BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
LÊ THỊ ANH THƢ
TOBIN’S Q TRONG CƠ CHẾ TRUYỀN DẪN
CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Đà Nẵng – Năm 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
LÊ THỊ ANH THƢ
TOBIN’S Q TRONG CƠ CHẾ
TRUYỀN DẪN CHÍNH SÁCH TIỀN
TỆ Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Mã số: 60.34.02.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS LÂM CHÍ DŨNG
Đà Nẵng – Năm 2015
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2...............................................................................56
CHƢƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU...................................................58
3.1. KIỂM ĐỊNH TÍNH DỪNG VÀ LỰA CHỌN ĐỘ TRỄ..........................58
3.1.1. Kiểm định tính dừng và chọn bậc sai phân.................................58
3.1.2. Lựa chọn độ trễ cho mô hình......................................................59
3.2. NHẬN DIỆN MÔ HÌNH......................................................................... 60
3.3. PHÂN TÍCH HÀM PHẢN ỨNG XUNG................................................62
3.3.1. Phản ứng của chính sách tiền tệ trƣớc sự biến động giá cả hàng
hóa thế giới......................................................................................................62
3.3.2. Phản ứng của thị trƣờng chứng khoán trƣớc các cú sốc chính
sách tiền tệ.......................................................................................................66
3.3.3. Kiểm định mô hình với trƣờng hợp hnq.................................... 71
KẾT LUẬN CHƢƠNG 3...............................................................................77
CHƢƠNG 4. KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH............................78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Số hiệu
Tên bảng
Trang
bảng
2.1
Kết quả ƣớc lƣợng ma trận C
61
3.5
Kiểm định nhân quả Granger giữa Tobin’s q và lƣợng
cổ phiếu phát hành thêm
68
3.6
Hồi quy lƣợng cổ phiếu phát hành thêm theo q
69
3.7
Kết quả ƣớc lƣợng ma trận A cho hnq
70
3.8
Kết quả ƣớc lƣợng ma trận C cho hnq
71
65
3.5
Phản ứng của q trƣớc cú sốc cung tiền
66
3.6
Phản ứng của q trƣớc cú sốc tỷ giá
67
3.7
Phản ứng của hnq trƣớc cú sốc tỷ giá
72
3.8
Phản ứng của hnq trƣớc cú sốc cung tiền
73
3.9
Phản ứng của hnq trƣớc cú sốc lãi suất
lãi suất hay kênh tín dụng.
2
Có rất ít nghiên cứu về cơ chế truyền dẫn tác động của chính sách tiền
tệ thông qua thị trƣờng chứng khoán, một kênh dẫn vốn quan trọng và đƣợc
chứng minh thực nghiệm là có vai trò truyền dẫn lớn ở nhiều nền kinh tế trên
thế giới.
Điều này cũng không quá khó hiểu do ở Việt Nam hiện nay, thị trƣờng
tiền tệ mới là kênh truyền dẫn vốn chủ yếu. Các ngân hàng thƣơng mại đã và
vẫn đang là nhà trung gian điều chuyển vốn lớn nhất cho nền kinh tế.
Trong khi đó, thị trƣờng chứng khoán Việt Nam có mức vốn hóa thấp
hơn hẳn so với các quốc gia trong khu vực, tính thanh khoản chƣa cao, hai sở
giao dịch chứng khoán riêng lẻ với nhiều quy định phức tạp làm hạn chế hiệu
quả của thị trƣờng tài chính.
Chính vì thế, việc truyền dẫn hiệu quả của chính sách tiền tệ ở Việt
Nam dƣờng nhƣ bị bỏ quên, và việc điều tiết thị trƣờng chứng khoán không
phải đƣợc thực hiện thông qua các chính sách tiền tệ mà bằng việc áp đặt
những ràng buộc mang tính pháp lý vào hoạt động của các chủ thể hoạt động
trên thị trƣờng chứng khoán.
