VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN NGỌC PHỤNG
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU
TRA CÁC VỤ ÁN MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
TỪ THỰC TIỄN TỈNH TIỀN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
HÀ NỘI, năm 2019
VIỆN HÀN LÂMKHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN NGỌC PHỤNG
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU
TRA CÁC VỤ ÁN MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
TỪ THỰC TIỄN TỈNH TIỀN GIANG
Ngành: Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 8.38.01.04
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. Nguyễn Đức Hạnh
HÀ NỘI, năm 2019
công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án mua bán trái phép chất ma túy trên
địa bàn tỉnh Tiền Giang ................................................................................... 56
2.3. Kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố trong giai
đoạn điều tra các vụ án mua bán trái phép chất ma túy trên địa bàn tỉnh Tiền
giang ................................................................................................................ 61
Tiểu kết chương 2............................................................................................ 66
KẾT LUẬN .................................................................................................... 67
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCA:
Bộ Công an
BLHS:
Bộ luật hình sự
BLTTHS:
Bộ luật tố tụng hình sự
CSĐT:
Cảnh sát điều tra
CTTP:
VKS:
Viện kiểm sát
VKSND:
Viện kiểm sát nhân dân
VKSNDTC:
Viện kiểm sát nhân dân tối cao
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Thống kê số vụ án và bị can đã khởi tố, truy tố và xét xử phạm
tội về ma túy từ năm 2014 đến 2018…………………………………..…..47
Bảng 2.2: Tỷ lệ tội Mua bán trái phép chất ma túy so với tội phạm nói
chung từ năm 2014 đến năm 2018……………………………………...….48
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm vừa qua, tội phạm về ma túy ngày càng gia tăng về
số lượng, diễn biến ngày càng phức tạp về quy mô và tính chất gây ảnh hưởng
đến an ninh xã hội với phương thức, thủ đoạn luôn thay đổi, tinh vi, xảo
quyệt, khi bị phát hiện và bắt giữ thường manh động, chống trả quyết liệt khi
bị bắt.
Bên cạnh đó, quy mô, số lượng, tính chất và đối tượng phạm tội ma túy
đang có những diễn biến phức tạp không ngừng. Quy mô của tội phạm ma túy
không dừng ở địa phận từng quốc gia đơn lẻ mà nó còn mang tính chất quốc
Giang” làm luận văn thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
2.1. Tình hình nghiên cứu lý thuyết
Để có cơ sở lý luận cho việc thực hiện đề tài luận văn, tác giả đã nghiên
cứu các công trình khoa học sau đây:
- Đinh Văn Quế (2006) Bình luận khoa học Bộ luật hình sự (tập IV các
tội phạm về ma túy), Nxb Chính trị Hà Nội.
- Quốc hội (1999), Bộ luật Hình sự năm 1999, Hà Nội.
- Quốc hội (2015), Bộ luật Hình sự năm 2015, Hà Nội.
- Võ Khánh Vinh (2013), Giáo trình lý luận chung về định tội danh,
Nxb khoa học xã hội, Hà Nội.
- Võ Khánh Vinh (2014), Giáo trình luật hình sự Việt Nam (phần
chung), Nxb khoa học xã hội, Hà Nội.
- Võ Khánh Vinh (2014), Giáo trình luật hình sự Việt Nam (phần các
tội phạm), Nxb khoa học xã hội, Hà Nội.
- Bên cạnh đó tác giả còn nghiên cứu các bài viết về nguyên nhân và
điều kiện phạm tội, về phòng ngừa tội phạmđược đăng tải trong những năm
2
qua trên tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Tạp chí Cảnh sát nhân dân, Công an
nhân dân, Tòa án nhân dân và Tạp chí Viện Kiểm sát.
2.2 Tình hình nghiên cứu thực tế
Tội phạm về ma túy được nhiều tác giải nghiên cứu với nhiều đề tài khác
nhau:
- Luận văn cao học “Đấu tranh phòng chống các tội phạm về ma túy
trên địa bàn quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng” của thạc sĩ Đào Thị Huệ
năm 2011;
- Luận văn cao học “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo pháp luật
hình sự từ thực tiễn tỉnh Tiền Giang” của thạc sĩ Triệu Thị Ngân Hà năm
-Nghiên cứu các khái niệm cơ bản liên quan đến hoạt động thực hành
quyền công tố nói chung và hoạt động thực hành quyền công tố trong giai
đoạn kiểm sát điều tra nói riêng; Phân tích, làm rõ nhiệm vụ, quyền hạn của
Viện kiểm sát nhân dân khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn kiểm sát
điều tra.
- Khảo sát nghiên cứu thực tiễn hoạt động thực hành quyền công tố trong
giai đoạn điều tra các vụ án mua bán trái phép chất ma túy trên địa bàn tỉnh
Tiền Giang, từ đó làm rõ nhận thức và đánh giá cơ bản về vai trò và hoạt động
của Kiểm sát viên khi kiểm sát điều tra các vụ án Mua bán trái phép chất ma
túy từ thực tiễn tỉnh Tiền Giang.
- Thông qua khảo sát và nghiên cứu thực tiễn, đối chiếu với lý luận để
đưa ra các kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thực hành quyền
công tố trong giai đoạn kiểm sát điều tra đối với các vụ án mua bán trái phép
chất ma túy.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
4
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định của pháp luật, các
quy định của ngành kiểm sát nhân dân và các hoạt động của Viện kiểm sát
nhân dân, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên,..thể hiện vai trò và nhiệm vụ của
Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn thực hành quyền công tố trong giai
đoạn điều tra các vụ án mua bán trái phép chất ma túy từ thực tiễn tỉnh Tiền
Giang.
4.2. Phạm vi nghiên cứu.
Đề tài đi sâu vào trọng tâm nghiên cứu về quy định của Bộ luật Tố tụng
hình sự đối với vai trò và hoạt động của Viện kiểm sát khi thực hành quyền
công tố trong gia đoạn kiểm sát điều tra và đưa ra giải pháp nhằm nâng cao
7. Kết cấu của luận văn.
Nội dung của Luận văn gồm 2 chương:
Chương 1. Những vấn đề lý luận và pháp luật về thực hành quyền công
tố trong giai đoạn điều tra các vụ án mua bán trái phép chất ma túy.
Chương 2. Thực tiễn thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra
các vụ án mua bán trái phép chất ma túy trên địa bàn tỉnh Tiền Giang và một
số kiến nghị
6
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TÁC
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA
VỤ ÁN MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
1.1. Những khái niệm cơ bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu
Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà
Nội xuất bản năm 2008 đưa ra khái niệm TTHS là khái niệm pháp lý dùng để
chỉ trình tự (quá trình) tiến hành giải quyết vụ án hình sự theo quy định của
pháp luật (khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự). Tố tụng
hình sự bao gồm toàn bộ hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan
điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án); người tiến hành tố tụng (Thủ trưởng, Phó thủ
trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện
kiểm sát, Kiểm sát viên; Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán, Hội thẩm và
Thư ký Tòa án); người tham gia tố tụng (người bị tạm giữ, bị can, bị cáo;
người bào chữa; người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; người bảo vệ quyền lợi của đương
sự, người làm chứng, người giám định và phiên dịch), của cá nhân, cơ quan
và tổ chức khác góp phần vào việc giải quyết vụ án theo quy định của pháp
luật hình sự [tr.9-10]
đối tượng phạm tội, phát hiện, thu thập đầy đủ các chứng cứ làm cơ sở xác
định lỗi của đối tượng phạm tội. Toàn bộ quá trình xem xét, giải quyết vụ án
hình sự phải tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của BLTTHS nhằm bảo đảm
bản án, quyết định của Tòa án trong vụ án là khách quan, công minh, xử đúng
người, đúng tội và áp dụng hình phạt công bằng cho đối tượng phạm tội,
không là oan người vô tội.
