cận CNTT tốt. Tuy nhiên lực lượng GV trẻ cũng có những hạn chế
nhất định. Bên cạnh đó, số lượng GV có độ tuổi từ 40-45 tuổi
chiếm 48,5% có kinh nghiệm giảng dạy, có độ chín về mọi mặt.
- Cơ sở vật chất phục vụ dạy học
CSVC của nhà trường được quan tâm đầu tư xây dựng theo
hướng chuẩn, hiện đại. Trường có 31 phòng học trong đó có 20
lớp bán trú và 14 lớp học 1 buổi/ ngày theo khoản 4 Điều 45 Điều
lệ trường Tiểu học. Trường có đầy đủ các phòng hành chính,
Năm học
2014 –
Tổng
số HS
Hoàn
Hoàn
Chưa hoàn
thành tốt
thành
thành
1134
992
8
2015
2015 –
1217
- CBQL và các tổ trưởng CM của trường TH Lê Hồng
Phong: 9 người
- Giáo viên của nhà trường: 41 người
- Nội dung và cách thức khảo sát
Nội dung khảo sát, điều tra tập trung vào các vấn đề sau:
- Nhận thức về mức độ cần thiết của các nội dung quản lý
TCM của HT nhà trường.
- Thực trạng mức độ thực hiện các nội dung quản lý đối với
TCM của HT nhà trường.
Khảo sát nhận thức về mức độ cần thiết của các nội dung
quản lý TCM tác giả sử dụng phiếu đánh giá có 3 mức độ tính
điểm theo mỗi mức độ:
Rất quan trọng:
3 điểm
Quan trọng:
2 điểm
Không quan trọng: 1 điểm
Khảo sát thực trạng mức độ thực hiện các nội dung quản lý
TCM, tác giả sử dụng phiếu đánh giá có 3 mức độ và tính điểm
theo mỗi mức độ:
Rất quan trọng:
3 điểm
HĐCM trong mỗi nhà trường được thể hiện ở 3 mặt sau
đây: Hoạt động dạy học (trọng tâm là đổi mới PPDH); hoạt động
bồi dưỡng HS có năng khiếu, phụ đạo HS chưa hoàn thành nhiệm
vụ học tập; hoạt động tự học, tự bồi dưỡng, nghiên cứu khoa học,
viết SKKN, làm đồ dùng dạy học. Ở trường Tiểu học Lê Hồng
Phong, đây cũng là các hoạt động được lãnh đạo nhà trường quan
tâm chỉ đạo và các TCM đã triển khai thực hiện tương đối tốt.
- Hoạt động đổi mới phương pháp dạy học, hoạt động kiểm tra
đánh giá
Qua điều tra nghiên cứu cho thấy, trong 5 năm qua, đặc biệt
3 năm học gần đây, chất lượng học sinh ở trường TH Lê Hồng
Phong quận Kiến An tăng nhanh. Chất lượng đó chứng minh sự
nỗ lực vươn lên không ngừng của nhà trường. Sự nỗ lực đó của
nhà trường chính là hội tụ của nhiều yếu tố cấu thành như: Việc
QL chỉ đạo của Ban giám hiệu nhà trường, tinh thần quyết tâm
hoàn thành nhiệm vụ củathầy và trò nhà trường cùng việc hỗ trợ
của các lực lượng xã hội. Nhưng cốt lõi vẫn là việc QL chỉ đạo
hoạt động TCM trong nhà trường.
Ngành Giáo dục Kiến An đã đặc biệt quan tâm đến việc chỉ
đạo đổi mới PPDH trong các nhà trường, trong đó có trường TH
Lê Hồng Phong. Phong trào dự giờ thăm lớp, lên lớp mẫu để rút
kinh nghiệm trong tổ hàng tuần hàng tháng, việc thi GV dạy giỏi
các cấp, tổ chức Hội giảng, viết SKKN, làm đồ dùng dạy học đã
trở thành hoạt động thường xuyên, diễn ra sôi nổi, đều khắp trong
các TCM. Chính nhờ HĐCM đó mà số GV dạy giỏi các cấp trong
trường TH tăng lên đáng kể. Trường TH Lê Hồng Phong đã vươn
lên trở thành trường tiên tiến xuất sắc, đứng thứ 2 của quận.
