Nhân thân người phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trên địa bàn Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh (Luận văn thạc sĩ) - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ MỸ DUYÊN

NHÂN THÂN NGƯỜI PHẠM TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH
HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC
TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ
TỘI PHẠM HỌC VÀ PHÒNG NGỪA TỘI PHẠM

HÀ NỘI, 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ MỸ DUYÊN

NHÂN THÂN NGƯỜI PHẠM TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH
HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC
TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Ngành: Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm
Mã số: 8.38.01.05

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. ĐINH XUÂN NAM

HÀ NỘI, 2019

PHÁP

PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC TRÊN ĐỊA
BÀN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ....................................................49
3.1. Dự báo về nhân thân người phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho
sức khỏe của người khác trên địa bàn Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh trong thời
gian tới 49
3.2. Một số giải pháp tăng cường phòng ngừa tình hình tội cố ý gây thương tích
hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn .....................................53
KẾT LUẬN ..............................................................................................................63
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CQĐT

: Cơ quan điều tra

BLHS

: Bộ luật Hình sự

PLHS

: Pháp luật hình sự

TAND


Bảng 2.7- Cơ cấu theo trình độ học vấn người phạm tội cố ý gây thương tích
hoặc gây tổn hại cho sức khỏecủa người khác trên địa bàn Quận 7,
Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2014- 2018 ................................ 35
Bảng 2.8- Cơ cấu theo nghề nghiệp người phạm tội cố ý gây thương tích hoặc
gây tổn hại cho sức khỏecủa người khác trên địa bàn Quận 7, Thành
phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2014- 2018 ........................................... 36
Bảng 2.9- Cơ cấu theo tiêu chí tái phạm của người phạm tội cố ý gây thương
tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏecủa người khác trên địa bàn Quận 7,
Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2014- 2018 ................................ 37


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Xây dựng đất nước giàu mạnh, dân chủ công bằng và văn minh là mục
tiêu của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay. Đại hội Đảng toàn
quốc lần VI, với chủ trương thực hiện đường lối đổi mới và phát triển theo
nền kinh tế thị trường, đến nay đã đạt được nhiều thành tựu trên mọi lĩnh vực
về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội ... Tuy nhiên song song với những thành
tựu đạt được thì mặt trái của nền kinh tế thị trường cũng tác động không nhỏ
tới đời sống xã hội trên tất cả các mặt. Tình hình tội phạm nói chung, mà đặc
biệt tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ người khác
hiện nay đang có chiều hướng gia tăng đã tác động xấu đến sự phát triển của
nền kinh tế, gây tâm lý bất an, hoang mang, lo lắng trong nhân dân, ảnh
hưởng không nhỏ đến phát triển xã hội. Trong những năm qua, các cơ quan
bảo vệ pháp luật đã tích cực đấu tranh ngăn chặn các hành vi phạm tội xâm
phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người nói chung và
các hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác
nói riêng, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Quận 7 được thành lập theo nội dung Nghị quyết số 03-CP ngày
06/01/1977 của Chính phủ Việt Nam về thành lập quận phường tại TP.HCM.

trong tranh chấp đất đai, xung đột gia đình ... dẫn đến việc cố ý xâm phạm
đến tính mạng, sức khỏe của người khác gây hậu quả rất lớn, tỉ lệ thương tích
gây ra cho người bị hại cũng rất cao, có những trường hợp dẫn đến chết
người. Phần lớn những người phạm tội thường liên kết thành các băng nhóm
hoặc lôi kéo thêm người khác vào cùng gây mâu thuẫn để tạo cớ đánh nhau
hay trẻ thù cá nhân. Đối tượng thường sử dụng các loại hung khí nguy hiểm
(dao, mã tấu,...) gây tâm lý hoang mang, lo lắng lan rộng trong nhân dân.
Việc có công trình nghiên cứu cụ thể nào đi sâu làm rõ các đặc điểm nhân

