Nghiên cứu đánh giá nguồn tài nguyên thực vật có tinh dàu ở vườn quốc gia bến én, tỉnh thanh hóa, đề xuất các biện pháp bảo tồn và khai thác hợp lý tt - Pdf 55

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ
CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

HOÀNG VĂN CHÍNH

NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ NGUỒN TÀI NGUYÊN THỰC VẬT CÓ
TINH DẦU Ở VƯỜN QUỐC GIA BẾN EN, TỈNH THANH HÓA, ĐỀ
XUẤT CÁC BIỆN PHÁP BẢO TỒN VÀ KHAI THÁC HỢP LÝ

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC

Chuyên ngành: Thực vật học
Mã số: 9.42.01.11

Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS.TS. Trần Minh Hợi
2. TS. Đỗ Ngọc Đài

HÀ NỘI – 2019


Luận án được hoàn thành tại Học viện Khoa học và Công nghệ Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học 1: PGS. TS. Trần Minh Hợi
Người hướng dẫn khoa học 2: TS. Đỗ Ngọc Đài

Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:

yếu của nhiều ngành công nghiệp như mỹ phẩm, thực phẩm và dược phẩm...
Vườn Quốc gia (VQG) Bến En nằm ở phía Tây Bắc huyện Như Thanh,
cách thành phố Thanh Hoá khoảng 46 km về phía Tây nam có toạ độ địa lý
từ 19028’ đến 19039’ độ vĩ Bắc; 105020’ đến 105035’ kinh độ Đông. Tổng
diện tích tự nhiên của Vườn là 16.634 ha, gồm 16 tiểu khu, hồ sông Mực và
khu núi Đá Hải Vân, Sông Chàng.
VQG Bến En bao gồm các kiểu địa hình đồi, núi, sông, hồ xen kẽ nhau.
Trung tâm là hồ sông Mực với hệ thống các đảo nổi còn rừng bao phủ và
nhiều chi nhánh lan toả được bao bọc bởi các kiểu địa hình núi đá xen kẽ
núi đất. Đỉnh núi cao nhất là Núi Đàm cao 497m. Các đỉnh núi khác còn lại
cao từ 300-350m, độ dốc trung bình từ 250-300 có nơi dốc trên 350. Kiểu
địa hình này khá hiểm trở, độ dốc lớn, bên trong là các dãy núi đá vôi có
nhiều hang động và rừng bao phủ. Tại Vườn Quốc gia Bến En có nhiều loài
cây cho tinh dầu quý như Re hương (Cinnamomum parthenoxylon Meisn.),
Vù hương (C. balansae H. Lecomte), Quế thanh (C. loureiroi (L.) Presl), Sả
(Citronella spp.), Lá khôi (Ardisia silvestris Pitard), Thanh hao hoa vàng
(Artemisia annua L.), Húng chanh (Plectranthus aromaticum Benth.)...
1


Hiện nay, đã có một số công trình nghiên cứu về hệ thực vật ở đây của Đỗ
Ngọc Đài và cs (2007), Hoàng Văn Sâm và cs (2008), VQG Bến En (2013).
Về cây tinh dầu, chỉ có mô ̣t số nghiên cứu đơn lẻ về thành phầ n hóa ho ̣c và
khả năng kháng khuẩ n ở mô ̣t số loài của các tác giả như Đỗ Ngọc Đài,
Nguyễn Anh Dũng, Ngô Xuân Lương... Như vậy, các tác giả chỉ công bố ở
những khía cạnh khác nhau còn nghiên cứu chuyên sâu thì chưa có công
trình nào nghiên cứu đầy đủ về nguồn tài nguyên thực vật có tinh dầu ở đây.
Chính vì vậy, nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài “Nghiên cứu, đánh giá nguồn
tài nguyên thực vật có tinh dầu ở Vườn Quốc gia Bến En, tỉnh Thanh
Hóa, đề xuất các biện pháp bảo tồn và khai thác hợp lý” vừa có ý nghĩa