Tuy nhiên, trong thời gian tới đây, khi mà Cộng đồng Kinh tế ASEAN
đƣợc thành lập và Hiệp định Hợp tác Chiến lƣợc xuyên Thái Bình Dƣơng
(TPP) đƣợc thông qua thành công thì thị trƣờng chứng khoán Việt Nam chắc
chắn sẽ có nhiều thay đổi lớn. Cùng với việc mức vốn hóa, tính thanh khoản
và tính hiệu quả đƣợc tăng lên thì thị trƣờng chứng khoán cũng sẽ trở thành
một kênh truyền dẫn vốn trung và dài hạn quan trọng cho nền kinh tế Việt
Nam.
Hơn nữa, trong năm 2015, chính phủ cũng đã có nhiều động thái tích
cực trong việc xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý cũng nhƣ cơ sở vật chất
4
động của nó tới chi tiêu đầu tƣ của nền kinh tế vĩ mô Việt Nam thông qua cơ
chế Tobin’s q.
- Phạm vi nghiên cứu: đề tài nghiên cứu hoạt động của kênh Tobin’s q
với số liệu của các doanh nghiệp niêm yết trên hai sở giao dịch chứng khoán
thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội từ năm 2008 đến năm 2014.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phƣơng pháp thu thập để lấy số liệu về cung tiền, tỷ giá,
chỉ số sản xuất công nghiệp, lãi suất, mức giá chung, giá cổ phiếu, giá trị vốn
hóa thị trƣờng, số lƣợng cổ phiếu phát hành thêm và các biến số khác, sau đó
sử dụng các phƣơng pháp phân tích và xử lý thông tin để xử lý dữ liệu cho
phù hợp với mô hình nghiên cứu, tính toán ra giá trị của hệ số Tobin's q, rồi sử
dụng phƣơng pháp thống kê để tổng hợp dữ liệu, từ đó đƣa vào mô hình tự
hồi quy véctơ theo cấu trúc (SVAR) để nghiên cứu sự truyền dẫn chính sách
tiền tệ tới nền kinh tế thông qua thị trƣờng chứng khoán với cơ chế Tobin’s q.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đề tài cung cấp một kết quả định lƣợng về thời gian và mức độ tác
động của chính sách tiền tệ đến chi tiêu đâu tƣ của nền kinh tế thông qua kênh
Tobin’s q, từ đó, các nhà lập chính sách có một căn cứ để thiết lập các công cụ
của chính sách tiền tệ một cách hợp lý nhất, nhằm đạt đƣợc những mục tiêu
kinh tế vĩ mô theo từng giai đoạn nhất định nhƣ ý muốn.
Mặc dù, với thực tế kém hiệu quả của thị trƣờng chứng khoán trong
những năm qua thì có thể nghiên cứu này sẽ chƣa thực sự đƣa ra đƣợc một câu
trả lời thuyết phục và rõ ràng về vai trò của Tobin’s q cũng nhƣ thị trƣờng chứng
khoán trong cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ ở Việt Nam, nhƣng chắc chắn
nó có thể cung cấp một cái nhìn sơ lƣợc về kênh truyền dẫn này, đồng thời là
một tài liệu có giá trị tham khảo cho những nghiên cứu về sau,
Tuy nhiên, do nguồn lực giới hạn nên không phải bao giờ ngân hàng
trung ƣơng cũng có thể thực hiện đƣợc tất cả các mục tiêu đặt ra cùng một
lúc. Bởi vậy, phần lớn các ngân hàng trung ƣơng trên thế giới thƣờng lựa
chọn theo đuổi mục tiêu ổn định giá cả (mục tiêu lạm phát) trong dài hạn và
đa mục tiêu trong ngắn hạn.
7
Mặt khác, do rất khó để có thể điều chỉnh trực tiếp các mục tiêu giá cả,
tăng trƣởng hay việc làm, cũng nhƣ cần phải mất thời gian dài mới có thể đo
lƣờng đƣợc hiệu quả của các chính sách ban hành thông qua các mục tiêu
này, nên trong ngắn hạn, ngân hàng trung ƣơng thƣờng hƣớng tới các mục
tiêu trung gian trƣớc, rồi điều chỉnh để những mục tiêu trung gian này tác
động tới mục tiêu cuối cùng nhƣ mong muốn. Các mục tiêu trung gian đƣợc
lựa chọn phải đảm bảo có thể đo lƣờng đƣợc chính xác và nhanh chóng, có
thể kiểm soát đƣợc và có mối liên hệ chặt chẽ với mục tiêu cuối cùng. Các
mục tiêu trung gian thƣờng đƣợc lựa chọn là lãi suất hoặc mức cung tiền.