2


thân người phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ
người khác trên địa bàn Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh là việc làm hết sức
cần thiết.
Chính vì thế, để phòng ngừa các tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây
tổn hại cho sức khoẻ người khác hiệu quả hơn, đề tài :“Nhân thân người
phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người
khác trên địa bàn Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh” đã được tác giả lựa
chọn để nghiên cứu.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Qua nghiên cứu về tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại
cho sức khoẻ của người khác, tác giả thấy có những công trình nghiên cứu sau:
Bài viết: “Nhân thân người phạm tội; một số vấn đề lý luận cơ bản” của
tác giả GS.TS. Lê Cảm, Tạp chí Tòa án, số 10/2001, tr. 7 và số 11/2001, tr.5;
Luận án Tiễn sĩ Luật học: “Nhân thân người phạm tội trong Luật hình sự
Việt Nam ” của Nguyễn Thị Thanh Thủy, Trường ĐH Luật Hà Nội năm
2005;
Bài viết: “Một số đặc điểm chú ý về nhân thân của người phạm tội cố ý
gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ người khác ở Việt Nam” của

tội phạm hình sự cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ người
khác đã bị đưa ra xét xử sơ thẩm tại TAND Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
Phân tích làm rõ các đặc điểm nhân thân người phạm tội cố ý gây thương tích
hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ người khác trên địa bàn Quận 7 trong giai đoạn
2014 - 2018.
Tìm, thu thập các bản án hình sự sơ thẩm đã xét xử tội phạm cố ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ người khác của TAND Quận 7

4


trong giai đoạn 2014 - 2018 và xử lý, phân tích, so sánh theo các tiêu chí Tội
phạm học cần thiết từ góc độ nhân thân người phạm tội.
Ba là, khái quát hóa những vấn đề lý luận chung về nhân thân người
phạm tội. Từ việc khái quát này, sẽ áp dụng lý luận đó vào việc làm rõ các
đặc điểm nhân thân của người phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại
cho sức khoẻ người khác trên địa bàn Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh;
Kiến nghị hoàn thiện giải pháp phòng ngừa tội phạm cố ý gây thương
tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ người khác trên địa bàn Quận 7, Thành
phố Hồ Chí Minh từ khía cạnh nhân thân người phạm tội.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài thể hiện ở việc
làm rõ mối quan hệ phụ thuộc giữa các đặc điểm nhân thân người phạm tội cố
ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ người khác với các hiện
tượng, quá trình kinh tế - xã hội khác trên địa bàn Quận 7, Thành phố Hồ Chí
Minh
- Phạm vi nghiên cứu: Về nội dung phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên
cứu nhân thân người phạm tội (những đặc điểm sinh học, đặc điểm xã hội học
điển hình của người phạm tội) cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức
khoẻ người khác dưới góc độ Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm.

phạm nói riêng.
- Ý nghĩa thực tiễn:
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là căn cứ chính xác nhất, quan trọng
nhất giúp các Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trên địa bàn Quận 7 nghiên
cứu và đề ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động phòng ngừa

6


tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ người khác trên
địa bàn nghiên cứu và Thành phố Hồ Chí Minh nói chung.
Có thể dung kết quả nghiên cứu của luận văn phục vụ cho công tác giảng
dạy trong Nhà trường đào tạo về Luật hoặc cho những ai quan tâm đến vấn đề này.
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm có 3 chương ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài
liệu tham khảo. Cụ thể như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về nhân thân người phạm tội cố ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác.
Chương 2: Thực tiễn nhân thân người phạm tội cố ý gây thương tích
hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ người khác và những yếu tố tác động đến quá
trình hình thành nhân thân người phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn
hại cho sức khoẻ người khác trên địa bàn Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
Chương 3: Hoàn thiện các giải pháp phòng ngừa tội phạm cố ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ người khác từ đặc điểm nhân
thân người phạm tội.

7


Chương 1.