4. Bố cục của luận án
Luận án gồm 168 trang; ngoài phần Mở đầu; Kết luận và kiến nghị;
Tài liệu tham khảo; Phụ lục; Luận án gồm các chương sau:
Chương 1. Tổng quan tài liệu: 30 trang
Chương 2. Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu: 7 trang
Chương 3. Kết quả nghiên cứu và Thảo luận: 102 trang
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Vài nét chung về tinh dầu
1.1.1. Khái niệm cây tinh dầu
Cây tinh dầu là những cây có chứa cấu trúc chuyên biệt làm nhiệm vụ
tiết và tích lũy tinh dầu.
1.1.2. Tính chất và thành phần hóa học của tinh dầu
Tinh dầu là những hỗn hợp của các hợp chất hữu cơ, có cấu tạo phân
tử phức tạp, không tan trong nước, dễ bay hơi và có mùi thơm đặc trưng.
1.1.3. Trạng thái tự nhiên và phân bố
- Trong cây tinh dầu ở trạng thái tiềm tàng hay tự do, có thể có mặt ở
tất cả các bộ phận hoặc chỉ tập trung ở một hay một vài bộ phận.
- Về phân bố, tinh dầu có trong toàn bộ giới thực vật nhưng đặc biệt
có mặt nhiều trong một số họ.
1.1.4. Giá trị sử dụng, tầm quan trọng của tinh dầu và nguyên liệu chứa
tinh dầu
Từ lâu đời, con người đã sử dụng tinh dầ u trong đời sống hằng ngày
cũng như các ngành công nghiệp dược phẩm, chế biến thực phẩm, hoá mỹ
phẩm… Nhiề u loài thực vâ ̣t chứa tinh dầ u đã trở thành cây trồ ng phổ biế n.
1.2. Nghiên cứu về thực vật chứa tinh dầu trên thế giới và ở Việt Nam
1.2.1. Nghiên cứu về các loài thực vật chứa tinh dầu trên thế giới
Cho tới nay chưa có đủ tài liệu để hình dung ra lịch sử của lĩnh vực
nghiên cứu cây tinh dầu thế giới. Tài liệu về cây tinh dầu sớm nhất hiện có
được là cuốn “Những cây làm thuốc” được tìm thấy ở Nhật Bản, viết năm

1.3. Nghiên cứu thành phần hóa học tinh dầu và hoạt tính sinh học của
một số họ thực vật trên thế giới và ở Việt Nam
1.3.1. Nghiên cứu thành phần hóa học tinh dầu và hoạt tính sinh học
của một số họ thực vật trên thế giới
1.3.1.1. Họ Long não (Lauraceae)
Trên thế giới, nghiên cứu tinh dầu Họ Long não (Lauraceae) tập trung
chủ yếu vào nhóm được ứng dụng làm nước hoa, dược phẩm, mỹ phẩm và
khả năng kháng nấm, kháng khuẩn. Các loài được nghiên cứu thường thuộc
các chi Cinnamomum, Litsea, Machilus …
1.3.1.2. Họ Cam (Rutaceae)
Hầu hết các loài trong họ Cam (Rutaceae) đều có tinh dầu hoặc hương
thơm và đã có rất nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới về tinh dầu họ
Cam (Rutaceae). Tác giả đã tổng hợp các nghiên cứu chủ yếu đến năm 2018.
1.3.1.3. Họ Hồ tiêu (Piperaceae)

4


Hiện nay, trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về thành
phần hóa học tinh dầu và hoạt tính sinh học của các loài trong ho ̣ Hồ tiêu.
Các nghiên cứu tâ ̣p trung nhiề u vào chi Piper.
1.3.1.4. Họ Gừng (Zingiberaceae)
Các nghiên cứu họ Gừng trên thế giới, chủ yếu được tập trung vào các
chi Curcuma, Zingiber, Alpinia, Amomum…
1.3.2. Nghiên cứu thành phần hóa học tinh dầu và hoạt tính sinh học
của một số họ thực vật ở Việt Nam
1.3.2.1. Họ Long não (Lauraceae)
Việt Nam có 21 chi, 273 loài. Các công trình nghiên cứu về tinh dầu
chủ yếu tập trung trong các chi Cinnamomum, Litsea, Machilus, Phoebe ...
1.3.2.2. Họ Cam (Rutaceae)