Đây là những mục tiêu trung gian có thể đƣợc điều chỉnh trực tiếp bằng
những công cụ điều hành chính sách tiền tệ trong tay ngân hàng trung ƣơng.
Trong một nền kinh tế mở, sự biến động của cung tiền hay lãi suất sẽ
ảnh hƣởng đến tỷ giá hối đoái, thị trƣờng tài chính, hoạt động ngân hàng và
cả hoạt động xuất nhập khẩu, rồi từ đó, sẽ ảnh hƣởng đến toàn bộ nền kinh tế
của một quốc gia. Quá trình truyền tải ảnh hƣởng từ những thay đổi trong
biến số tiền tệ cho đến những biến động của nền kinh tế chung qua nhiều kênh
khác nhau ấy chính là cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ.
Từ giữa thế kỷ trƣớc, những cuộc tranh luận nảy lửa giữa các nhà kinh
tế thuộc trƣờng phái tiền tệ và các nhà kinh tế thuộc trƣờng phái Keynes về
vai trò và tầm quan trọng của chính sách tiền tệ đối với nền kinh tế vĩ mô đã
tạo cơ hội cho việc nghiên cứu nghiêm túc và sâu sắc hơn về cơ chế truyền
Nhƣ vậy, phƣơng pháp tiếp cận từ những bằng chứng theo mô hình cấu
trúc sẽ rất tốt nếu nhƣ chúng ta biết đƣợc chính xác cấu trúc của mô hình.
Đây cũng chính là điểm bất lợi của phƣơng pháp này, vì nếu cấu trúc của mô
hình không chính xác thì mọi thứ không còn ý nghĩa nữa.
Các nhà kinh tế thuộc trƣờng phái tiền tệ lo ngại rằng các mô hình cấu
trúc của trƣờng phái Keynes sẽ bỏ sót những cơ chế truyền dẫn chính sách
9
tiền tệ quan trọng, và do đó có thể đánh giá sai tầm quan trọng của chính sách
tiền tệ đối với nền kinh tế.
Phái tiền tệ từ chối giải thích các bằng chứng thực nghiệm bằng mô
hình cấu trúc của trƣờng phái Keynes, bởi họ tin rằng một số kênh truyền dẫn
mà phái Keynes đề xuất là quá hạn hẹp và không thể thể hiện đƣợc đầy đủ
tầm quan trọng của chính sách tiền tệ.
Bởi vậy, các nhà kinh tế thuộc trƣờng phái tiền tệ sử dụng các bằng
chứng theo mô hình dạng rút gọn, nghĩa là xem thử biến này có ảnh hƣởng tới
biến kia hay không bằng cách nhìn trực tiếp vào mối quan hệ giữa hai biến.
Mô hình dạng rút gọn đơn giản là tìm kiếm mối liên hệ chặt chẽ giữa sự
dịch chuyển biến này với sự dịch chuyển của biến kia. Để nghiên cứu mối
quan hệ giữa cung tiền và hoạt động của nền kinh tế, họ không xem xét chi
tiết cách thức cung tiền (M) ảnh hƣởng tới tổng cầu (Y) mà chỉ kiểm tra xem
thử sự thay đổi của cung tiền và sự dịch chuyển của tổng cầu có mối liên hệ
chặt chẽ hay không, trong đó cách thức hoạt động của nền kinh tế là không
thể nhìn thấy rõ đƣợc.