- Thống kê kết quả xếp loại về số giáo viên giỏi các cấp của
20
20
8
2016 -2017
60
15
31
8
- Hoạt động bồi dưỡng HS có năng khiếu, phụ đạo HS chưa
hoàn thành các nhiệm vụ học tập
Bồi dưỡng HS có năng khiếu, phụ đạo HS chưa hoàn thành
các nhiệm vụ học tập là những HĐCM không thể thiếu trong các
nhà trường. Công tác này được tiến hành thường xuyên, liên tục
trong HĐCM của các nhà trường cả trong năm học. Nhà trường
xác định bên cạnh việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thì
chất lượng giáo dục mũi nhọn HS năng khiếu là nhiệm vụ quan
trọng để khẳng định vị thế của nhà trường. Vì vậy hằng năm nhà
trường đều có kế hoạch bồi dưỡng HS giỏi và triển khai đến từng
TCM và GV, phân công cụ thể cho từng cá nhân phụ trách bồi
dưỡng HS, lên kế hoạch bồi dưỡng, tăng cường kiểm tra, đánh giá
2
2
Năm
học
Tổn
2016-
g
2017
Nhất (Trạng nguyên
nhỏ tuổi toàn quốc,
Cấp
Việt Nam Kids Idol)
Trung Nhì (Thi Phòng chống
1
ương bệnh tật học đường)
Ba (ATGT cho nụ cười
trẻ thỏ)
Nhất (Hội thi Sơn ca)
Cấp
3
5
17
20
h phố Ba (Múa nghệ thuật,
Bơi, Kể chuyện Bác
2
Hồ)
Cấp Nhất (Hội thi Sơn ca,
Festival
Tiếng Anh,
1
2
Vẽ, Kể chuyện Bác
Hồ)
Quận
Nhì (Hội thi Sơn ca,
19
61
109
191
Festival Tiếng Anh)
Nhất (Trạng nguyên
nhỏ tuổi)
Cấp
trườn
g
Nhì (Trạng nguyên nhỏ
tuổi)
Ba (Trạng nguyên nhỏ
tuổi)
Tổng
-Hoạt động tự học, tự bồi dưỡng, nghiên cứu khoa học, viết
sáng kiến kinh nghiệm, làm đồ dùng dạy học, ứng dụng công
nghệ thông tin trong các tổ chuyên môn
Cán bộ QL cũng như GV trong các tổ khối xác định rõ: tự
học, tự bồi dưỡng, nghiên cứu khoa học, viết SKKN và làm đồ
dùng dạy học là giải pháp chủ yếu để nâng cao hiểu biết cho
người GV về vốn tri thức cũng như CM nghiệp vụ sư phạm, giúp
người GV đổi mới PPDH, nâng cao chất lượng dạy học - giáo dục
thiết thực, hiện đại do chính các GV trực tiếp giảng dạy làm ra để
phục vụ việc đổi mới PPDH. Đồng thời đây cũng là một giải pháp
hữu hiệu nhất để tạo nên một môi trường học tập với nhận thức là:
“Học tập suốt đời” cho người GV trong nhà trường, việc đổi mới
PPDH trong nhà trường đạt hiệu quả cao hơn, nhiều tiết dạy đạt loại
tốt hơn.
- Thống kê về kết quả xếp loại đề tài sáng kiến kinh nghiệm
của trường Tiểu học Lê Hồng Phong Quận Kiến An
Năm học
2015 –
2016
2016 –
2017
2017 –
Tổn
Xếp loại SKKN
Xếp loại SKKN
(Hội đồng KH Sở
(Hội đồng KH
GD & ĐT đánh
Quận Kiến An đánh
7
7
20
4
2
5
8
2018
-Thực trạng hoạt động nghiên cứu bài học ở tổ chuyên môn.
Thói quen truyền thống, ngại thay đổi của GV là một rào cản
lớn trong đổi mới PPDH, hình thức dạy học theo chương trình
(CT), sách giáo khoa (SGK). Làm thế nào để khắc phục tình
trạng này là câu hỏi được nhiều chuyên gia đặt ra nhưng trước hết
cần thay đổi nhận thức về công tác tổ chức, điều hành sinh hoạt
TCM. Đó là đổi mới hoạt động nghiên cứu bài học (NCBH)ở
TCM. Sinh hoạt chuyên môn theo NCBH là HĐCM mà người
giáo viên khi dự giờ không đánh giá, xếp loại giờ dạy như truyền
thống mà tập trung chú ý các vấn đề liên quan đến HS như cách
tiếp cận tri thức, khả năng hợp tác, kĩ năng vận dụng kiến
thức,...Từ đó, TCM cùng nhau thảo luận, chủ động điều chỉnh nội
dung, PPDH sao cho phù hợp với từng đối tượng HS tìm ra cách
Tuy mang lại hiệu quả cao nhưng việc tổ chức hoạt động học
tập TNST tổ chức các, sân chơi giao lưu phát triển trí tuệ cho học
sinhtại nhà trường lại là công việc không dễ thực hiện. Mặc dù
trong kế hoạch giáo dục cả năm học, ở mỗi bộ môn đều xây dựng
kế hoạch liên quan đến học tập trải nghiệm thực tế như tham quan
di tích lịch sử địa phương, thăm các khu công nghiệp, các địa
danh, nhà bảo tàng, tổ chức sân chơi trí tuệ như Rung chuông
vàng, giao lưu Trạng nguyên nhỏ tuổi, Festival Tiếng Anh, Giao
thông thông minh,… nhưng khi bắt tay vào thực hiện thường gặp
nhiều khó khăn. Thứ nhất là sự khó khăn về thời gian tổ chức.
Việc xây dựng kế hoạch, chương trình dạy học hiện nay thường
kín về thời lượng; nếu muốn tổ chức một hoạt động bổ trợ cho
môn học, chương trình học thì rất khó bố trí vào khoảng thời gian
giữa các tiết học, buổi học, không thể tiến hành một hoạt động
TNST trong vòng một tiết học khi phải lấy quỹ thời gian của tiết
học khác. Vì vậy, việc sắp xếp quỹ thời gian hợp lý cho hoạt động
TNST, ngoại khóa cần được nghiên cứu và phân bố hợp lý.
- Thực trạng quản lý hoạt động tổ chuyên môn của hiệu
trưởng trường tiểu học Lê Hồng Phong Quận Kiến An thành
phố Hải Phòng
- Thực trạng quản lý kế hoạch hoạt động của tổ chuyên môn
- Thực trạng quản lý kế hoạch hoạt động của TCM
Mức độ
Mức độ
Điể
g
bậ
Tốt
Kh
á
g trọn bình c
Trun g bậ
g
bin c
binh h
g
Quán triệt GV
về
kế
hoạch,
nhiệm vụ chung
hướng dẫn kĩ
năng xây dựng
kế hoạch
Chỉ đạo các tổ
chuyên
2 xây
môn
dựng
kế 35
hoạch theo kì,
tháng, tuần.
3 Trưng
cầu
ý 32
kiến thống nhất
của các thành
viên trong tổ
Duyệt kế hoạch
4 vào đầu năm 31
15
tra, đánh giá,
rút kinh nghiệm
2,65
2,62
Nhận xét: kết quả bảngcho thấy:
Nhận thức của cán bộ GV nhà trường các nội dung quản lý
kế hoạch hoạt động TCM đều được cho là rất cần thiết, được thực
hiện thường xuyên. Điều này thể hiện rõ ở điểm trung bình của
các mức độ:
Mức độ nhận thức có điểm trung bình = 2,65; Điểm trung
bình của các nội dung dao động trong khoảng 2,54 ≤ ≤ 2,76.
Mức độ thực hiện có điểm trung bình
= 2.62; Điểm trung
bình của các nội dung dao động trong khoảng 2,5 ≤ ≤ 2,74.
So sánh giữa hai mức độ ta thấy sự chênh lệch điểm trung
bình không đáng kể (0.03). Điều này chứng tỏ mức độ nhận thức
và mức độ thực hiện của các nội dung trong biện quản lý kế hoạch
của TCM là phù hợp nhau.
Nội dung thực hiện tốt nhất là “Quán triệt GV về kế hoạch,
nhiệm vụ chung của năm học, hướng dẫn kĩ năng xây dựng kế
hoạch”
= ,.74. Nội dung thực hiện mức độ thấp nhất là “Trưng
HT thống nhất với TTCM về
1 thời gian sinh hoạt TCM 129 2,58
Thứ
2 132
ngay từ đầu năm học.
bậc
2,6
5
1
HT tổ chức cho GV trong
toàn trường học tập lại quy
2
chế chuyên môn theo quy
định của Bộ Giáo dục&ĐT
112 2,24
5
113
2,2
6
2
chuyên môn về nội dung
0
sinh hoạt tổ hàng tuần.
HT thường xuyên đi dự họp
5 với các tổ chuyên môn (hoặc 124 2,48
3 103
phân công PHT đi thay)
2,0
6
6
Kiểm tra việc sinh hoạt
6
TCM
thông qua biên bản
ghi nội dung sinh hoạt của tổ
103 2,06