1.4.6. Hiện trạng đất rừng ở Vườn Quốc gia Bến En
Diện tích đất có rừng tại VQG Bến En là 11.738,07 ha chiếm 79,66%.
1.4.7. Điều kiện xã hội
Khu vực VQG Bến En có 1 thị trấn, 16 xã, 7 đơn vị quốc doanh; tổng
số dân là 41.672 người, thành phần dân tộc phức tạp,
CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Các loài thực vật có tinh dầu phân bố ở VQG Bến En, tỉnh Thanh Hóa.
2.2. Thời gian nghiên cứu
Đề tài được tiến hành từ tháng 3 năm 2014 đến tháng 9 năm 2018.
2.3. Nội dung nghiên cứu
- Lập danh lục các loài thực vật chứa tinh dầu và đánh giá về tính đa
dạng của các loài chứa tinh dầu.
- Tìm hiểu về giá trị sử dụng của các loài thực vật chứa tinh dầu.
- Xác định hàm lượng, thành phần hóa học tinh dầu của một số loài.
- Thử hoạt tính kháng muỗi trưởng thành Aedes albopictus, ấu trùng
muỗi Culex quinquefasciatus và kháng vi sinh vật kiểm định của tinh dầu
loài Gừng gió (Zingiber zerumbet).
- Đề xuất các biện pháp bảo tồn và khai thác hợp lý.
2.4. Phương pháp nghiên cứu
2.4.1. Phương pháp kế thừa tài liệu
Kế thừa các kết quả nghiên cứu về điều kiện tự nhiên - xã hội ở khu
vực nghiên cứu, các mẫu thực vật lưu giữ ở bảo tàng trong nước và nước
ngoài, các công trình công bố liên quan đến đề tài luận án.
2.4.2. Phương pháp điều tra thực địa
Dựa theo bản đồ chọn các tuyến điều tra chính để nghiên cứu, bao gồm
6 tuyến chính là Sông Chàng; tuyến Xuân Thái-Yên Bái; tuyến lòng hồ (Đảo
thực vật và các đảo khác); tuyến Bình Lương; tuyế n Xuân Hòa – Xuân Quý,
tuyến Hải Vân – Tân Bình.

- Bộ thực vật chí Việt Nam (Họ Na, Họ Cỏ roi ngựa, họ Đơn nem, họ
Bạc hà, họ Long não, họ Gừng) và một số tài liệu chuyên ngành khác.
Chỉnh lý tên khoa học và xây dựng danh lục: Chỉnh lý tên khoa học
theo Danh lục các loài thực vật Việt Nam và website The plant list
(); sắp xếp danh lục theo R. K. Brummitt và cs
(1992).
2.4.4. Phương pháp đánh giá tính đa dạng của hệ thực vật
- Đa dạng về các taxon của hệ thực vật: Theo phương pháp của
Nguyễn Nghĩa Thìn (1997).
+ Đánh giá đa dạng các taxon trong ngành (thống kê số loài, chi và họ
theo từng ngành thực vật từ thấp đến cao, trên cơ sở dựa vào bảng danh lục
thực vật, tính tỷ lệ % của các taxon để thấy được mức độ đa dạng của chúng).
7