Ƣu điểm của phƣơng pháp đánh giá các bằng chứng thực nghiệm theo
mô hình dạng rút gọn này là gạt bỏ đƣợc mọi hạn chế bị áp đặt trên hệ thống
truyền dẫn ảnh hƣởng từ chính sách tiền tệ cho tới nền kinh tế. Nếu nhƣ
không thể biết hết mọi kênh truyền dẫn chính sách tiền tệ thì chúng ta vẫn có
Sau khi phái tiền tệ thành công trong việc đƣa ra những bằng chứng
thuyết phục phản bác lại cách nhìn của phái Keynes thì lĩnh vực nghiên cứu
kinh tế tiền tệ đã rẽ thành hai hƣớng, một xu hƣớng là sử dụng những mô
hình dạng rút gọn của phái tiền tệ ở một cấp độ tinh vi hơn nhằm nghiên cứu
ảnh hƣởng của chính sách tiền tệ đến nền kinh tế, xu hƣớng thứ hai là tiếp tục
phát triển mô hình cấu trúc và mở rộng hiểu biết về nhiều cơ chế khác nhau
trong việc truyền dẫn ảnh hƣởng của chính sách tiền tệ đến tổng cầu, ngoài
kênh lãi suất đầu tƣ đã đề cập ở trên.
11
Hiện nay, cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ là một trong những lĩnh
vực đƣợc nghiên cứu nhiều nhất trong kinh tế học tiền tệ. Bởi vì việc hiểu rõ
cơ chế tác động của chính sách tiền tệ đến nền kinh tế là vô cùng cần thiết
trong việc đánh giá lập trƣờng của chính sách tiền tệ ở từng thời điểm cụ thể.
Mặt khác, để đƣa ra một quyết định chính xác và hợp lý trong việc thiết
lập công cụ chính sách và hoạch định chính sách tiền tệ thì các nhà lập chính
sách cần phải có một đánh giá chính xác về thời gian và hiệu quả của các
chính sách mình áp đặt vào nền kinh tế. Điều đó đã đƣợc chứng minh trong
các nghiên cứu của Clinton và Engert (2000), Kuttner và Mosser (2002). Và
để có đƣợc đánh giá chính xác này, các nhà lập chính sách cần phải hiểu
đƣợc cơ chế mà thông qua đó, chính sách tiền tệ tác động tới nền kinh tế thực
và lạm phát.
Theo quá trình thay đổi của tƣ tƣởng kinh tế vĩ mô, những quan điểm
khác nhau về các kênh truyền dẫn chính sách tiền tệ cũng đƣợc phát triển
ngày càng phong phú. Bên cạnh những kênh truyền dẫn truyền thống nhƣ
kênh lãi suất, các kênh giá tài sản, các kênh theo quan điểm tín dụng thì
những kênh mới nhƣ kênh lo ngại rủi ro, kênh rủi ro tín dụng quốc gia, kênh
cân bằng danh mục đầu tƣ quốc tế… với những hƣớng tiếp cận mới đã mang
tƣơng đối so với trƣớc, và một mức chi phí vốn thấp hơn sẽ khuyến khích các
chủ thể trong nền kinh tế bỏ thêm tiền đầu tƣ mở rộng hoạt động sản xuất kinh
doanh (I↑), cuối cùng sẽ tạo ra một sự gia tăng trong tổng cầu (Y↑).
Mặc dù ban đầu các nhà kinh tế học trƣờng phái Keynes nhấn mạnh
rằng kênh lãi suất hoạt động thông qua các quyết định về chi tiêu đầu tƣ của
doanh nghiệp, nhƣng các nghiên cứu về cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ
về sau này đã thừa nhận rằng các quyết định của ngƣời tiêu dùng về nhà ở và
chi tiêu tiêu dùng lâu bền cũng đƣợc xem là quyết định đầu tƣ.
Vì vậy, cơ chế hoạt động của kênh lãi suất trong trƣờng hợp này cũng
tƣơng tự nhƣ phƣơng trình (1.1), trong đó I đại diện cho chi tiêu nhà ở và chi
tiêu tiêu dùng lâu bền.
Một điểm quan trọng cần chú ý ở trong cơ chế truyền dẫn qua kênh lãi
suất là việc lãi suất thực mới là thứ ảnh hƣởng đến quyết định của doanh
nghiệp và ngƣời tiêu dùng chứ không phải lãi suất danh nghĩa. Hơn nữa, lãi
suất thực dài hạn mới có ảnh hƣởng lớn đến chi tiêu, còn lãi suất ngắn hạn thì
ít có ý nghĩa hơn.