kiện, hoàn cảnh giống nhau nhưng con người lại có những hành động khác
nhau, thậm chí hoàn toàn trái ngược nhau, nếu con người có các đặc điểm
nhân thân xấu mà gặp những tình huống khách quan thuận lợi tác động sẽ làm
phát sinh hành vi phạm tội.
Khái niệm nhân thân người phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn
hại cho sức khoẻ người khác dưới góc độ tội phạm học cần phải được hiểu
một cách “Công cụ hóa”, tức là có thể nghiên cứu được trên thực tế như sau:
Thứ nhất, nhân thân của một người nào đó là hình ảnh có thể nhận thức
được thông qua tổng thể các đặc điểm về mặt tự nhiên, xã hội và hành vi xã
hội của chủ thể đã thực hiện hành vi đó ở một địa bàn và thời gian nhất định;
Thứ hai, nhân thân người phạm tội là hình ảnh có thể nhận thức được
thông qua tổng thể các đặc điểm về tự nhiên, xã hội và hành vi phạm tội của
chủ thể đã thực hiện hành vi đó trên một địa bàn và thời gian nhất định, tức là
những đặc điểm chứa đựng những thông tin về nguyên nhân và điều kiện của
sự phạm tội;
Thứ ba, nhân thân người phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại
cho sức khoẻ của người khác là hình ảnh có thể nhận thức được thông qua
tổng thể các đặc điểm về tự nhiên, xã hội và hành vi phạm tội của chủ thể đã
thực hiện hành vi đó, tức là những đặc điểm chứa đựng những thông tin về
nguyên nhân và điều kiện của tội phạm này.
Như vậy, vấn đề biện chứng và hàm chứa giá trị khả thi của khái niệm
nhân thân nói chung và nhân thân người phạm tội cố ý gây thương tích hoặc
gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác nói riêng chính là mối quan hệ giữa
hình ảnh và đặc điểm. Hình ảnh càng rõ khi những đặc điểm càng được mô tả
đầy đủ và chuyên biệt theo nhân thân cần nghiên cứu.

9


1.1.2. Các đặc điểm nhân thân người phạm tội cố ý gây thương tích hoặc

động của xã hội (nhưng cũng cần phải thấy được rằng, sự tác động của yếu tố
sinh học và yếu tố xã hội không phải là ngang nhau, như nhau trong mỗi cuộc
đời con người). Dĩ nhiên, cũng cần phải thấy rằng với những mục đích nghiên
cứu khác nhau, có thể các nhà nghiên cứu nhấn mạnh tới mặt sinh học hoặc
mặt xã hội của con người (và chỉ nhấn mạnh, chứ không phải tuyệt đối hoá
như chủ nghĩa tự nhiên, thuyết sinh học xã hội hay trường phái xã hội đã
làm). Việc tuyệt đối hoá vai trò của yếu tố sinh học, di truyền trong con người
sẽ dẫn đến tình trạng, các tệ nạn xã hội được giải thích bằng những nguyên
nhân tự nhiên và do đó người ta cho rằng, không thể khắc phục được những tệ
nạn xã hội. Điều đó còn đưa đến một quan niệm về "giống thượng lưu”, về sự
phân biệt chủng tộc. Quan điểm này cho rằng, lịch sử loài người được tạo ra
bởi một số người tiêu biểu, được chọn lọc và do đó dù muốn hay không, con
người phải chủ động kiểm soát việc tái sản xuất ra giống người, thực hiện sự
"tuyển chọn" vì "lợi ích" loài người. Ngược lại, việc quá đề cao yếu tố xã hội
trong con người lại đưa đến một quan niệm khác -. quan niệm cho rằng, mọi
tệ nạn xã hội đều bắt nguồn từ khuyết điểm chính trị.
1.1.2.3.Nhóm đặc điểm tâm lý
Gắn với mỗi loại hành vi phạm tội có thể có nhóm đặc điểm tâm lí nhất
định. Ví dụ: Đối với người phạm tội có tính vụ lợi có thể nêu ra ở đây các đặc
điêm như thái độ lao động lười nhác- nhu cầu vật chất không chính đáng; tu
tưởng ích kỉ làm ít hưởng nhiều; tư tưởng làm giàu không chính đáng, thích
tích lũy tiền của và báu vật, dùng tiền để đáp ứng nhu cầu không chính đang
(ma túy, mại dâm, cờ bạc)...
Ở đây, cũng cần đề cập ý thức pháp luật của người phạm tội. Thực tế cho
thấy những ai có ý thức pháp luật tốt thi có thói quen xử sự tuân theo pháp