+ Đánh giá đa dạng loài của các họ (xác định họ giàu loài, tính tỷ lệ %
số loài của các họ đó so với toàn bộ của hệ thực vật).
+ Đánh giá đa dạng loài của các chi (xác định chi giàu loài, tính tỷ lệ
% số loài các chi đó so với toàn bộ số loài của cả hệ thực vật).
- Đa dạng về dạng thân: Dựa vào ghi chép quá trình điều tra thực địa
cũng như các tài liệu liên quan và phân chia theo “Cây rừng Việt Nam” để
thống kê, đánh giá về các dạng thân của cây chứa tinh dầu.
- Đa dạng về giá trị sử dụng của hệ thực vật: Tiến hành thống kê các
loài có giá trị sử dụng từ bảng danh lục thực vật bằng các tài liệu chuyên
ngành, như: “Từ điển cây thuốc Việt Nam” (2012),“1900 loài cây có ích ở
Việt Nam” (1993),“Danh lục các loài thực vật Việt Nam”(2003, 2005),“Cây
cỏ Việt Nam” (1999-2003),“Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”
(2003), “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam”,...
- Đa dạng các loài thực vật quý hiếm và vấn đề bảo tồn: Căn cứ vào
Sách Đỏ Việt Nam (2007) và danh lục đỏ IUCN tiến hành thống kê các loài

b

Trong đó: a là thể tích của tinh dầu tính bằng ml
b là khối lượng của mẫu tính bằng gam.
8


Tinh dầu được làm khô bằng Na2SO4 khan, đựng trong các lọ tiêu
chuẩn đậy kín, bảo quản ở 0-5oC trước khi đem phân tích.
2.4.5.3. Phương pháp phân tích thành phần hoá học tinh dầu
Chuẩn bị mẫu phân tích cho sắc ký khí: Hoà tan 1,5 mg tinh dầu đã
được làm khô bằng Na2SO4 khan trong 1ml hexan tinh khiết loại dùng cho
phân tích sắc ký.
+ Sắc ký khí (GC) với đầu dò FID: Được thực hiện trên máy Agilent
Technologies HP 6890N Plus với detectơ FID, cột mao quản HP-5MS chiều
dài 30 m, đường kính trong (ID) = 0,25 mm, lớp phim mỏng 0,25m với khí
mang là hydro. Nhiệt độ buồng bơm mẫu là 250oC. Nhiệt độ Detectơ là
260oC. Chương trình nhiệt độ 60oC (2 min), tăng 4oC/phút cho đến 220oC,
dừng ở nhiệt độ này trong 10 phút.
+ Sắc ký khí khối phổ (GC/MS): Được thực hiện trên hệ thống thiết
bị sắc ký khí khối phổ liên hợp Agilent Technologies HP 6890N/ HP 5973
MSD với cột tách và các điều kiện vận hành sắc ký như nêu ở trên và với
Heli làm khí mang.
Việc xác định định tính các thành phần của tinh dầu được thực hiện
bằng các phương pháp sau:
- Dựa trên giá trị của chỉ số lưu giữ (Retention Index), xác định với
một dãy các đồng đẳng n-alkan trong cùng một điều kiện sắc ký.
- Dựa trên phổ khối lượng, so sánh với phổ khối lượng tìm thấy trong
các ngân hàng dữ liệu (NIST 08 và Wiley 9th Version) hoặc so sánh với các
dữ liệu của các tài liệu tham khảo.

