nghiên cứu đối chiếu phương thức biểu hiện thời gian trong tiếng hàn và tiếng việt - Pdf 55

V IỆ N H À N L Â M

NGHI

THỨC BIỂU HU
ỉ k TIẾNG VIỆT

H a n o i U niversity

000081673

HÀ NỘI - nãm 2014


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu thống
kê, kết quả trong luận án là tru n g thực và chưa được ai công bố trong bất kì
công trình kh o a học nào khác .

TÁ C GLẢ LU Ậ N Á N

N G H IÊ M TH Ị T H U H Ư Ơ N G


V IỆN HÀ N LÂ M
K H O A H Ọ C XẢ HỘI V IỆT N AM
H Ọ C V IỆN K H O A H Ọ C XÃ HỘI

N G H IÊ M THỊ T H U H Ư Ơ N G



4

3.

L ịc h sử vấn đề

5

3.1 P h ạ m trù “th ờ i” và “th ể ” tro n g các nghiên cứu ngôn ngữ học
3.2 P h ạm trù “thời” và “thể” trong các nghiên

cứu ứng dụng giảng

5
10

dạy tiến g Hàn
4.

P h ư ơ n g pháp và thủ pháp nghiên cứu

12

5.

Đ ổ i tượng, phạm vi và cứ liệu nghiên cứu

13


V ẩ n đề thời và thể tro ng tiến g H àn v à tiếng V iệt

1.2 C ác phạm trù ngữ pháp liên quan đến thời gian

27

12.1 v ề phạm trù “th ờ i”

27

1.2.2. v ề phạm trù “th ể”

29

13 V ấn đề thòi gian ngữ pháp

trong tiếng Hàn và tiếng Việt

31

1.3.1 T h ờ i gian ngữ pháp tro n g

tiếng H àn

31

1.3.2 T h ờ i gian ngữ pháp tro n g tiến g

V iệt


V iệt
3.2.1 “ Đ ã ” , “ đ an g ” , “sẽ” với phư ơ ng thức biểu hiện ý nghĩa thời
gian tro n g tiến g V iệt

3.2.2 v ề

“đ ã "

3.2.3 v ề “đang”
3.2.4 v ề “sẽ”
3.2.5 N h ậ n xét
3 .3 Đ ối ch iếu p h ư ơ n g thứ c biểu hiện thời gian trong tiếng Hàn
và tiến g V i ệ t : K hảo sát trư ờn g hợp
3.3.1 Sự k h ác biệt về đặc điểm loại hình giữ a tiếng H àn và tiếng
V iệt liên q u an đến khảo sát
3.3.2 Đ ố i ch iếu cách dịch thời q u á khứ, hiện tại, tư ơng lai trong
tiến g H àn san g tiến g V iệt và ngư ợc lại
3.4 M ột số kết quả đ ối chiếu


D A N H M Ụ C C Á C BẢNG

Bảnơ 2.1 Ý nghĩa thời tương lai trong

và ~

s

si



Trang 99

Biểu : C huyển từ tương lai tiếng H àn sang “sẽ” , “sắp” tiếng Việt

Trang 101


1

M Ở ĐẦU

1.

LÝ DO LỰ A CHỌN ĐỀ TÀI
1)

Cùng với không gian làm trục hoành, thời eian làm trục tung trên tọa độ

trong đời sốne của con người mọi naôn ngừ đều có các phạm trù không gian, thời
gian và những phươne tiện biểu hiện tương ứne. Đó có thể là phương tiện từ vựng
hoặc phương tiện neữ pháp. Có thê nói ngôn ngừ nào cũng sử dụng một lóp từ vựng
nhằm định vị không gian và thời aian trong các tình huống giao tiếp. Đây là một
điểm chuns của các neôn ngữ. Yếu tố tạo nên sự khác biệt giữa chúng là phương
thức sử dụng các phương tiện ngôn ngữ sẵn có trong chức năng biêu thị không gian,
và thời gian. Thực vậy có ngôn ngừ ưu tiên các phương tiện từ vựng, ít sử dụng các
yếu tố khác. Ngược lại có ngôn ngừ khai thác tối đa các hình thái động từ, hoặc các
hình thái tổ kết hợp với vị từ để diễn đạt các ý nghĩa ngữ pháp liên quan đến thời
gian một cách rất tinh tể. Hiện tượng này bắt nguồn từ sự khác biệt trong tri nhận về
thời gian, từ đặc điểm tư duy và từ văn hoá giao tiếp của các dân tộc. Tiếng Hàn và

ứng dụng vào dạy và học ngoại ngữ như vậy là rất cần thiết.
3) Trước xu hướng hợp tác quốc tế nói chung và giao lưu giữa hai nước Việt
Nam - Hàn Quốc nói riêng, nhu cầu học tập và nghiên cứu ngoại ngừ tiếng Hàn
đang tăng cao. Hơn bao giờ hết giảng viên và sinh viên càn được tham khảo những
công trình nghiên cứu mang giá trị ứng dụng trong học tập và nghiên cứu tiếng Hàn.
Hiện nay, ở Việt Nam đã có 15 trường Đại học, cao đẳng tổ chức đào tạo, giảng dạy
ngôn ngữ và văn hóa Hàn Quốc, ở Hàn quốc cũng có 5 trường đại học thành lập
khoa tiếng Việt và tổ chức giảng dạy ngành Việt ngữ học. Những năm đầu, hàng
năm, cả nước chi có 100 sinh viên ngành tiếng Hàn được tuyển vào hệ đào tạo chính
quy thì giờ đây. số lượng sinh viên chính quy mồi năm đã tăng lên đến gần 1.000
người. Sinh viên ngành tiếng Hàn ở các trường đào tạo chính quy khi tốt nghiệp ra
trường đều tìm được việc làm theo đúng chuyên môn được đào tạo.


3

“Hàn Quốc" và “tiếng Hàn Quốc" đã trơ thành những cụm từ quen thuộc với
người dân Việt Nam. Đầu tư của Hàn Quốc tại Việt Nam tiếp tục được mờ rộng.
Theo số liệu thốne kê cùa Cục xúc tiến thương mại. hiện nay Hàn Quốc đang là
quốc 2 Ĩa dẫn đầu trons đầu về số lượne dự án dầu tư vào Việt Nam (với 3250 dự
án) và là quốc gia đứng thứ tư về tổng số vốn đàu tư. Việt Nam cũng là quốc gia
dứng thứ nhất trong số các quốc gia tiếp nhận viện trợ phát triển (ODA) cua Hàn
Quốc. Giao lưu siữa nhân dân hai nước Hàn-Việt cũng phát triên dưới nhiêu hình
thức đa đạne. Theo số liệu thốns kê tính đến tháne. 12 năm 2012 thì có khoảng
100.000 người Hàn Quốc đang sinh sống và làm việc tại Việt Nam (tại thành phố
Hồ Chí Minh và lân cận là 85 nghìn người, tại Hà Nội và vùng ngoại vi khoáng 15
nghìn người). Ngược lại, cũng có 120.468 người Việt Nam đang sinh sống và làm
việc tại Hàn Quốc. Tổng cục du lịch Hàn Quốc cũng cho biết, chỉ năm 2012 đã có
700.917 người Hàn Quốc đến du lịch ở Việt Nam và 32.141 người Việt Nam đến
thăm Hàn Quốc. Mỗi tuần có 182 chuyến bay qua lại giữa hai nước, và Hàn Quốc là


LỊCH SỬ VÁN ĐỀ

3.1 Phạm trù “thòi” và “thể” trong các nghiên cứu ngôn ngũ học
Theo đánh giá mới đây của Unesco, trên thế giới có 6800 ngôn ngữ. Chúng ta
đều biết trong đa số trường họp. những gì được biểu đạt ở ngôn ngữ này cũng có thê
được thể hiện ở các naôn neữ khác. Điều này có nghĩa các ngôn ngữ đều có những
năng lực phổ quát nhất định. Tuy nhiên mỗi ngôn ngừ lại có những năng lực đặc thù
phan ảnh tính đặc trưng của loại hình ngôn ngừ và đặc trưng văn hóa của dân tộc sử
đụne nó.
Khi diễn đạt một nhận định về một sự tình bất kỳ, người nói cần sử dụng các
phương tiện ngôn ngữ và tuân thủ các quy tắc ngừ pháp. Trong biểu đạt ý nghĩa thời
gian các phương tiện được sử dụng gồm phương tiện từ vựng (hệ thống các từ chỉ
thời eian) và phương tiện ngữ pháp (thời, thể, tình thái ở vị từ,.v.v) hoặc các
phương tiện ngữ nghĩa phái sinh1 hình thành. Phạm trù thời và thê được khăng định
là những phạm trù ngữ pháp quan trọng của động từ trong các ngôn ngữ Châu Âu.
Theo giới hạn nghiên cứu trình bày trên đây, chúng tôi sẽ chỉ tập trung vào vân đê
“thời” và “thể” trong hai ngôn ngữ Hàn-Việt.
Trước hết chúng ta nhận thấy trong các nghiên cứu về ngừ pháp ngữ nghĩa tiếng
Hàn, phạm trù “thời'’ chiếm vị trí quan trọng, được hầu hết các công trình nghiên
cứu đề cập đến. Nhìn lại lịch sử nghiên cứu tiếng Hàn, mà khởi đầu là các nghiên
cứu về hình thái học, vấn đề “thời” trong tiếng Hàn đã thu hút được sự quan tâm
của các nhà Hàn ngừ ngay tò những năm 90 của thế kỷ trước. Tựu trung lại có hai
xu hướng nghiên cứu chính như sau:
-

Xu hướng thứ nhất có quan điểm độc lập thể hiện qua những nghiên cứu của
nhóm học giả quý tộc Hàn quốc, vổn là những người có quan điểm riêng, không
chịu ảnh hưởng của các trường phái nghiên cứu nào khác.


hiện ớ giai đoạn trước những năm 1960 chịu ảnh hưởng của ngôn ngữ học Châu Au.
Các nghiên cứu này được chia thành hai khuynh hướng rõ rệt là:
-

Khuynh hướng mô phỏng ngữ pháp nhà trường: lấy ngữ pháp tiếng Pháp làm
chuẩn và tìm kiếm những sự tương ứng trong biểu hiện ý nghĩa thời và thê trong
tiếng Việt. Tiêu biểu là các nghiên cứu của Trương Vĩnh Kí (1883), Bùi Đức
Tịnh (1952) [39:2]
Khuynh hướng phủ nhận phạm trù thời thể trong tiếng Việt cho rằng các biêu
hiện về thời trong tiếng Việt là sử dụng các trạng từ chỉ thời gian làm túc từ.
Thứ hai: giai đoạn sau những năm 1960, các nhà Việt ngữ học đã bắt đầu có

những nghiên cứu không mô phỏng hoặc chịu ảnh hưởng của ngôn ngữ học châu


9

Âu. Các công trình nghiên cứu thực hiện ờ giai đoạn này với sô lượng rât lớn. đêu
tập trung tranh luận về các vẩn đề quan trọng như:
Tiếng Việt có thời hay khôns có thời ? Đây là vấn đề cốt lõi được đặt ra trcng
các nghiên cứu của Nguyễn Kim Thản (1977), Đào 'lhản (1979), Lê Quang
Thiêm (1989) .v.v. Đáng chú ý là công trình cua Nguyễn Minh Thuyết chủ
trương coi thời và thể là hai phạm trù ngữ pháp thực sự tồn tại trong tiếng Việt
và nghiên cứu của ông đã rất thuyết phục ở chồ chứng minh được một cách rõ
ràna sự khu biệt giữa những bộ phận đối lập nhau (tương lai/phi tương lai, hoàn
thành/phi hoàn thành .v.v.) [39:9]
-

Thời là phạm trù độc lập hay là phạm trù gắn với phạm trù thể và tình thái ? Trả
lời câu hoi này, Đinh Ván Đức (2001) cho rằng tiếng Việt có thời mà không có

tri nhận, các tác giả Nguyễn Đức Dân (1996), Lí Toàn Thắng (2002) .v.v đã nghiên
cứu một cách có hệ thống những vấn đề ngừ pháp học thuần tuý cũng như những
vấn đề thuộc ngoại vi ngôn ngừ.
Một nghiên cứu gần đây nhất của tác giả Phan, Trang (2013) dưới góc nhìn của
ngữ pháp tạo sinh cho rằng một số nghĩa ngữ pháp của các phạm trù thời, thê, tình
thái .v.v là đặc tính của các cấu hình cú pháp nào đó chứ không phải là đặc tính bản
thân các mục từ từ vựng biểu đạt. Khi khảo sát cấu trúc cú pháp đa tầng của tiếng
Việt, tác giả này đã chỉ ra rằng trong tiếng Việt sẽ có chức năng đánh dấu thời ngôn
ngữ (Tense Phrase), đang, đã có chức năng ngoại thể ngữ (outer Aspect Phrase).
Như vậy bản chất ngữ pháp của các từ đã, đang, sẽ với ý nghĩa biểu hiện thời
gian vẫn còn được giới Việt ngữ học tiếp tục thảo luận. Chúng tôi sẽ đi sâu tìm hiêu
vấn đề này ở chương 3 của luận án này.
3.2. Phạm trù “thòi” và “thể” trong các nghiên cứu ứng dụng giảng dạy tiếng Hàn
Các nghiên cứu về biểu hiện thời gian trong tiếng Hàn phục vụ cho mục đích
giảng dạy tiếng Hàn như một ngoại ngữ trước hết tập trung vào việc mô tả ngữ pháp
tiếng Hàn. Có thể kể công trình của Kim Je Yeol (2001), (2003), (2004), một nghiên
cứu có nhiều đóng góp quan trọng. Tiếp theo là các nghiên cứu phân tích lôi của
người học của một số tác giả như Lee Jeong Hee (2001, 2002, 2003), No Jae Ưn
(2001), Song Ji Yoen (2002), Han Jeong Hee (2003), Lee Hae Young (2003), Park
Son Hee (2004) , Kim Ho Jeong (2004), (2006) và của các nhà nghiên cứu ngoài


11

Hàn Quốc, chuyên gia về lí luận giảng dạy tiếng Hàn như một ngoại ngữ như
Morimoto Kachuhiko (2002). Song Bi Rak (2005).
Theo Kim Jea Joen (2003). cần phai thay đôi phương pháp mô tả ngữ pháp
tiếng Hàn nói chune, và trình bày vấn đề biểu hiện thời gian của tiêng Hàn nói riêng
trong sách aiáo khoa dạy tiếng Hàn cho người nước ngoài. Cụ thể là thay vì áp đặt
ngay quan điểm coi nhừne biểu hiện thời gian trong tiếng Hàn là "một phạm trù ngữ

Quốc như Nhật Bản, Mông c ổ , Trung Quổc.v.v đã cổ gang lý giai những lồi sai mà
học viên nước đó mắc phải dưới lăng kính của ngôn ngữ học đối chiêu.
Dù còn ít ỏi nhưng phải công nhận rằng những thành qua nghiên cứu trong
lĩnh vực ứng dụng thành quả của ngôn ngừ học đối chiếu vào lí luận dạy học ngoại
ngữ đã có nhiều đóng £Óp tích cực vào công cuộc giảng dạy tiếng Hàn như một
ngoại ngữ. Tuy nhiên cho đến nay, theo hiểu biết của chúng tôi, chưa có công trình
nghiên cứu đối chiếu Hàn-Việt nào được thực hiện, cũng chưa có công trình nghiên
cứu nào về giáo học pháp ngoại ngừ tiếng Hàn ứng dụng kêt quả của nghiên cứu đôi
chiếu hai ngôn ngừ dành cho học viên Việt Nam. Vì thế chúng tôi dành chương 4
cùa luận án này để thảo luận về những vấn đề giáo học pháp tiếng Hàn như một
ngoại ngữ, dựa trên các kết quả nghiên cứu đổi chiếu đâ đạt được. Chính từ góc độ
của nghiên cứu ngôn ngừ học ứng dụng, cụ thể là nghiên cứu ngôn ngừ áp dụng vào
giảng dạy, ở luận án này chúng tôi không nghiên cứu riêng biệt một đối tượng cụ
thể là “thời”, “thể” hay “tình thái” . Thay cho những phạm trù riêng lẻ này chủng tôi
chọn “sự biểu hiện thời g ia n ’ trong tiếng Hàn. Sở dĩ có sự lựa chọn này vì khi giảng
dạy ngừ pháp ở trường học, cần phải chỉ ra cho người học bản chât và ý nghĩa đặc
trưng của mồi hình thái tổ biểu hiện thời gian của một ngôn ngữ thay vì chỉ mô tả ý
nghĩa ngữ pháp của chúng theo các phạm trù thời, thể như ở các nghiên cứu trước đây.
4.

PHƯƠNG PHÁP VÀ THỦ PHÁP NGHIÊN c ứ u
Những phương pháp nghiên cứu chính được sử dụng trong luận án này là:

a. Phương pháp miêu tả: áp dụng cho việc mô tả những biêu hiện thời gian trong
tiếng Hàn trên bình diện đặc trưng hình thái, cấu trúc, và ý nghĩa.


b. Phương pháp đổi chiếu: chúng tôi xác định mâu sô chung cho cả hai ngôn ngữ
Hàn-Việt dùne làm căn cứ đối chiếu là những hình thức biểu hiện thời gian trong
hai ngôn neữ này. Từ điểm nhìn này. chúng tôi sẽ xem xét. phân tích các phương


Như chúng ta biết, phạm trù thời gian được biểu đạt bằng nhiều phương tiện,
trong đó có phương tiện từ vựng và ngữ pháp. Tuy nhiên tính thích đáng của một
nghiên cứu là tập trune làm sáng tỏ những điểm nôi trội, những nét đặc thù của một
naôn ngữ. Thực tế cho thấy thời và thể động từ là một phương tiện ngữ pháp biểu
hiện thời gian điền hình của tiếng Hàn, trong khi đó những vân đê liên quan đên
phạm trù thời và thể vẫn đang được tiếp tục tranh luận trong giới Việt ngữ học. Do
vậy đề cập đến vấn đề phức tạp này sẽ là một thách thức lớn. nhưng có thể tìm ra
được những điểm đáng chú ý trong hai ngôn ngữ. Mặt khác, các hình thái tô biêu thị
thời và thể độna từ tiếng Hàn có cấu tạo và hoạt động vô cùng phức tạp, rât khác
biệt so với các hư từ chỉ thời eian của tiếng Việt. Đây là nguồn gốc của những khó
khăn trong dạv và học tiếng Hàn như một ngoại ngừ. Vì vậy việc tập trung tìm hiêu
sâu một một phạm trù ngừ pháp điển hình cùa một ngôn ngữ sẽ giúp chúng ta áp
dụng được các kết quả nghiên cứu trong giảng dạy ngôn ngữ đó một cách hiệu quả.
Hơn nữa nếu xét đến lớp từ vựng chỉ thời gian (bây giờ, hôm nay, sau đó...) ta thây
phương tiện biểu hiện này đều tồn tại trong hai ngôn ngừ. Nhưng kinh nghiệm
giảng dạy nhiều năm cùa chủng tôi cho thấy việc nhận diện ý nghĩa của lớp từ đó
khône gây khó khăn lớn cho người học tiếng Hàn. Vì vậy chúng tôi chỉ nghiên cứu
các phương tiện ngữ pháp.
Đó là lý do vì sao một nghiên cứu về biểu hiện thời gian trong tiếng Hàn và đối
chiếu với tiếng Việt lại tập trung chủ yếu vào các phạm trù thời và thể.
Ngoài ra, nhằm mục đích phục vụ trực tiếp cho công tác giảng dạy, cụ thể là cải
tiến nội dung ngữ pháp học đường, nghiên cứu của chúng tôi không thực hiện theo
đường hướng ngôn ngữ học tri nhận, loại trừ các yếu tố khả biến như ngữ dụng, ngữ
cảnh mà chi xem xét các giá trị ổn định là cú pháp và ngữ nghĩa.

v ề cứ liệu, nguồn cứ liệu phục vụ cho nghiên cứu này được thu thập từ:
- Các công trình nahiên cứu về Việt ngữ học và Hàn ngừ học.
- Các tài liệu tiếng Hàn trích từ báo chí, tác phẩm văn học Hàn quốc có văn phong
chuân mực.

18

C H Ư Ơ N G 1: C O S Ở LÍ LU Ậ N CỦ A LUẬN ÁN
Trong chươne này. trước hết chúng tôi sẽ trình bày về sự phân biệt thời gian
tự nhiên với thời gian vật chất, sự đồng nhất giữa thời gian ngữ pháp và thời gian
vật chất. Sau đó chúng tôi tập trung trình bày một cách hệ thống những quan niệm
của ngữ pháp đại cương liên quan đến thời và thể, những đặc trưng nghĩa và hình
thức biểu đạt hai phạm trù này trong các ngôn ngữ châu Au. đông thời chú ý đên
những phô niệm và những đặc trưng khác biệt giữa các ngôn ngữ. Đây là những vấn
đề lý luận cơ bản có liên quan đến cơ sờ và phương pháp luận khi giải quyết các vấn
đề đặt ra trons luận án.
1.1 C ơ SỞ LÍ L U Ậ N C H U N G V Ề CÁ C P H Ư Ơ N G T H Ứ C BIẾU HIỆN
T H Ờ I G IA N T R O N G N G Ồ N N G Ữ
1.1.1 N hận xét ch u n g
Như đã biết, con người sống trong một không gian và thời gian cụ thể.
Không gian và thời gian là những phạm trù cơ bản của nhận thức. Thế giới tự nhiên
mà chúng ta biết đều mang tính không gian và thời gian.
Từ góc độ triết học, không gian và thời gian được xem là hình thức tồn tại cơ
bản của vật chất. Thời gian gắn với vận động. Nếu vận động thực hiện theo một tiên
trình thì thời gian cũng diễn tiến theo một trục tuyến tính, tức là thời gian vận động
theo nguyên tắc đơn chiều. Trong một sổ nghiên cứu đê cập đên vân đê thời gian
với vai trò là một phạm trù tư duy - phạm trù nhận thức thì thời gian cũng được xem
xét dưới nhiều khía cạnh: ví dụ, đo lường khoảng cách, đo chiều dài thời gian v.v.
Trong đo chiều dài thời gian thì thời gian lại được chia nhỏ ra thành các phân đoạn
thời gian, thời đoạn thời gian, khoảnh khắc thời gian v.v.
Từ góc độ nhận thức, có thể khẳng định rằng mọi phạm trù hay ý nghĩa ngữ
pháp đều có tính hiện thực và bắt nguồn từ sự nhận thức của con người về thế giới
khách quan. Các phạm trù hay ý nghĩa ngữ pháp đó là những quy tắc tổ chức lời nói



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status