Bên cạnh đó bất kỳ hoạt động nào của con người cũng có thể diễn ra
dưới hình thức nhất định và có thể phân chia thành những giai đoạn được liên
8
kết với nhau bởi những mối quan hệ hoặc nguyên tắc nào đó nhằm thực hiện
được mục tiêu đề ra với hiệu quả cao nhất. Hoạt động TTHS cũng nằm trong
quy luật chung đó. Khái niệm TTHS có nghĩa là quá trình, tiến trình và quá
trình, tiến trình này vận động tiến lên phía trước để đạt đến mục tiêu của nó là
làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án thông qua những giai đoạn hay
những chặng đường nối tiếp nhau. Không phải vụ án hình sự nào cũng có thể
được khám phá, sự thật khách quan được xác định ngay lập tức, kể cả trong
trường hợp phạm tội quả tang mà luôn đòi hỏi phải có thời gian, phải tiến
hành những hành vi tố tụng cần thiết ngay sau khi phát hiện tội phạm để có
thể đưa ra Tòa án xét xử. Bản thân việc xét xử của Tòa án cũng đòi hỏi thời
gian và đòi hỏi hàng loạt những họat động tố tụng kèm theo từ khi nhận được
hồ sơ vụ án cho đến khi tuyên bản án hay quyết định. Bản chất của hoạt động
TTHS là sự tương tác giữa các chức năng cơ bản (buộc tội, bào chữa, xét xử)
do các chủ thể khác nhau thực hiện và nội dung của sự tương tác và vai trò
của các chủ thể rất khác nhau trong toàn bộ tiến trình giải quyết vụ án hình sự.
Mỗi chức năng cơ bản, mỗi chủ thể tố tụng đều có vai trò của mình trong tiến
trình đó. Họat động TTHS không phải là tổng thành cơ học của những hành vi
tố tụng tùy nghi d ocác chủ thể tham gia vào hoạt động này thực hiện mà là
tổng thành của hệ thống các hành vi tố tụng liên kết chặt chẽ với nhau, có
được quy định trong Bộ luật nhưng không phải là một gia đoạn của tố tụng
hình sự.
Điều tra vụ án hình sự là một giai đoạn của quá trình tố tụng hình sự do
cơ quan có thẩm quyền tiến hành, hoạt động chính là nhằm thu thập đầy đủ
các chứng cứ chứng minh tội phạm. Giai đoạn điều tra được hiểu theo hai
nghĩa rộng và hẹp. Nếu theo nghĩa rộng thì giai đoạn điều tra được bắt đầu từ
khi cơ quan có thẩm quyền điều tra tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm hoặc
kiến nghị khởi tố đến khi kết thúc việc điều tra , bản kết luận điều tra và hồ sơ
10
được chuyển đến Viện kiểm sát để truy tố hoặc vụ án được đình chỉ. Giai
đoạn điều tra theo nghĩa hẹp bắt đầu từ khi có quyết định khởi tố vụ án hình
sự và kết thúc khi cơ quan có thẩm quyền điều tra ban hành Bản kết luận điều
tra chuyển hồ sơ đến Viện kiểm sát đề đề nghị truy tố. Trong luận văn này tác
giả tập trung nghiên cứu toàn diện quá trình điều tra theo nghĩa rộng nhằm
làm rõ hơn vai trò của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong hoạt
động điều tra vụ án hình sự.[22, tr.23]
Kiểm sát điều tra các vụ án hình sự là hoạt động của VKSND kiểm sát
việc tuân theo pháp luật của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật tố tụng
hình sự phát sinh trong giai đoạn điều tra, nhằm đảm bảo cho quá trình điều
tra vụ án được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật, bảo đảm việc điều
tra phải khách quan, toàn diện, đầy đủ, chính xác; những vi phạm pháp luật
trong quá trình điều tra phải được phát hiện, khắc phục kịp thời và xử lý
nghiêm minh.
Các chủ thể có thẩm quyền tiến hành và tham gia tố tụng trong giai đoạn
điều tra bao gồm:
- Chủ thể có thẩm quyền tiến hành tố tụng là chủ thể thuộc các cơ quan
được tiến hành một số hoạt động điều tra và chủ thể thuộc các cơ quan tiến
hành tố tụng thực hiện những nhiệm vụ được quy định trong BLTTHS, chủ
là điều kiện tiên quyết khi tham gia giải quyết vụ án hình sự, nếu không đảm
bảo sự vô tư trong quá trình giải quyết vụ án thì không được tham giam vào
việc giải quyết vụ án và phải được thay đổi người tiến hành tố tụng khác.
- Chủ thể tham gia tố tụng là những chủ thể có quyền và lợi ích hợp pháp
cần được pháp luật bảo vệ, những người có nghĩa vụ pháp lý phải tham gia
vào việc giải quyết vụ án hình sự theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự
và những người tham gia tố tụng để hổ trợ pháp lý cho những người tham gia
tố tụng khác. Những người tham gia tố tụng khi tham gia vào quan hệ tố tụng
12
sẽ được thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình với tư cách cá nhân hoặc tổ
chức hoặc pháp nhân thương mại.
Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự là hoạt
động của VKSND kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các chủ thể tham gia
quan hệ pháp luật tố tụng hình sự trong giai đoạn điều tra nhằm đảm bảo quá
trình điều tra vụ án hình sự được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.
Theo các quy định của BTLTTHS năm 2015 và Luật tổ chức Cơ quan Điều
tra hình sự năm 2015, cơ quan có thẩm quyền điều tra vụ án hình sự là cơ
quan điều tra và cơ quan được gia nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều
tra. Đồng thời, quy định trách nhiệm của VKSND trong THQCT và kiểm sát
việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, quyết định việc buộc tội, phát
hiện vi phạm pháp luật nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người phạm tội,
pháp nhân phạm tội, vi phạm pháp luật đều phải được phát hiện và xử lý kịp
thời, nghiêm minh, việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng
người, đúng tội, đúng pháp luật để không lọt tội phạm và người phạm tội,
pháp nhân phạm tội, không làm oan người vô tội.
Hoạt động THQCT và KSĐT của VKSND được thực hiện thông qua
nhiệm vụ, quyền hạn của những người được phân công tiến hành hoạt động tố
tụng hình sự. Theo quy định của Luật tổ chức VKSND năm 2014 và BLTTHS
phép chất ma túy là hoạt động của VKSND trong tố tụng hình sự để thực hiện
việc buộc tội của Nhà nước đối với người thực hiện hành vi phạm tội mua bán
trái phép chất ma túy, hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều
tra đối với các vụ án mua bán trái phép chất ma túy bắt đầu từ khi có tố giác
hành vi mua bán trái phép chất ma túy, tin báo về tội phạm mua bán trái phép
chất ma túy hoặc kiến nghị khởi tố vụ án hình sự mua bán trái phép chất ma
túy (có nguồn tin báo về tội phạm mua bán trái phép chất ma túy) và kết thúc
thuộc một trong ba trường hợp đó là: Khi cơ quan có thẩm quyền ra quyết
14
định đình chỉ việc giải quyết nguồn tin báo về tội phạm mua bán trái phép
chất ma túy; khi cơ quan có thẩm quyền ra quyết định đình chỉ vụ án mua bán
trái phép chất ma túy hoặc khi cơ quan có thẩm quyền kết thúc điều tra, ban
hành kết luận điều tra đối với vụ án mua bán trái phép chất ma túy và chuyển
hồ sơ đến Viện kiểm sát để đề nghị truy tố các bị can.[09, tr. 50 - 53]
1.2. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân khi thực hành
quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án mua bán trái phép chất ma
túy
1.2.1. Quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân khi
thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra
Theo quy định tại Điều 14 Luật tổ chức VKSND năm 2104 khi thực
hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, Viện kiểm sát nhân
dân có những nhiệm vụ, quyền hạn sau:
“1. Yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành
một số hoạt động điều tra khởi tố hoặc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ
án, khởi tố bị can.
2. Hủy bỏ các quyết định khởi tố, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết
định khởi tố vụ án, quyết định không khởi tố vụ án trái pháp luật; phê chuẩn,
hoặc hủy bỏ quyết định khởi tố, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định
vụ án, áp dụng thủ tục rút gọn, áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.
11. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong việc thực hành quyền
công tố theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.”
Theo quy định của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 thì cơ
quan có thẩm quyền thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra là Viện
kiểm sát nhân dân. Hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra
của Viện kiểm sát nhân dân được thực hiện thông qua nhiệm vụ, quyền hạn
16
của những người tiến hành tố tụng có thẩm quyền pháp lý trong tố tụng hình
sự.
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định cụ thể, chặt chẽ nhiệm vụ,
quyền hạn của Viện kiểm sát trong THQT và trong hoạt động kiểm sát điều
tra. Điểm mới trong Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015 liên quan
đến vấn đề thực hành quyền công tố là hoạt động kiểm sát điều tra của Viện
kiểm sát nhân dân.
Khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự,
VKSND có quyền đề ra yêu cầu điều tra để yêu cầu cơ quan CSĐT tiến hành
hoạt động điều tra, đây là nhiệm vụ được coi là quan trọng nhất của VKS
trong giai đoạn này. Để bảo đảm hoạt động điều tra được tiến hành tốt, Kiểm
sát viên được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra phải
nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án, bám sát quá trình hoạt động của cơ quan điều tra
nhằm kịp thời đưa ra các yêu cầu điều tra một cách toàn diện để đảm bảo quá
trình điều tra được thực hiện đúng quy định của pháp luật và việc giải quyết
vụ án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bên cạnh đó, để thực hiện nhiệm
vụ, quyền hạn của mình, Viện kiểm sát có quyền trực tiếp thực hiện một số
hoạt động điều tra theo quy định của pháp luật như: Hỏi cung bị can; Ghi lời
khai bị hại, người làm chứng, người liên quan; Tiến hành đối chất;…để củng
cố các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nhằm đánh giá một cách khách quan và
tra các vụ án hình sự theo quy định của pháp luật.
Phân cấp thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự
được thực hiện ở Viện kiểm sát nhân dân tối cáo, Viện kiểm sát nhân dân cấp
tỉnh và Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện theo thẩm quyền xét xử của Tòa án
các cấp tương đương.
18
1.2.2. Quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân khi
thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án mua bán trái
phép chất ma túy
Công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật
của Viện kiểm sát được chú trọng từ khi Cơ quan điều tra tiếp nhận, giải
quyết tố giác, tin báo về tội phạm và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, xét
xử các vụ án. Trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị
khởi tố là một trong những nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực
hành quyền công tố trong việc giải quyết nguồn tin về tội phạm. Viện kiểm
sát chỉ trực tiếp giải quyết khi phát hiện Cơ quan điều tra có vi phạm pháp
luật nghiêm trọng trong hoạt động kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội
phạm, kiến nghị khởi tố hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà Viện kiểm sát đã
yêu cầu bằng văn bản nhưng sau 15 ngày kể từ ngày Cơ quan điều tra đang
thụ lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố nhận được
văn bản mà không khắc phục thì Viện kiểm sát sẽ tiến hành kiểm tra, xác
minh làm rõ nội dung vụ án và trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội
phạm, kiến nghị khởi tố trên.
Nhiệm vụ, quyền hạn thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra
vụ án hình sự mua bán trái phép chất mà túy của Viện kiểm sát thể hiện bằng
các hình thức như:
- Yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một