được xác định bằng phương pháp Reed-Muench.
Thử hoạt tính kháng Vi sinh vật kiểm định
Thử hoạt tính sinh học của tinh dầu trên một số chủng vi khuẩn Gram
(+): Bacillus subtilis (ATCC 6633), Staphylococcus aureus (ATCC 13709);
vi khuẩn Gram (-): Escherichia coli (ATCC 25922), Pseudomonas
aeruginosa (ATCC 15442); nấm mốc: Aspergillus niger, Fusarium
oxysporum và nấm men: Saccharomyces cerevisiae, Candida albicans.
Bước 1. Thử định tính theo phương pháp khuếch tán trên đĩa thạch, sử dụng
khoanh giấy lọc tẩm chất thử theo nồng độ tiêu chuẩn.
Các chủng vi sinh vật kiểm định gồm:
- Vi khuẩn Gr (-): E. coli, P. aeruginosa.
- Vi khuẩn Gr (+): B. subtillis, S. aureus.
- Nấm mốc: A. niger, F. oxysporum
- Nấm men: S. cerevisiae, C. albicans.
Bước 2. Các mẫu có hoạt tính dương ở bước 1 sẽ tiến hành thử tiếp ở
bước 2 để tính ra nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) theo phương pháp của
Vanden Bergher và Vlietlink (1991) tiến hành trên phiến vi lượng 96 tiếng.
Kháng sinh kiểm định bao gồm: Ampicilin, Tetracycline, Nystatin
Mẫu có giá trị MIC50 πg/ml, được coi là dương tính kháng vi sinh vật
2.4.8. Phương pháp xử lí số liệu
Số liệu được xử lí trên phần mềm Microsoft Office Excel 2007.

10


CHƯƠNG 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1. Đa dạng về nguồn tài nguyên thực vật có tinh dầu ở Vườn Quốc gia
Bến En, tỉnh Thanh Hóa
3.1.1. Đa dạng về bậc ngành

178
98,89
408
99,51
Magnoliopsida
37
82,22
166
92,22
369
90,00
Liliopsida
6
13,33
12
6,67
39
9,51
Tỷ lệ Mag./Li.
6,17
13,83
9,46
Tổng
45
100
180
100
410
100
Kết quả bảng trên cho thấy, phần lớn các taxon tập trung trong ngành

với 298 loài, chiếm 72,68% tổng số loài. Các họ điển hình là Long não
(Lauraceae) - 56 loài, Na (Annonaceae) - 46 loài, Cúc (Asteraceae) - 35 loài,
Cam (Rutaceae) - 33 loài, Gừng (Zingiberaceae) - 32 loài, Cỏ roi ngựa
(Verbenaceae) – 24 loài và họ ít loài nhất trong số này là họ Bạc hà
(Lamiaceae) và họ Hoa mõm sói (Scrophulariaceae) cùng có 16 loài.
3.1.3. Đa dạng về bậc chi
Với 10 chi đa dạng nhất trong số 180 chi của các loài thực vật có tinh
dầu (từ 7-20 loài) chiếm 5,56% tổng số chi nhưng có 112 loài chiếm 27,32%
tổng số loài, gồm các chi như: Hồ tiêu (Piper) - 20 loài, Màng tang (Litsea)
- 17 loài, Quế (Cinnamomum) và Riềng (Alpinia) cùng với 12 loài, Trâm
(Syzygium) - 10 loài, Lưỡi thảo (Lindernia) và Quần đầu (Polyalthia) cùng
với 9 loài; Nhài (Jasminum) và Gừng (Zingiber) cùng 8 loài và Re trắng
(Phoebe) với 7 loài.
3.1.4. So sánh thành phần loài cây tinh dầu ở VQG Bến En với VQG
Pù Mát và Việt Nam
* So sánh với VQG Pù Mát
Để thấy được tính đa dạng của các loài cây có tinh dầu ở VQG Bến
En, kết quả được so sánh với các loài cây có tinh dầu ở VQG Pù Mát của
Nguyễn Viết Hùng (2017) (Bảng 3.4).
Kết quả bảng 3.4 cho thấy số loài cây có tinh dầu thuộc ngành Thông
(Pinophyta) ở Bến En so với Pù Mát chỉ chiếm 33,33%; tuy nhiên tổng số
loài của ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) của Bến En cao hơn so với Pù
Mát (bằng 114,93%). Trong khi đó, diện tích của Bến En chỉ chiếm 17,02%
so với Pù Mát và thảm thực vật ở Bến En chỉ có phân bố ở đai thấp (từ 500
12


m trở xuống) còn ở Pù Mát có cả đai cao và đai thấp (cao đến 1.800 m). Như
vậy, kết quả trên cho thấy, số loài cây chứa tinh dầu ở Bến En cao hơn so
với Pù Mát cho dù diện tích của Pù Mát gấp hơn 6 lần và số loài thực vật

17,02
Tổng
410
100
361
100
113,57
1
Nguyễn Viết Hùng (2017).
* So sánh với Việt Nam
Kết quả nghiên cứu về các loài cây có tinh dầu ở VQG Bến En được
so sánh với Việt Nam được thể hiện ở bảng 3.5.
Bảng 3.5. So sánh cây tinh dầu ở VQG Bến En so với cây tinh dầu của
Việt Nam
Bến En
Việt Nam(2)
Tỷ lệ % Bến
Ngành
En so với
Số loài Tỷ lệ (%) Số loài Tỷ lệ (%)
Việt Nam
Pinophyta
2
0,49
21
3,20
9,52
Magnoliophyta
408
99,51

Nghiên cứu dạng thân của các loài cây có tinh dầu ở VQG Bến En,
dựa vào “Tên cây rừng Việt Nam” đã xác định được 5 dạng thân chính là
cây gỗ lớn, cây gỗ nhỏ, cây thân bụi, cây thân leo và cây thân thảo (Bảng
3.6).
Bảng 3.6. Dạng thân của các loài cây có tinh dầu ở VQG Bến En
TT
Dạng thân

Số loài
Tỷ lệ (%)
hiệu
1
Gỗ lớn (cao từ 16 m trở lên) GOL
83
20,24
2
Gỗ nhỏ (6-16 m)
GON
98
23,90
3
Bụi
BUI
65
15,85
4
Leo trườn
GLT
41
10,00

TT Giá trị sử dụng
Ký hiệu Số lượng Tỷ lệ (%)
1 Nhóm cây làm thuốc
THU
286
69,76
2 Nhóm cây cho gỗ
LGO
101
24,63
3 Nhóm cây làm cảnh
CAN
24
5,85
4 Nhóm cây ăn được
ĂNĐ
69
16,83
5 Nhóm cây cho tinh dầu
CTD
410
100
6 Nhóm cây cho gia vị
CGV
13
3,17
7 Nhóm cây cho dầu béo
CDB
5
1,22

myriacanthum Wall. ex Hook.f.),…
- Nhóm cây cho gỗ với 101 loài chủ yếu thuộc các họ Ngọc lan
(Magnoliaceae) Long não (Lauraceae), Sim (Myrtaceae), Thầu dầu
(Euphorbiaceae),…
3.1.7. Đa dạng về giá trị và bảo tồn
Dựa vào Sách Đỏ Việt Nam (2007), đã thống kê được 8 loài thực vật
có tinh dầu có nguy cơ tuyệt chủng. Trong đó, 01 loài rất nguy cấp (CR) là
Re hương (Cinnamomum parthenoxylon Meisn.); 02 loài nguy cấp (EN) là
Thủy xương bồ lá to (Acorus macrospadiceus (Yam.) F. N. Wei & Y. K. Li)
và Ngũ gia bì gai (Acanthopanax trifoliatus (L.) Voss); 05 loài sẽ nguy cấp
(VU) là Trám đen (Canarium tramdenum Dai et Yakovt.), Bộp trái bầu dục
(Actinodaphne elliptibacca Kosterm.), Gù hương (Cinnamomum balansae
H. Lecomte), Giổi lông (Michelia balansae Dandy), Lá khôi (Ardisia
silvestris Pitard).
3.1.8. Một số đặc điểm của các loài thực vật ở VQG Bến En được phân
tích thành phần hóa học tinh dầu
Phần này tác giả đã trình bày đặc điểm của 19 loài thực vật được phân
tích thành phần hóa học tinh dầu (gồm tên loài, synonym, mô tả, sinh học,
sinh thái, phân bố, giá trị sử dụng, mẫu nghiên cứu, hình vẽ và ảnh mầu).
3.2. Hàm lượng và thành phần hóa học tinh dầu của một số loài cây có
tinh dầu ở Vườn Quốc gia Bến En, Thanh Hóa
3.2.1. Xác định hàm lượng tinh dầu của một số loài thực vật có tinh dầu
ở VQG Bến En, tỉnh Thanh Hóa
Đã có 102 mẫu được thu thập để chiết tinh dầu, trong đó có 83 mẫu
thuộc 40 loài được xác định hàm lượng, các mẫu khác thì hàm lượng tinh
dầu ít hoặc chỉ có vết tinh dầu.
Kết quả phân tích cho thấy, hàm lượng tinh dầu dao động từ 0,10% đến
1,22% trọng lượng tươi; tinh dầu cao nhất ở lá loài Dấu dầu lá chẻ ba
(Tetradium trichotorum Lour.) đạt 1,22% trọng lượng tươi, tiếp đến là hoa
của loài Ngọc lan hoa trắng (Michelia alba DC.) đạt 1,20%,…. Trung bình

2

Cinnamomum
verum



0,45

49

0,18

54

0,12

44

0,45

37



0,21

57




46

17

geraniol (36,2%), terpinen-4-ol
(19,7%), α-pinen (6,0%),
sabinen (6,0%) limonen (5,2%)
linalool(22,0%),
bicyclogermacren (11,2%),βbisabolen (7,7%), caryophyllen
oxit (5,6%)
-caryophyllen
(26,4%),
limonen (12,6%), germacren D
(5,1%), -pinen (4,6%)
limonen (16,8%), -pinen
(11,6%), caryophyllen oxit
(10,0%),
-caryophyllen
(7,2%)
-caryophyllen (21,3%), (E)-ocimen
(14,7%),
limonen
(12,1%), caryophyllen oxit
(8,0%).
linalool
(20,9%),
5-epineointermedol (11,2%), βselinen (7,0%), caryophyllenol
(5,1%)
geraniol


Loài

1

Piper acre

2

Piper
minutistigmum
C. DC.

Hàm Số hợp
Bộ lượng
Tỷ lệ % một số thành
chất
đã
phận
phần chính của tinh dầu
(%) xác định

0,20
46
(E)-nerolidol
(22,7%),
sabinen (19,5%), δ-cadinen
(12,4%)
Thân 0,16
52



0,15

57

Thân

0,21

45



0,20

40

Piper saxicola

-curcumen
(12,0%),
germacren
D
(6,3%),
sabinen
(6,1%),
spathoulenol (5,1%), αcadinol (4,9%)
Sabinen (14,9%), benzyl
salicylat

oligophlebia

Số
Hàm
Bộ lượng chất
Tỷ lệ % một số thành
xác
phận
phần chính của tinh dầu
(%) định
được
sabinen (36,9%), 3,6dimethylpiperazin-2,5-dion
Lá 0,35 43 (7,6%),
β-caryophyllen
(6,1%), γ-terpinen (3,7%),
bicycloelemen (3,7%)
Lá 0,43 41 α-pinen (17,5%), βcaryophyllen (15,5%),
caryophyllen oxit (10,6%)
19


3

4

Atalantia
sessiliflora

Quả


quả thuộc 6 loài trong họ Gừng (Zingiberaceae) được tổng hợp qua bảng
3.34. Hàm lượng tinh dầu biến động từ 0,14%-0,32% trọng lượng tươi. Tinh
dầu đều có màu vàng nhạt, nhẹ hơn nước và có mùi thơm dễ chịu. Các thành
phần hóa học được xác định chiếm từ 94,1%-99,5% tổng lượng tinh dầu.
Trong tinh dầu chủ yếu là các monotecpen, sesquitecpen.
Bảng 3.34. Các thành phần chủ yếu trong tinh dầu ở các bộ phận khác
nhau của một số loài thuộc họ Gừng (Zingiberaceae) ở VQG Bến En, tỉnh
Thanh Hóa
Số hợp
Hàm
Bộ
chất xác Tỷ lệ % một số thành phần
lượng
TT
Loài
phận
chính của tinh dầu
định
(%)
được
β-pinen (12,1%), α-gurjunen
(10,5%), (Z)-13-docosenamit
Alpinia
1
Lá 0,16
73
(9,0%), γ-terpinen (4,8%),
globosa
farnesol (4,3%)
β-eudesmol (33,3%), β-pinen