11


luật. Trái lại, ở những người phạm tội thường có ý thức pháp luật kém, họ

đẳng, đại học.
Thuộc về nhóm đặc điểm xã hội của người phạm tội có thể kể đến các
đặc điểm về việc làm, nghề nghiệp, thành phần xã hội, về hoàn cảnh gia đinh,
hoàn cảnh kinh tế., và các đặc điểm về môi trường, quá trình được giáo dục,
đào tạo...
Nghề nghiệp và thành phần xã hội của người phạm tội (công nhân, nông
dân, trí thức, học sinh, hưu trí...) được thống kê cho thấy những người thực
hiện tội phạm không cỏ việc làm chiêm tỉ lệ khá cao, đặc biệt ở trường hợp tái
phạm. Đặc điểm này có liên quan chặt chẽ với đặc điểm về trình độ văn hoá
thấp và đặc điểm có những sờ thích không đúng đắn. Đổi với những trường
hợp có nghề nghiệp thì phần lớn là người lao động phổ thông, không qua đào
tạo nghề như làm nông nghiệp, lao động tự do, buôn bán nhỏ.
Nghiên cứu đặc điểm này có ý nghĩa quan trọng vì cho phép kết luận tội
phạm nào thường xảy ra ở lĩnh vực nào của đời sống xã hội và trong lĩnh vực
sản xuất, ngành nào thuộc nền kinh tế quốc dân.
Hoàn cảnh gia đình và sự thay đổi của nó có tác động lên sự hình thành
nhân cách của con người và ảnh hưởng đến khuynh hưởng và sự kiên định
thực hiện tội phạm.
Kết quả nghiên cứu cho thấy những người có gia đình phạm tội ít hơn
những người chưa có gia đình. Việc hình thành định hướng xấu trong con
người thường xuất phát từ những gia đình có kinh tế khó khăn, gia đình có vợ
chồng ly hôn, gia đình có cuộc sống không hoà thuận hoặc gia đình có thành
viên sổng không có trách nhiệm với gia đình, thậm chí có quan điểm, quan
niệm, xử sự trái đạo đức, trái pháp luật v.v
Ngoài ra các dấu hiệu xã hội khác như nơi cư trú (thành phố hay nông

13


thôn), sự di cư, hoàn cảnh kinh tế cũng cố ý nghĩa quan trọng khi nghiên cứu

Mặt khác dựa vào tính chất, mức độ lỗi chúng ta đánh giá chính xác
được động cơ, mục đích của người phạm tội, xác định đúng phạm tội lần đầu
hay tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm từ đó có căn cứ cho việc áp dụng các
tình tiết tặng nặng định khung, tăng nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự thú, đầu thú…
- Tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của của hành vi phạm tội:
Tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm được nhà làm luật cân
nhắc và thể hiện khi quy định là một tội phạm, quy định chế tài và khung chế
tài đối với tội phạm tương ứng. Từ đó dựa vào tính chất phương pháp, thủ
đoạn, công cụ và phương tiện thực hiện hành vi; vào nội dung của thiệt hại do
hành vi gây ra; vào nội dung của động cơ, mục đích của tội phạm; đặc điểm
nhân thân người thực hiện hành vi và hoàn cảnh chính trị xã hội, thời gian địa
điểm thực hiện hành vi… mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm được
quyết định bởi giá trị của thiệt hại; bởi mức độ lỗi; bởi động cơ, mục đích
cũng như quyết tâm phạm tội… chúng ta đánh giá được tính chất, mức độ
nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội cụ thể, giúp cho việc cá thể hóa
hình phạt. Điều 9 của Bộ luật hình sự chia tội phạm thành 4 loại: Tội phạm ít
nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm
đặc biệt nghiêm trọng. Nghiên cứu loại tội phạm mà người phạm tội đã thực
hiện không chỉ cho ta thấy rõ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm
tội của họ mà còn có ý nghĩa rất lớn trong việc giáo dục, phòng ngừa, điều tra,
xử lý người phạm tội.
- Hình thức gây án: Tội phạm thường được thực hiện dưới một trong hai
hình thức phạm tội là: Đơn lẻ và đồng phạm. Hình thức gây án đơn lẻ là
trường hợp tội phạm được thực hiện bởi một người. Hình thức gây án đồng