Thực tế rằng lãi suất thực mới là yếu tố có tác động tới chi tiêu khiến
cho cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ thông qua kênh lãi suất vẫn hoạt
13
động tốt ngay cả khi lãi suất danh nghĩa chạm mức bằng không trong thời kỳ
giảm phát (Nhật Bản là một ví dụ).
Khi lãi suất danh nghĩa ở mức bằng không, việc tăng cung tiền (M↑) có
thể làm tăng mức giá dự kiến (p e↑) và vì vậy sẽ làm tăng mức lạm phát kỳ
vọng (πe↑), do đó sẽ khiến cho lãi suất thực giảm xuống (ir↓), do ir=i- πe, và
nhờ vậy vẫn sẽ kích thích chi tiêu thông qua kênh lãi suất:
M↑ ir↓ E↓ NX↑ Y↑
Khi cung tiền (M) tăng lên sẽ dẫn đến việc lãi suất thực (i r) trong nƣớc
giảm xuống nhƣ đã trình bày, điều này khiến cho tỷ giá ngoại hối (E) giảm
xuống, do đó, giá hàng hóa trong nƣớc sẽ trở nên rẻ hơn tƣơng đối so với
hàng hóa ở nƣớc ngoài, kích thích hoạt động xuất khẩu tăng lên, và giá trị
xuất khẩu ròng (NX) này sẽ trực tiếp làm tổng cầu (Y) tăng lên theo. Bởi vì sự
tác động trực tiếp ấy, nên kênh tỷ giá là một kênh rất quan trọng trong cơ chế
truyền dẫn chính sách tiền tệ của mỗi quốc gia.
14
Ở đây, có hai điểm quan trọng cần chú ý là mức độ nhạy cảm của tỷ giá
hối đoái đối với sự biến động của lãi suất, mức độ này càng lớn thì ảnh hƣởng
của kênh truyền dẫn tỷ giá càng cao và ngƣợc lại, và nền kinh tế nhỏ, rộng
mở hơn thì tác động của kênh truyền dẫn này càng lớn.
- Kênh Tobin’s q: Đây là kênh truyền dẫn sử dụng phƣơng pháp tiếp
cận theo chi phí vốn, trong đó các quyết định đầu tƣ của doanh nghiệp và hộ
gia đình đƣợc xem xét dựa trên lý thuyết về đầu tƣ của James Tobin.
Theo Tobin (1969), trong đầu tƣ kinh doanh, hệ số q đƣợc định nghĩa là
tỷ số giữa giá trị thị trƣờng của công ty và chi phí thay thế vốn.
Khi hệ số q cao, nghĩa là giá trị thị trƣờng của công ty cao hơn so với
chi phí thay thế vốn, tức là chi phí mở rộng nhà xƣởng và mua sắm thiết bị
mới sẽ trở nên rẻ hơn tƣơng đối so với giá thị trƣờng của các công ty khác.
Cho nên, công ty có thể phát hành cổ phiếu và thu đƣợc với một số tiền nhiều
hơn tƣơng đối so với chi phí bỏ ra để mua sắm trang thiết bị phục vụ cho việc
M↑ s↑ w↑ C↑ Y↑
Khi ngân hàng trung ƣơng thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng, cung
tiền (M) tăng lên, tƣơng tự nhƣ đối với cơ chế Tobin’s q, giá cổ phiếu sẽ tăng
lên theo, điều này sẽ làm cho của cải (w) của các chủ thể trong nền kinh tế
tăng lên. Khi có nhiều của cải hơn, nghĩa là nguồn lực trọn đời của ngƣời tiêu
dùng tăng lên, điều này sẽ kích thích tiêu dùng (C) tăng lên và do đó sẽ đẩy
tổng cầu (Y) tăng lên theo.
c. Các kênh theo quan điểm tín dụng
Các kênh theo quan điểm tín dụng là những kênh truyền dẫn chính sách
tiền tệ giải thích tác động của chính sách tiền tệ vào tài sản dài hạn dựa vào
vấn đề thông tin bất cân xứng trên thị trƣờng tài chính.
