Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và sự vận dụng trong sự nghiệp đào tạo, sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức ở tỉnh Quảng Nam - Pdf 55

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

LÊ HỮU SƠN

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÁN BỘ
VÀ SỰ VẬN DỤNG TRONG SỰ NGHIỆP ĐÀO TẠO,
SỬ DỤNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
Ở TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ
KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Đà Nẵng - Năm 2014


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

LÊ HỮU SƠN

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÁN BỘ
VÀ SỰ VẬN DỤNG TRONG SỰ NGHIỆP ĐÀO TẠO,
SỬ DỤNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
Ở TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60.22.80

LUẬN VĂN THẠC SĨ
KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN


1.1.4. Những nhân tố chủ quan thuộc về phẩm chất cá nhân của Hồ Chí
Minh ................................................................................................................ 21
1.2. NỘI DUNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÁN BỘ ....................... 22
1.2.1. Cán bộ là cái gốc của sự nghiệp cách mạng ............................ 23
1.2.2. Cán bộ vừa là người lãnh đạo, vừa là đấy tớ của nhân dân ..... 25
1.2.3. Công tác cán bộ là trách nhiệm Đảng, Nhà nước và của cả hệ
thống chính trị ................................................................................................. 30
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1................................................................................ 34
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, SỬ DỤNG CÁN
BỘ, CÔNG CHỨC Ở TỈNH QUẢNG NAM .............................................. 36


2.1. MỘT SỐ NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, SỬ
DỤNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC Ở TỈNH QUẢNG NAM ........................... 36
2.2. CÔNG CUỘC ĐÀO TẠO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC Ở TỈNH
QUẢNG NAM GIAI ĐOẠN VỪA QUA ...................................................... 41
2.2.1. Sự nhận thức và những quan điểm định hướng công tác đào tạo
đội ngũ cán bộ công chức của tỉnh Quảng Nam trong thời gian qua.............. 41
2.2.2. Triển khai thực hiện công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ công
chức trên địa bàn tỉnh Quảng Nam ................................................................. 43
2.2.3. Những kết quả đạt được của công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ
công chức thời gian qua .................................................................................. 47
2.2.4. Một số hạn chế, bất cập và nguyên nhân.................................... 52
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2................................................................................ 56
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CÔNG TÁC ĐÀO
TẠO, SỬ DỤNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC Ở TỈNH QUẢNG
NAM ............................................................................................................... 57
3.1. ĐỊNH HƯỚNG CÔNG TÁC CÁN BỘ, CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐỘI
NGŨ CÔNG CHỨC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY........................................... 57
3.1.1. Định hướng chung của Đảng và Nhà nước Việt Nam................ 57

lực lãnh đạo của Đảng cao hay thấp, việc tổ chức mọi đường lối, chính sách
của Đảng và Nhà nước đạt hiệu quả nhiều hay ít, điều đó tuỳ thuộc rất lớn ở
số lượng và chất lượng của đội ngũ cán bộ, ở trình độ tư tưởng, chính trị và
năng lực công tác của họ. Cán bộ là cái dây truyền của bộ máy. Nếu dây
truyền không tốt, không chạy thì động cơ dù chất lượng cao, thì toàn bộ bộ
máy vẫn bị tê liệt. Cán bộ là những người đem chính sách của chính phủ, của
đoàn thể thi hành trong nhân dân, nếu cán bộ dở thì chính sách hay cũng
không thực hiện được.
Cả về lý luận và thực tiễn đều cho thấy, ở Việt Nam đội ngũ cán bộ,
công chức có vai trò rất quan trọng trong hệ thống chính trị nói chung và hệ
thống hành chính nói riêng. Nếu như nói “nhà nước” là trụ cột của hệ thống
chính trị, thì đội ngũ “công chức” là lực lượng quan trọng vận hành cỗ máy
hành chính nhà nước, giúp guồng máy hành chính hoạt động thông suốt từ
Trung ương đến địa phương. Nói cách khác, đội ngũ cán bộ, công chức được
coi như “xương sống” của chính quyền, của chế độ, có vai trò hết sức quan
trọng trong giai đoạn mở cửa, hội nhập, phát triển đất nước. Vì những lẽ trên,
công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức phải được xem như một mắt


2
khâu then chốt trong mục tiêu đột phá về nguồn nhân lực hiện nay. Trên tinh
thần đó, Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: "Tiếp tục đổi
mới mạnh mẽ, đồng bộ công tác cán bộ. Thực hiện tốt Chiến lược cán bộ thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đổi mới tư duy, cách làm, khắc
phục những yếu kém trong từng khâu của công tác cán bộ" [14, tr.261].
Quảng Nam là tỉnh mới tái lập (tách ra khỏi tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng)
năm 1997. Là một tỉnh nghèo, bị chiến tranh tàn phá nặng nề, lại chịu tác
động nhất định của những sai lầm chủ quan trong định hướng, đầu tư phát
triển thời kỳ tập trung quan liêu và những bất cập trong công cuộc tái thiết
những năm từ khi tái lập đến nay, nên sự phát triển nói chung, phát triển bền

tiễn bức thiết nói trên.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu: Góp phần làm rõ những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ
Chí Minh về cán bộ và sự vận dụng nội dung tư tưởng đó trong việc đào tạo,
sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức ở tỉnh Quảng Nam hiện nay.
Nhiệm vụ của luận văn là:
- Phân tích làm rõ nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ.
- Phân tích sự vận dụng nội dung tư tưởng đó trong quá trình đào tạo,
sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức ở tỉnh Quảng Nam thời gian qua.
- Đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả của
việc đào tạo, sử dụng cán bộ, công chức tỉnh Quảng Nam hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
Ở Việt Nam hiện nay, chung quanh khái niệm cán bộ, công chức, viên
chức (CB,CC,VC) vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau. Theo cách hiểu thông
thường, cán bộ, công chức, viên chức đôi khi được quan niệm như là những


4
khái niệm đồng nghĩa. Cán bộ, công chức hay viên chức được gọi là cán bộ
nhà nước và cũng có lúc gọi là viên chức nhà nước. Cũng theo cách hiểu đó
thì những người làm việc công, hoặc người có thẩm quyền, đảm trách một
cương vị nhất định (cao, thấp bất kỳ) không chỉ trong bộ máy nhà nước mà cả
trong các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội đều được xem là cán bộ
của Đảng (Nhà nước, Đoàn thể) hay công chức nhà nước.
Trong Pháp lệnh cán bộ, công chức của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội
ban hành năm 1998 và đã được sửa đổi, bổ sung năm 2000, 2003 cũng chưa
đưa ra được định nghĩa riêng cho từng khái niệm “cán bộ”, “công chức” và
“viên chức” và cả những người làm việc trong bộ máy chính quyền cấp xã.
Từ sự bất cập đó, “Luật Cán bộ, công chức” được Quốc hội Nước Cộng hoà

Luận văn gồm 3 chương, 6 tiết.
6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và nội dung các bộ phận hợp thành
tư tưởng của Người đã là chủ đề thu hút giới nghiên cứu trong và ngoài nước
từ lâu, đặc biệt từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: Vấn đề phát triển
nguồn nhân lực nói chung và việc đào tạo, sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức
nói riêng đã được các nhà khoa học cũng như những nhà lãnh đạo, nhà hoạch
định chính sách phát triển kinh tế - xã hội rất quan tâm.
Là vấn đề quan trọng và trung tâm của xã hội, trong những năm gần
đây, phát triển nguồn nhân lực nói chung và đào tạo, sử dụng đội ngũ cán bộ,
công chức nói riêng đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
đã trở thành đề tài thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học,
của các cấp, các ngành. Tùy theo góc độ và khía cạnh xem xét, những công
trình này đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể, trong đó có một số công trình
liên quan đến đề tài phát triển nguồn nhân lực nói chung và phát triển đội ngũ
cán bộ, công chức nói riêng như:


6
TS. Hoàng Trang - TS. Phạm Ngọc Anh ( Đồng chủ biên ), Nxb Chính
trị Quốc gia, Hà Nội 2004: “ Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh với việc giáo
dục đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay”. Tác giả đã trình bày có hệ thống đặc
điểm và vị trí của Tư tưởng Hồ Chí Minh. Vấn đề đẩy mạnh việc giáo dục tư
tưởng nhân văn Hồ Chí Minh cho cán bộ, đảng viên là yêu cầu bức thiết, nhất
là trong điều kiện chúng ta đang tiến hành công cuộc đổi mới, thực hiện quá
trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phấn đấu vì mục tiêu
dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
TS. Lê Quang Hoan, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2002: “ Tư tưởng
Hồ Chí Minh về con người”. Tác giả bước đầu nghiên cứu cơ bản, có hệ
thống tư tưởng Hồ Chí Minh về con người. Từ đó vận dụng những giá trị tư

Trần Văn Tùng, Nxb Thế giới, Hà Nội 2005: “Đào tạo, bồi dưỡng và sử
dụng nguồn nhân lực tài năng”. Nội dung chủ yếu của cuốn sách là tác giả tập
trung trình bày những kinh nghiệm trong việc phát hiện, đào tạo và sử dụng tài
năng khoa học công nghệ, sản xuất kinh doanh, quản lý của Mỹ và một số quốc
gia châu Âu, châu Á. Từ đó so sánh đối chứng với Việt Nam tác giả đưa ra các
chính sách về phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng có hiệu quả
các tài năng khoa học.
GS.VS. Phạm Minh Hạc - PGS.TS. Phạm Thành Nghị - TS. Vũ Minh Chi
(chủ biên), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 2004: “Nghiên cứu con người và nguồn
nhân lực” (Niên giám nghiên cứu số 3). Cuốn sách tập hợp những bài viết của các
nhà khoa học về những vấn đề liên quan đến con người và nguồn nhân lực: quan
điểm và phương pháp nghiên cứu; nghiên cứu con người trong bối cảnh kinh tế thị
trường, toàn cầu hóa; nghiên cứu nguồn nhân lực và nguồn vốn xã hội...
“Những giải pháp phát huy nguồn lực con người trong sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa ở thành phố Đà Nẵng”, đề tài nghiên cứu khoa học cấp
cơ sở, Học viện Chính trị - Hành chính khu vực III, PGS.TS. Nguyễn Văn Nam


8
chủ nhiệm đề tài, năm 2005. Đề tài đã nêu lên thực trạng của nguồn lực con người
ở thành phố Đà Nẵng, từ những thực trạng đó, đề tài nêu lên các phương hướng và
giải pháp chủ yếu để nhằm phát huy nguồn lực con người đáp ứng yêu cầu sự
nghiệp Công nghiệp hóa, hiện đại hóa của thành phố.
- “Phát triển đội ngũ lao động kỹ thuật ở thành phố Đà Nẵng - Thực
trạng và giải pháp”, luận văn thạc sĩ Kinh doanh và quản lý của tác giả Phan
Văn Sơn, Học viện CTQG Hồ Chí Minh, 2007. Đề tài này, tác giả đi vào
nghiên cứu lao động kỹ thuật ở Đà Nẵng dưới góc độ phân tích về quy mô, cơ
cấu, chất lượng, chỉ ra những hạn chế đồng thời đề ra những phương hướng
và các giải pháp khắc phục.
PGS.TS. Nguyễn Duy Dũng (chủ biên), Nxb Từ điển bách khoa, Hà

Thông qua bài viết các tác giả đánh giá thực trạng của nguồn nhân lực chất
lượng cao, chỉ ra những vấn đề bất cập và từ đó đưa ra các giải pháp để phát triển
nguồn nhân lực chất lượng cao ở nước ta hiện nay.
TS. Nguyễn An Ninh - Lê Thị Ánh Tuyết, Tạp chí Lao động công
đoàn, số 436, tháng 9 - 2009: “Vài kinh nghiệm xây dựng và phát huy
nguồn nhân lực chất lượng cao từ Dung Quất”.
Bài viết nêu lên những kinh nghiệm trong việc xây dựng và phát huy nguồn
nhân lực chất lượng cao trong những năm qua ở nhà máy lọc dầu Dung Quất, như:
trong việc đào tạo, sử dụng và tạo môi trường thuận lợi.
PGS,TS Hồ Tấn Sáng: “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục
vụ chiến lược kinh tế- xã hội 2011-2020 ở các tỉnh duyên hải miền Trung”.
Tạp chí Sinh hoạt lý luận. Số 2/2012.
Bám sát tinh thần “đột phá” về nguồn nhân lực chất lượng cao, dựa trên
cơ sở yêu cầu thực tiễn phát triển kinh tế-xã hội của các tỉnh trong vùng, bài
viết đã phân tích để gợi mở hệ giải pháp từ thể chế, cơ chế đến tổ chức thực
hiện.


10
Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, đã có những đánh giá, những
định hướng... trong quá trình đưa ra các quyết sách có liên quan như:
Nghị quyết số 04/ NQ/ TU Quảng Nam về công tác cán bộ giai đoạn
2011-2015 và định hướng đến năm 2020;
Đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức giai đoạn 2011-2015, định
hướng đến năm 2020 theo Quyết định 2606/ QĐ-UBND ngày 19 tháng 8 năm
2011 của UBND tỉnh Quảng Nam;
Đề án tuyển chọn, đào tạo nguồn cán bộ chủ chốt xã, phường, thị trấn
trên địa bàn tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2011-2016 theo Quyết định 2398/
QĐ-UBND ngày 28 tháng 7 năm 2011 của UBND tỉnh Quảng Nam.
Tổng quan nghiên cứu cho thấy cho đến nay chưa có một công trình

việc hình thành tư tưởng về cán bộ sau này. Bên cạnh đó, Hồ Chí Minh còn
tham gia nhiều hoạt động báo chí, văn chương, dự các cuộc mít tinh, tham gia
nhiều hội, mà theo lời Trần Dân Tiên thì qua đó, Hồ Chí Minh "muốn biết


12
những nước ấy tổ chức và cai trị như thế nào. Ông Nguyễn bắt đầu tổ chức,
hoặc đúng hơn là bắt đầu học tổ chức" [28, tr.29].
Mốc quan trọng đánh dấu quá trình hình thành và phát triển tư tưởng
Hồ Chí Minh về cán bộ là khi bắt đầu tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin. Những
quan điểm về cán bộ và công tác cán bộ của chủ nghĩa Mác-Lênin có ảnh
hưởng lớn tới sự hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ; đó
là những quan điểm về vị trí, vai trò của cán bộ, về tiêu chuẩn cán bộ, về huấn
luyện, sử dụng, kiểm soát cán bộ,…
Thời điểm đó, Hồ Chí Minh cũng trở thành một trong những người
tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, và là người Cộng sản Việt Nam đầu
tiên, lúc bấy giờ Hồ Chí Minh nhận thấy đối với cách mạng Việt Nam cần
phải có một bộ phận ưu tú những con người là đầu tàu, nòng cốt thúc đẩy và
nắm lấy thời cơ cho cách mạng Việt Nam. Đội ngũ ấy sẽ có trách nhiệm thức
tỉnh, tổ chức đoàn kết quần chúng, huấn luyện và đưa họ ra đấu tranh giành
độc lập cho dân tộc, tự do, hạnh phúc cho chính mình. Vì thế, công việc đầu
tiên là phải lựa chọn và huấn luyện cán bộ. Khi còn chưa có điều kiện tạo
nguồn và đào tạo cán bộ trong nước, Hồ Chí Minh đã tổ chức ra các Hội ở
nước ngoài để tạo cơ sở ban đầu. Người đã tham gia sáng lập Hội Liên hiệp
thuộc địa Pháp năm 1921, tiến hành đào tạo một số cán bộ nòng cốt cho
phong trào cách mạng các nước thuộc địa, bước đầu truyền bá chủ nghĩa MácLênin vào các nước thuộc địa, trong đó có Việt Nam.
Cuối năm 1924, Người tìm cách bắt mối liên lạc với tổ chức yêu nước
của Phan Bội Châu mang tên Tâm Tâm xã và bắt tay ngay vào việc xây dựng
kế hoạch mở lớp cán bộ đầu tiên cho cách mạng trong nước tại Quảng Châu.
Nhờ nỗ lực của Người, trường Huấn luyện chính trị đã được tổ chức, để từ

của Đảng, đề ra nhiệm vụ bức thiết cho cách mạng Đông Dương là giải phóng
dân tộc, đề xuất thành lập Việt Nam độc lập đồng minh hội, là mặt trận thống


14
nhất đoàn kết rộng rãi toàn dân tộc. Ngay sau đó, Người mở lớp huấn luyện
chính trị- quân sự ngắn hạn cho cán bộ tại Cao Bằng và chỉ đạo tổ chức nhiều
lớp huấn luyện cán bộ khác, đồng thời trực tiếp giảng dạy hoặc nói chuyện
thời sự cho các học viên tại các lớp này.
Khi Cách mạng Tháng Tám thành công, trong điều kiện đã giành được
chính quyền nhà nước, và phải đấu tranh kiên quyết giữ vững chính quyền,
Hồ Chí Minh còn quan tâm nhiều hơn đến vấn đề cán bộ. Người đã có nhiều
bài viết và tác phẩm về vấn đề này, như bài "Cán bộ tốt và cán bộ xoàng" trên
báo Sự thật số 77 tháng 6/1947; tác phẩm "Sửa đổi lối làm việc" vào tháng
10/1947; bài viết "Dân vận" trên báo Sự thật số 120, ngày 15/10/1949; bài
"Tự phê bình" trên báo Nhân dân ngày 20/5/1951…. Các tác phẩm, bài viết
đó thể hiện một cách sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ trên nhiều vấn
đề, từ huấn luyện, đào tạo đến sử dụng cán bộ, từ đạo đức đến tác phong làm
việc của cán bộ…
Đặc biệt, năm 1949, Người đề nghị thành lập trường đào tạo, bồi dưỡng
cán bộ. Khi đến thăm trường lần đầu tiên, Người đã ghi lên trang đầu cuốn sổ
vàng của Trường: "Học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự
đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại. Muốn đạt mục đích thì
phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư" [25, tr.684]. Những lời vàng đó
toát lên tư tưởng rất rõ ràng, đặc sắc của Hồ Chí Minh về cán bộ, đặc biệt là
vấn đề phẩm chất đạo đức người cán bộ.
Giai đoạn kháng chiến kiến quốc, tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ đã
hình thành qua tìm tòi, khảo sát và bước đầu thể nghiệm ở giai đoạn trước,
đến đây được thực thi trong điều kiện mới là có chính quyền nhà nước trong
tay, qua đó được bổ sung, hoàn thiện hơn, góp phần quan trọng vào việc hình

nước. Ý thức được tầm quan trọng của việc thể chế hóa thành pháp luật Nhà
nước các đường lối chủ trương của Đảng, Hồ Chí Minh đã trực tiếp ký nhiều


16
sắc lệnh cụ thể hóa vấn đề cán bộ, qua đó chính thức đặt nền móng đầu tiên
cho chế định pháp luật về cán bộ, công chức ở nước ta sau này. Đó là các Sắc
lệnh số 188/SL ngày 29/5/1948 ban hành thang lương công chức nhà nước,
Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 ban hành Quy chế công chức Việt Nam,
Sắc lệnh số 77/SL ngày 22/5/1950 quy định chế độ công nhân giúp việc
Chính phủ trong thời kỳ kháng chiến.
1.1.2. Các lý thuyết về vai trò của giới “tinh hoa” trong lịch sử tư
tưởng chính trị
Cùng với truyền thống của dân tộc cùng với quê hương và gia đình, Hồ
Chí Minh còn chịu sự ảnh hưởng của các nền văn minh trên thế giới, đó là
những tinh hoa văn hóa Đông – Tây. Người học hỏi rồi kế thừa, vận dụng sáng
tạo vào hoàn cảnh cũng như điều kiện của dân tộc mình. Người đã từng viết:
“Học thuyết Khổng Tử có ưu điểm là lòng nhân ái cao cả. Chủ nghĩa Mác có ưu
điểm là phương pháp làm việc biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm
là chính sách của nó phù hợp với điều kiện nước ta”.[16, tr.51]
* Về ảnh hưởng của Nho giáo:
Là học thuyết chính trị đạo đức, Nho giáo chủ trương cai trị xã hội dựa
trên nền tảng đạo đức. Đó là thứ triết học hành động, tư tưởng nhập thế, hành
đạo, giúp đời, triết lý nhân sinh: Tu thân, dưỡng tính, đề cao văn hóa, đạo
đức, lễ giáo: Trí, Tín, Cần, Kiệm, Liêm, Chính.
Đặc biệt, Nho giáo cũng rất chú trọng tới vấn đề người cai trị. Vừa đề
cao vai trò của người cai trị đối với quốc gia, bên cạnh đó cũng có những đòi
hỏi cao ở trình độ nhận thức và phẩm chất con người. Đó là tính thân dân,
lòng thương người, kính cẩn, khiêm nhường và bảo đảm chữ tín với dân. Để
làm tốt công việc của một người cai trị thì việc phải thường xuyên sửa mình,

"làm đầy tớ" cho nhân dân của Mặc Tử, thì Hồ Chí Minh nói về Chính phủ
mới: "Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho


18
đến các dân làng đều là công bộc của dân" [22, tr.261].
Xuất thân từ gia đình khoa bảng, tư chất thông minh, trình độ Quốc
học, Hán học vững vàng. Người không ngừng học hỏi khi bôn ba năm châu,
bốn biển. Người đã thông thạo nhiều ngôn ngữ của các quốc gia có nền văn
minh tiêu biểu của nhân loại. Người am tường văn hóa Đông, Tây, kim cổ;
Người tượng trưng cho sự kết hợp hài hòa văn hóa Đông -Tây.
* Về ảnh hưởng của tư tưởng phương Tây.
Tư tưởng văn hóa phương Tây là bộ phận quan trọng của tư tưởng văn
hóa nhân loại, là một trong những cơ sở quan trọng để hình thành nên tư
tưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ nói riêng.
Từ nhỏ, Người đã học Nho đồng thời với việc học chữ Hán. Nhưng
thời điểm đó, cũng là lúc Nho giáo đang suy tàn, trở nên bế tắc, bất lực trước
các vấn đề của thời cuộc. Với, tư cách một xứ thuộc Pháp, Việt Nam bắt đầu
chịu ảnh hưởng của những giá trị tư tưởng văn hóa chính trị phương Tây. Khi
vào học trường Tiểu học Pháp Việt ở Vinh, rồi trường Tiểu học Đông Ba,
trường Quốc học Huế, Hồ Chí Minh đã bước đầu tiếp xúc với văn hóa
phương Tây, tiếp xúc với những khẩu hiệu như dân chủ, bình đẳng, tự do, bác
ái, tư tưởng giải phóng con người khỏi thần quyền tôn giáo….Những tư tưởng
đó thôi thúc Người hướng sang phương Tây. Chính Người đã từng viết: "Khi
tôi độ 13 tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác
ái,… Và từ thửa ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm
xem những gì ẩn đằng sau những chữ ấy" [22, tr.477].
Trong 30 năm bôn ba nước ngoài, đi qua và sống ở nhiều quốc gia, tiếp
xúc với nhiều luồng tư tưởng, nhiều học thuyết khác nhau của phương Tây.
Người tiếp thu tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái của đại Cách mạng Pháp

nhân loại để tạo nên hệ tư tưởng hết sức đặc sắc của mình. Mỗi bước phát
triển của tư tưởng Hồ Chí Minh hướng tới hoàn thiện đều không thể tách rời



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status