15


phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm

Tóm lại, khi nghiên cứu các đặc điểm nhân thân người phạm tội phải
nghiên cứu tổng thể các nhóm đặc điểm nêu trên tạo thành một thể thống nhất
không thể tách rời, bởi vì giữa chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau. Việc
nghiên cứu đầy đủ, toàn diện các dấu hiệu nhân thân người phạm tội sẽ cho
chúng ta thấy được các đặc điểm đặc trưng ảnh hưởng trực tiếp đến quyết
định thực hiện tội phạm của người phạm tội. Từ đó chúng ta có thể đưa ra các
kết luận về dự báo tình hình tội phạm, xây dựng phương án phòng ngừa tội
phạm cũng như việc áp dụng pháp luật đối với họ
1.2. Ý nghĩa của việc nghiên cứu nhân thân người phạm tội cố ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
Nhân thân người phạm tội được tội phạm học nghiên cứu bao gồm
những đặc điểm đặc trưng điển hình phản ánh bản chất xã hội của người
phạm tội và những đặc điểm này có vai trò quan trọng trong cơ chế của hành
vi phạm tội và góp phần phát sinh 1 tội phạm cụ thể ( hòan cảnh gia đình,
trình độ học vấn,…).Những đặc điểm nhân thân người phạm tội được tội
phạm học nghiên cứu ở các khía cạnh: Sinh học (giới tính, khí chất … ); tâm
lý (Ý thức, thói quen giải trí … ); xã hội (nghề nghiệp, nơi cư trú … );pháp lý
hình sự (thể hiện tính nguy hiểm cho xã hội của nhân thân người phạm tội:
phạm tội lần đầu, tái phạm, nhiều lần, chuyên nghiệp … )
Tội phạm học nghiên cứu nhân thân người phạm tội nhằm làm sáng tỏ
mối quan hệ và sự tác động qua lại của các đặc điểm sinh học, xã hội trong
nhân thân người phạm tội. Từ đó xác định vai trò của từng nhóm đặc điểm
này trong cơ chế của hành vi phạm tội biện pháp phòng ngừa tội phạm phù
hợp việc nghiên cứu nhân thân người phạm tội cũng được tiến hành ở 3 cấp
độ: Nghiên cứu nhân thân người phạm tội nói chung; nghiên cứu nhân thân

17


người phạm tội theo từng nhóm tội; nghiên cứu nhân thân người phạm tội cụ thể.

hình thành nên những phẩm chất đạo đức không tốt, thậm chí hình thành nên
những nhân cách đi ngược lại với yêu cầu của xã hội.Có những gia đình do
quan hệ của hai bố mẹ mâu thuẫn, li thân hoặc ly hôn, trong gia đình luôn xảy
ra cãi lộn, mắng chửi, thậm chí là xảy ra xô xát, bạo lực. Sống trong môi
trường gia đình như thế con cái ngày ngày phải nghe, phải chứng kiến, thậm
chí con là người chịu đòn, dần dần các em sẽ hình thành những nhận thức sai
lệch, và thật tệ hại khi trẻ cho rằng bạo lực chính là một cách để giải quyết
mâu thuẫn.Có những gia đình mà cha hoặc mẹ hay người thân mắc những
chứng bệnh hiểm nghèo hoặc gia đình vừa trải qua những biến cố lớn nếu
không có sự chuẩn bị tâm lý tốt sẽ hình thành nên tâm lý tự ti ở trẻ, và khi bị
bạn bè trêu trọc, bàn tán lâu ngày rất có thể trẻ sẽ không kiềm chế được bản
thân mà gây ra những hành vi bạo lực.
Trong mỗi gia đình, tùy theo điều kiện sống, nghề nghiệp, nhóm xã hội,
trình độ học vấn, lứa tuổi, giới tính, ý thức đạo đức, định hướng giá trị... nói
cách khác là tùy theo nếp sống riêng của mỗi gia đình mà các bậc cha mẹ sẽ
chú trọng những phẩm chất đạo đức khác nhau của con cái và có biện pháp
giáo dục khác nhau.Các gia đình bố mẹ có học vấn cao rất chú trọng dùng lời
lẽ lý giải cho con cái hiểu yêu cầu về những phẩm chất đạo đức nào đó. Trong
khi những gia đình bố mẹ có học vấn thấp ít khi chú ý giảng giải, nêu nguyên
nhân vì sao cần một số phẩm chất nhất định. Tương tự, khi rèn con vào khuôn
phép, cha mẹ có học vấn cao thường có khuynh hướng kiên nhẫn giảng giải
và khoan dung với những kích động và cơn giận bột phát của trẻ con hơn
những gia đình có học vấn thấp.
Sự quan tâm chăm sóc, dạy dỗ, ân cần chỉ bảo của gia đình rất quan
trọng trong việc hình thành nề nếp đạo đức, lối sống cho con cái, từ việc nhỏ

19




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status