- Kênh cho vay của ngân hàng: Kênh truyền dẫn này hoạt động dựa trên
vai trò đặc biệt quan trọng của các ngân hàng trong hệ thống tài chính, là chủ
thể phù hợp nhất với nhiệm vụ giải quyết vấn đề thông tin bất cân xứng trên
thị trƣờng tín dụng.
Vì vai trò đặc biệt ấy của các ngân hàng, cho nên những ngƣời đi vay
sẽ không có quyền tiếp cận thị trƣờng tín dụng nếu nhƣ họ không vay tiền từ
các ngân hàng.
tàng từ các lựa chọn đối nghịch cao hơn.
Khi giá trị tài sản giảm xuống, sẽ tạo ra nguy cơ về lựa chọn đối
nghịch, do đó sẽ giảm khả năng vay vốn để tài trợ cho hoạt động đầu tƣ.
Ngoài ra, giá trị ròng của doanh nghiệp thấp cũng có thể làm tăng rủi ro đạo
đức, vì phần vốn sở hữu trong công ty của các cổ đông sẽ có giá trị thấp hơn,
thúc đẩy họ tham gia vào các dự án đầu tƣ mạo hiểm.
17
Điều này sẽ khiến cho mức rủi ro vỡ nợ tăng lên, giá trị ròng của doanh
nghiệp giảm và khiến khả năng tiếp cận vốn vay phục vụ đầu tƣ của doanh
nghiệp giảm theo, nghĩa là làm giảm chi tiêu đầu tƣ.
M↑ s↑ as↓ mh↓ le↑ I↑ Y↑
Khi chính sách tiền tệ mở rộng đƣợc áp dụng, cung tiền (M) tăng lên
làm giá cổ phiếu (s) tăng lên, do đó sẽ làm tăng giá trị của doanh nghiệp.
Giá trị của doanh nghiệp tăng lên, nhƣ đã giải thích, sẽ làm giảm các
lựa chọn đối nghịch (as), đồng thời giảm luôn các vấn đề về rủi ro đạo đức
(mh), và điều đó sẽ làm tăng khả năng tiếp cận nguồn vốn vay ngân hàng (le),
18
Một điểm quan trọng cần chú ý trong cơ chế truyền dẫn chính sách tiền
tệ này là lãi suất danh nghĩa mới là nhân tố tác động đến dòng tiền của doanh
nghiệp, và từ đó sẽ có tác động đến chi tiêu đầu tƣ, chứ không phải là lãi suất
thực nhƣ trong cơ chế truyền dẫn của kênh lãi suất truyền thống đã đề cập
trƣớc đây.
Bên cạnh đó, lãi suất ngắn hạn đóng một vai trò đặc biệt quan trọng
trong cơ chế truyền dẫn này, bởi vì khi tính toán dòng tiền và khả năng thanh
khoản của công ty hay hộ gia đình thì ngƣời ta chủ yếu quan tâm đến lãi suất
cho các khoản thanh toán ngắn hạn thay vì các khoản nợ dài hạn.
- Kênh mức giá ngoài dự kiến: Ngoài kênh bảng cân đối kế toán và
kênh dòng tiền thì kênh mức giá ngoài dự kiến cũng là một kênh truyền dẫn
chính sách tiền tệ nữa có liên quan đến bảng cân đối kế toán và có cơ chế tác
động tƣơng tự, nhƣng nó thông qua các hiệu ứng của chính sách tiền tệ lên
mức giá chung thay vì giá trị thực hay dòng tiền ròng của công ty.
Bởi vì việc thanh toán các khoản nợ đã đƣợc ghi rõ trên hợp đồng và
cố định theo một giá trị danh nghĩa, là một con số trên hợp đồng, cho nên khi
có một sự tăng lên trong mức giá ngoài dự kiến, nó sẽ khiến cho giá trị khoản
nợ mà công ty phải trả giảm xuống, giảm đƣợc gánh nặng nợ cho công ty,
nhƣng không làm giảm giá trị thực các tài sản của công ty.
Điều này sẽ giúp làm giảm các lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức.