BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
--oo0oo---
NGUYỄN NGỌC PHÚC
ĐÁNH GIÁ CÁC YẾU TỐ VỀ HÀNH VI,
KINH TẾ XÃ HỘI, MÔI TRƯỜNG SỐNG LIÊN
QUAN ĐẾN HỘI CHỨNG RUỘT KÍCH THÍCH TẠI
BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP. HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: KINH TẾ PHÁT TRIỂN (QUẢN TRỊ SỨC KHỎE)
Mã số: 8310105
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. LƯU NGỌC BẢO ĐOAN
TP. Hồ Chí Minh – 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
--oo0oo---
NGUYỄN NGỌC PHÚC
ĐÁNH GIÁ CÁC YẾU TỐ VỀ HÀNH VI,
KINH TẾ XÃ HỘI, MÔI TRƯỜNG SỐNG LIÊN
QUAN ĐẾN HỘI CHỨNG RUỘT KÍCH THÍCH TẠI
BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP. HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
4. Ý nghĩa thực tiễn ............................................................................................... 3
5. Cấu trúc luận văn .............................................................................................. 4
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN.............................. 5
1. Tổng quan lý thuyết .......................................................................................... 5
1.1 Tổng quan về bệnh Hội chứng ruột kích thích (IBS) ..................................... 5
1.2 Cơ sỡ lý thuyết về kinh tế học của IBS .......................................................... 9
2. Lượt khảo các nghiên cứu thực tiễn ................................................................ 10
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .................................................. 23
1. Khung phân tích .............................................................................................. 23
2. Mô hình phân tích ........................................................................................... 23
3. Giả thuyết nghiên cứu ..................................................................................... 30
4. Dữ liệu: ........................................................................................................... 35
5. Thiết kế nghiên cứu: ....................................................................................... 36
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ PHÂN TÍCH ................................................................. 39
1. Tổng quan ....................................................................................................... 39
2. Mô tả mẫu nghiên cứu .................................................................................... 40
3. Kết quả phân tích ............................................................................................ 43
3.1
Các nhân tố tác động đến IBS: Kiểm định phi tham số ........................... 43
3.2
Kết quả hồi quy logistic ........................................................................... 53
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH ...................................... 55
1. Tóm lượt phương pháp nghiên cứu................................................................. 55
1.1
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1
Các nghiên cứu tác động giữa hút thuốc lá và IBS
Bảng 2.2
Những yếu tố ảnh hưởng đến IBS
Bảng 3.1
Định nghĩa tóm tắt các biến sử dụng trong mô hình
Bảng 4.1
Tỷ lệ đối tượng tham gia nghiên cứu phân theo tuổi, giới tính, dân tộc
Bảng 4.2
Đặc điểm tuổi của đối tượng tham gia nghiên cứu
Bảng 4.3
Tỷ lệ đối tượng tham gia nghiên cứu phân theo khu vực sống, nghề
nghiệp, trình độ học vấn, hôn nhân
Bảng 4.4
Bảng 4.12
Tương quan giữa IBS và mức độ căng thằng
Bảng 4.13
Tương quan giữa IBS và hút thuốc
Bảng 4.14
Tương quan giữa IBS và rượu bia
Bảng 4.15
Tương quan giữa IBS và cafe
Bảng 4.16
Tương quan giữa IBS và thức uống có gas
Bảng 4.17
Tương quan giữa IBS và vận động
Bảng 4.18
Tương quan giữa IBS và thời gian ngủ
Bảng 4.19
động. Ngoài ra, theo nghiên cứu của Rajaa Chatila (2017), gánh nặng kinh tế của
IBS cũng rất đáng kể đối với hệ thống y tế. Chi phí trực tiếp hàng năm để chẩn đoán
và điều trị IBS ở Hoa Kỳ được ước tính từ 1,7 đến 10 tỷ đô la. Các chi phí gián tiếp
về mặt nghỉ học, ngày làm việc bị mất, tàn tật sẽ tăng gấp đôi số tiền ước tính là chi
phí trực tiếp.
Tại Việt Nam, theo một nghiên cứu của Võ Thị Thúy Kiều (2015) về sự lưu hành
và các yếu tốt nguy cơ từ chế độ dinh dưỡng của IBS trong cộng đồng sinh viên
Việt Nam cho thấy tỷ lệ mắc IBS vào khoảng 10,3 %, trong đó nữ chiếm 10,6% và
nam là 9,9% (đánh giá dựa trên tiêu chuẩn ROME III). Nghiên cứu về IBS là đề tài
khá phổ biến trên thế giới ở các quốc gia phát triển như Mỹ, Anh, một số nghiên
cứu ở khu vực trung đông như nghiên cứu tại Lebanon trên nhiều lĩnh vực dịch tễ
học, hành vi, đặc tính cá nhân, đặc tính kinh tế xã hội, hướng can thiệp. Tuy nhiên
trong lĩnh vực kinh tế, khi mà các lý thuyết về vốn con người, vốn xã hội chưa được
quan tâm phân tích nhiều, như vậy các yếu tố kinh tế xã hội có tác động như thế nào
đến IBS. Các nghiên cứu tại Việt Nam về IBS chủ yếu tập trung vào bệnh học,
phương pháp chẩn đoán, can thiệp, chưa đánh giá nhiều sự lưu hành bệnh và các
yếu tố liên quan dựa trên góc độ kinh tế. Một nghiên cứu của Siah, Wong năm 2016
2
(Siah, Wong, Chan, Ho, & Gwee, 2016) về tỷ lệ lưu hành và mối liên quan của IBS
với lối sống, môi trường sống, chế độ dinh dưỡng đã đề cập đến vấn đề tăng trưởng
kinh tế một cách nhanh chóng và đô thị hóa đã chuyển đổi môi trường mang lại
những thay đổi mạnh mẽ về kinh tế - xã hội, là nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi về
lối sống, nhiều người trở nên ít vận động, chế độ ăn uống không hợp lý. Những yếu
tố này có thể trực tiếp hoặc gián tiếp góp phần vào những thay đổi trong dịch tể học
và gia tăng tỷ lệ mắc IBS trong cộng đồng. Do vậy, các nghiên cứu về IBS liên
quan đến môi trường sống, kinh tế xã hội đang được giới chuyên gia của nhiều nước
quan tâm, điển hình ở một số nghiên cứu tại Singapore, Lebanon, (Basandra &
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Yếu tố tác động và xu hướng tác động của các yếu tố kinh tế xã hội, đặc tính cá
nhân, hành vi đến IBS.
- Đề ra giải pháp, hướng can thiệp để làm giảm tỷ lệ mắc IBS trong cộng đồng.
3. Phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là những bệnh nhân đến khám tại phòng khám tiêu hóa
bệnh viện trường Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh. Đối tượng được lựa chọn ngẫu
nhiên trong đó sẽ có đối tượng mắc IBS và không mắc IBS dựa trên chẩn đoán của
bác sĩ lâm sàng tại bệnh viện. Nhóm đối tượng sẽ có các yêu tố về kinh tế xã hội,
hành vi, đặc điểm từng cá nhân đa dạng, đủ để đại diện cho đặc điểm dân số tại TP.
Hồ Chí Minh và các vùng lân cận như Đồng Bằng sông Cửu Long và khu vực Đông
Nam Bộ vì các đối tượng đến khám và điều trị là ở TP. Hồ Chí Minh và các vùng
lân cận. Thời gian thực hiện nghiên cứu của nhóm nghiên cứu từ 15/04/2018 đến
15/05/2018.
4. Ý nghĩa thực tiễn
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu (Alsuwailm, AL-Qahtani, AL-Hulaibi, &
Shehabeldeen, 2017; Basandra & Bajaj, 2014; Costanian et al., 2015; Chatila et al.,
2017; Siah et al., 2016) đưa ra được các yếu tố về hành vi, điều kiện kinh tế xã hội
và đặc tính của mỗi cá nhân tác động đến IBS (Chatila et al., 2017). Sở dĩ IBS được
các nghiên cứu gia trên thế giới quan tâm nhiều cả ở những nước phát triển và đang
phát triển là do tỷ lệ mắc IBS trong cộng đồng ngày càng tăng, chiếm một tỷ lệ
không nhỏ trong dân số (Canavan et al., 2014; Siah et al., 2016). Tại Việt Nam,
cộng đồng vẫn chưa có nhiều thông tin cũng như đánh giá đúng về những tác động
xấu của bệnh đến sức khỏe và sinh hoạt thường ngày vì chưa có nhiều nghiên cứu
của giới chuyên gia về tác động của bệnh đến sức khỏe và sinh hoạt. Mặc dù trên
4
thực tế, đây là căn bệnh có thể nói đang diễn ra ngấm ngầm và ảnh hưởng rất nhiều
5
Dựa vào kết quả nghiên cứu để kết luận, nêu ra hạn chế của nghiên cứu và đề
xuất giải pháp, hàm ý chính sách của nghiên cứu.
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN
1. Tổng quan lý thuyết
1.1 Tổng quan về bệnh Hội chứng ruột kích thích (IBS)
IBS là một rối loạn chức năng mãn tính của hệ thống dạ dày-ruột. Bệnh nhân
có các triệu chứng như đau bụng và thói quen ruột thay đổi, với các thể như chủ yếu
là tiêu chảy (IBS-D), chủ yếu là táo bón (IBS-C), hoặc thể hiện cả hai: tiêu chảy và
táo bón (IBS-M) (Lekha Saha, 2014). Tùy thuộc vào các tiêu chuẩn chẩn đoán được
sử dụng, IBS ảnh hưởng đến khoảng 11% dân số trên toàn cầu (Canavan et al.,
2014). Khoảng 30% những người gặp các triệu chứng của IBS sẽ diễn giải cho bác
sĩ hiểu vấn đề của họ. Trên bình diện quốc tế, tỷ lệ hiện mắc của nữ giới chiếm ưu
thế hơn (Canavan et al., 2014). Dưới 25% những người bị IBS ở độ tuổi trên 50
không có liên quan đến tình trạng kinh tế xã hội (Canavan et al., 2014). Ở đa số các
nước phương Tây, tỉ lệ mắc IBS vào khoảng 20% trong khi đó ở châu Á, tỉ lệ này
thay đổi từ 2.9% đến 15.6%, trong khi ở Anh quốc, tỉ lệ này chiếm 10-22% dân số
và có xu hướng ngày càng tăng, trong đó tỉ lệ nữ giới mắc bệnh cao gấp 2 lần nam
giới (Canavan et al., 2014). Trong một nghiên cứu mới nhất về Hội chứng ruột kích
thích của tác giả Tarek Mazzawi và cộng sự, 2017 tỷ lệ IBS chiếm 5-20% dân số
thế giới. Tại Châu Âu là 11,5%, 12,1% ở Canada, 4,7% tại Mỹ, 6,9% ở Úc, 34% ở
Ai Cập, 4% tại Ấn Độ và Trung Quốc từ 4,6-5,6%. (Mazzawi & El-Salhy, 2017)
Theo Tổ chức Tiêu hóa thế giới (World Gastroenterology Organization,
2009), IBS ảnh hưởng tới 9-23 % dân số trên toàn thế giới và vẫn không giảm trong
nhiều năm (L. Saha, 2014). Tỷ lệ mắc IBS ở các nước có sự khác nhau đáng kể là
do sự khác biệt về lối sống và cũng phụ thuộc vào tiêu chuẩn chẩn đoán được sử
dụng. Tỷ lệ mắc IBS đang có xu hướng gia tăng ở khu vực Châu Á – Thái Bình
Dương, đặc biệt ở các nước có nền kinh tế đang phát triển. Ở hầu hết các nước
yếu tố trên gộp lại có thể chẩn đoán bệnh nhân mắc IBS.
7
Bảng 2.1.1 Tóm tắt tiêu chuẩn chẩn đoán dùng để xác định IBS
Tiêu chuẩn chẩn đoán
Triệu chứng, dấu hiện và nghiên cứu cấp độ phòng thí
nghiệm trong tiêu chuẩn
Maning (1978)
IBS được định nghĩa là xuất hiện các triệu chứng dưới
đây, tuy nhiên thời gian xuất hiện triệu chứng và số
lượng triệu chứng cần có để chẩn đoán bệnh không được
đề cập trong bài báo. Tuy nhiên, ngưỡng từ 3 triệu chứng
được sử dụng nhiều nhất.
Kruis (1984)
IBS được xác định bởi mô hình hồi quy logistic, các triệu
chứng cần xuất hiện và lặp đi lặp lại trong hơn 2 năm.
Rome I (1990)
Đau bụng hoặc khó chịu nhẹ khi đi vệ sinh, hoặc kết hợp
với sự thay đổi về tần số phân và sự nhất quán về hình
dạng phân. Cộng với ít nhất 2 triệu chứng sau đây trong
ít nhất 25% các trường hợp hoặc 25% số ngày trong 3
8
- Cải thiện tình trạng sau khi đi vệ sinh
- Sự khởi phát liên quan đến thay đổi số lần đại tiện
- Sự khởi phát liên quan đến thay đổi hình dạng phân
Rome IV (2016)
Tình trạng đau bụng xảy ra thường xuyên, trung bình ít
nhất 1 ngày/tuần trong 3 tháng qua, liên quan đến hai
hoặc nhiều tiêu chí sau:
- Liên quan đến việc đi tiêu
- Liên quan đến sự thay đổi tần số đi tiêu
- Liên quan đến sự thay đổi về hình thức (hình dạng)
của phân
Dựa trên tiêu chuẩn chẩn đoán ROME III, IBS được chia thành 3 nhóm bệnh
nhân: (1) IBS với triệu chứng táo bón là chủ yếu (IBS-C); (2) IBS với triệu chứng
tiêu chảy là chủ yếu (IBS-D); (3) IBS hỗn hợp với cả 2 triệu chứng tiêu chảy và táo
bón (IBS-M). Tùy thuộc vào từng loại IBS mà cách biểu hiện của mỗi bệnh nhân có
thể khác nhau theo thời gian. Dựa trên các báo cáo ca lâm sàng thì các triệu chứng
như đau bụng, căng thẳng, đau cơ, sự cấp bách để đi tiêu, đầy hơi hoặc cảm giác ốm
nặng là các biểu hiện phổ biến của bệnh. Sự phức tạp và đa dạng trong triệu chứng
của IBS làm cho việc điều trị trở nên khó khăn, mặc dù đã có những đánh giá và
hướng dẫn điều trị IBS để làm giảm tối đa các triệu chứng bệnh. (Lekha Saha,
2014)
Vì biểu hiện đặc điểm ở mỗi bệnh nhân khác nhau nên mối quan hệ khăn khít
giữa bác sĩ và bệnh nhân để bác sĩ dễ dàng tiếp cận, nhìn nhận đặc điểm bệnh lý của
bệnh nhân góp phần điều trị hiệu quả và đạt được kết quả như kỳ vọng (Occhipinti
& Smith, 2012). Nhiều bệnh nhân mắc IBS đã phải điều trị y khoa trong nhiều năm
thể hiện khả năng tiếp cận dịch vụ y tế và chế độ điều kiện cung cấp môi trường
sống cho đối tượng tham gia nghiên cứu, có thể ảnh hưởng đến bệnh. Do đó, mô
hình được thể hiện như sau (Becker, 1981) (Grossman, 1972)
Hi = h(x1, x2, x3,, π)
Trong đó: x1: Các đặc tính của đối tượng tham gia nghiên cứu như tuổi, giới
tính, cân nặng lúc mới sinh
10
x2: Hành vi của đối tượng tham gia nghiên cứu
x3: Đặc tính kinh tế xã hội (hay nói cách khác là khả năng tiếp cận
dịch vụ y tế và chế độ điều kiện cung cấp môi trường sống cho đối tượng tham gia
nghiên cứu)
µ: Sai số không quan sát được và giả định là không liên quan đến biến
x
(ví dụ: di truyền)
2. Lượt khảo các nghiên cứu thực tiễn
Nghiên cứu của Rajaa Chatila (2017) (Chatila et al., 2017) về tỷ lệ lưu hành
IBS, các yếu tố nguy cơ có liên quan đến bệnh trong cộng đồng người trưởng thành
tại Lebanon. Dữ liệu được thu thập tại các ngân hàng ở Lebanon thông qua bảng
câu hỏi về các yếu tố kinh tế xã hội hành vi liên quan đến IBS và câu hỏi chẩn đoán
IBS theo tiêu chuẩn ROME III. Nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê Chisquare và hồi quy logistic để xác định yếu tố liên quan và xu hướng tác động của
các yếu tố đến IBS. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ IBS trong mẫu nghiên cứu
theo tiêu chuẩn ROME III là 20,1%. Người dưới 30 tuổi, phụ nữ, người hút thuốc
lá, uống rượu có liên quan đáng kể đến sự phổ biến của IBS. Phụ nữ có nguy cơ
mắc IBS cao hơn 1,67 lần so với nam giới. Người uống rượu có nguy cơ cao gấp
đôi so với người không uống rượu.
Một nghiên cứu khác tại Lebanon của tác giả Christy Costanian (2015)
(Costanian et al., 2015) khảo sát tỷ lệ mắc IBS và các yếu tố tác động đến bệnh
độc thân (30,9%) tuy nhiên không có khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Sinh
viên có hoạt động thể chất (tập thể dục) có tỷ lệ IBS thấp hơn đáng kể so với các
nhóm khác (OR=0.59; 95% CI: 0.42-0.85), béo phì và những sinh viên ngủ ít hơn
8h mỗi ngày có tần suất mắc IBS cao hơn các nhóm khác.
Trong một nghiên cứu của Mansouri năm 2017, tập trung vào các yếu tố kinh
tế, xã hội có tác động đến IBS. Dữ liệu nghiên cứu từ 1.850 đối tượng từ 15 tuổi trở
lên từ Kish Island (Iran). Kết quả nghiên cứu cho thấy có 21,67% đối tượng mắc
IBS. Dùng mô hình hồi quy logistic đa biến cho kết quả các biến tuổi, giới tính,
trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân, sự lo âu và tình trạng sức khỏe yếu kém là
các yếu tố tác động đến IBS. Tỷ lệ và nguy cơ mắc IBS cao hơn ở những người có
trình độ học vấn cao so với những người có trình độ học vấn thấp. Điều này cũng
tương tự như kết quả nghiên cứu của Ibrahim năm 2016 (N. K. Ibrahim et al.,
2016), mức độ phổ biến của IBS trong các y tá có trình độ đại học trở lên cao hơn
12
nhóm còn lại. Kết quả của Mansouri cũng cho thấy tỷ lệ IBS cao hơn ở những
người thất nghiệp, đối tượng trong độ tuổi từ 26-50, đã ly dị, những người hay lo
lắng và có trình độ học vấn từ trung học trở lên. Một nghiên cứu khác của
Modabbernia cũng tại một tỉnh ở Iran, cho kết quả tỷ lệ mắc IBS cao hơn ở nhóm
đối tượng thất nghiệp. Trong một nghiên cứu về tác động của khủng hoảng kinh tế
liên quan đến tình trạng thất nghiệp và sức khỏe. Tác giả đưa ra nhận định thất
nghiệp và mất nguồn thu nhập có thể dẫn đến sụt cân và gia tăng các hành vi có
nguy cơ gây hại cho sức khỏe như uống rượu bia, hút thuốc lá nhiều hơn, giảm hoạt
động thể chất. Thất nghiệp còn làm giảm sức khỏe tâm thần với nhiều nguyên do
như: mất lòng tự trọng, bi quan về tương lai (Urbanos-Garrido & Lopez-Valcarcel,
2015). Những yếu tốt vừa kể trên đều là những nhân tố làm tăng nguy cơ mắc IBS ở
nhiều nghiên cứu trên thế giới.
Nghiên cứu của Chowdhury năm 2018 nhằm đánh giá các yếu tố lối sống và
dụ, một nghiên cứu báo cáo rằng phụ nữ có tần suất IBS cao hơn nam giới với tỷ lệ
2:1 (Wells, Roth, McWilliam, Thompson, & Chande, 2012). Một nghiên cứu khác
được tiến hành tại Pakistan với 360 sinh viên y khoa đã phát hiện ra rằng phụ nữ có
sự gia tăng đáng kể về IBS khi so sánh với các bạn của mình (Naeem et al., 2012).
Ngoài ra, một nghiên cứu của Ấn Độ trong số các sinh viên y khoa đã báo cáo rằng
phụ nữ có liên quan đến tỷ lệ IBS cao hơn (Basandra & Bajaj, 2014). Các nghiên
cứu cho thấy tỷ lệ hiện mắc IBS cao hơn trong số các nữ sinh viên liên quan đến sự
thiên vị giới tính của căn bệnh với đặc điểm xã hội và hành vi chăm sóc sức khoẻ
của họ. Ngoài ra, thêm các triệu chứng IBS cho những phiền toái gặp phải trong chu
kỳ kinh nguyệt cũng có thể giải thích số phụ nữ mắc chứng IBS cao hơn
(Triadafilopoulos, Finlayson, & Grellet, 1998). Mặc khác, các nghiên cứu cho thấy
tỉ lệ mắc IBS cao hơn ở nam giới đề cập đến hàng rào văn hoá là yếu tố có thể giới
hạn sinh viên nữ báo cáo căn bệnh này (Jafri, Yakoob, Jafri, Islam, & Ali, 2005)
Sự chênh lệch ở tỷ lệ mắc IBS cũng được thể hiện qua tình trạng hôn nhân của
đối tượng tham gia nghiên cứu trong nghiên cứu của Mansouri (Mansouri et al.,
2017). Nghiên cứu cho thấy nguy cơ mắc IBS cao hơn ở nhóm đối tượng đã ly dị và
độc thân so với đối tượng đã kết hôn. Kết quả cũng tương đồng với một nghiên cứu
khác (Ahmed, Mohamed, Sliem, & Eldein, 2011). Theo Ahmed, nguy cơ mắc IBS
cao hơn ở nhóm độc thân và li dị có thể là do yếu tố trách nhiệm và áp lực trong
nhóm này gánh chịu cao hơn nhóm đã lập gia đình.
14
Một nghiên cứu về tỷ lệ mắc IBS ở thành thị và nông thôn nước Ý (Usai et al.,
2010). Nghiên cứu gồm 950 đối tượng cho mỗi nhóm ở thành thị và nông thôn, các
đối tượng sẽ được chọn ngẫu nhiên và trả lời một bộ câu hỏi liên quan đến điều kiện
kinh tế xã hội và bảng câu hỏi theo tiêu chuẩn ROME II để chẩn IBS. Kết quả
nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mắc IBS cao hơn hẳn ở thành thị so với nông thôn có ý
nghĩa thống kê. Đây là một nghiên cứu nền tảng và có nhiều ý nghĩa cho các nghiên
(Farzaneh et al.,
Iran
NC cắt ngang
195 phụ nữ (49%,
Hút thuốc lá có tác động đến IBS
2012)
n=95 mắc IBS và 51% trong nhóm đối tượng là phụ nữ
thuộc nhóm không
(OR=6,19, 95%CI[1,03;37,19], p =
mắc bệnh)
0,04)
122 nam giới (47,5%,
Hút thuốc không có tác động đến IBS
n=58 mắc IBS và
trong nhóm nam giới (OR = 1,52; 95%
IBS
16
(Y. Y. Lee, Waid,
221 đối tượng từ cộng
Hút thuốc lá không có tác động tới
Tan, Chua, &
đồng (10.9%, n = 24,
IBS
Whitehead, 2012)
mắc IBS)
(S. P. Lee et al.,
Malaysia
Hàn Quốc
NC cắt ngang
sức khỏe 4,296 (9.1%,
n = 393, mắc IBS)
(Hsu et al., 2015)
Đài Loan
NC cắt ngang
806 bệnh nhân trong
Hút thuốc lá không có tác động đến
nhóm kiểm tra sức
IBS (OR = 1.18, 95%CI [0.54, 2.61])
khỏe (9.8%, n = 79,
mắc IBS)
(Roth, Gustafsson,
Thụy Điển
NC cắt ngang
131 phụ nữ sinh thiết
Tại thời điểm khảo sát, hút thuốc lá có
Jeppsson, Manjer, &