Rễ

0,20

32

4

Alpinia
tonkinensis



0,21

51



0,22

22

Thân 0,19

35

5

Amomum

51

-pinen (30,8%), -caryophylen
(13,0%), caryophyllen oxit
Lá 0,14
55
(12,0%), -pinen (7,8%)
zerumbon
(51,3%),
Zingiber
6
caryophyllen
oxit
(5,7%),
Thân 0,18
26
zerumbet
camphor (5,2%)
zerumbon (51,3%), camphor
Rễ 0,31
27
(6,7%), humulen epoxit I
(6,4%)
3.3. Kết quả thử hoạt tính kháng muỗi và kháng vi sinh vật kiểm định
của loài Gừng gió (Zingiber zerumbet (L.) Smith))
3.3.1. Thử hoạt tính kháng muỗi
Thử hoạt tính kháng muỗi và ấu trùng muỗi của tinh dầu thân rễ loài
Gừng gió (Zingiber zerumbet) cho thấy có khả năng diệt muỗi trưởng thành
21


còn thiế u, sự phố i hơ ̣p giữa Ban quản lí VQG với các đơn vi,̣ tổ chức chưa
tố t; sự hiểu biết về cây tinh dầu còn nhiều hạn chế; nhiều loại cây tinh dầu
hiện nay đã bị suy giảm so với trước đây.
3.4.2. Các giải pháp bảo tồn và khai thác hợp lý nguồn tài nguyên thực
vật có tinh dầu ở VQG Bến En
Nguồn tài nguyên thực vật có tinh dầu là bộ phận quan trọng trong
nguồn tài nguyên rừng cần được bảo tồn và khai thác hợp lí, vì vậy song
song với bảo tồn nguồn tài nguyên thực vật có tinh dầu cần phải gắn liền với
phát triển, khai thác và sử dụng có hiệu quả. Gắn bảo tồn với việc phát triển
cây tinh dầu ở vùng đệm (ex situ) tạo nguồn lợi, nâng cao thu nhập và mức
sống cho cộng đồng dân cư.
Trong khuôn khổ giới hạn của đề tài nghiên cứu, bước đầu luận án đã
đề xuất 3 nhóm giải pháp bảo tồ n và khai thác hợp lý nguồn tài nguyên thực
22


vật có tinh dầu ở VQG Bến En: Nâng cao nhận thức cho cộng đồng; Nhóm
giải pháp về công tác quản lý; Nhóm giải pháp ki ̃ thuâ ̣t.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
1. Kết quả nghiên cứu, bước đầu xác định được 410 loài thực vâ ̣t chứa
tinh dầ u thuô ̣c 180 chi, 45 họ, 02 ngành thực vật bậc cao có mạch Ngọc lan
(Magnoliophyta) và Thông (Pinophyta) ở VQG Bến En. Trong đó, đã ghi
nhận bổ sung 01 loài cho hệ thực vật Việt Nam là Tiêu bến en (Piper
minutistigmum C. DC.).
2. Các loài cây có tinh dầu thuộc 5 dạng thân chính, trong đó nhiều
nhất là cây thân thảo 123 loài (30%), tiếp đến là cây gỗ nhỏ 98 loài (23,9%),
cây gỗ lớn 83 loài (20,24%) cây bụi (65 loài (15,85%) và cây leo trườn 41
loài (10%).
3. Ngoài tinh dầu, nhiều loài trong 410 loài còn cho các giá trị sử dụng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status