BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
________________________________________________
PHẠM TIẾN ĐÔNG
ĐỔI MỚI HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA
TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
(VẬN DỤNG QUA DẠY HỌC Ở TỈNH NGHỆ AN)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC HỌC
HÀ NỘI - 2019
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
________________________________________________
PHẠM TIẾN ĐÔNG
ĐỔI MỚI HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA
TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
(VẬN DỤNG QUA DẠY HỌC Ở TỈNH NGHỆ AN)
Chuyên ngành: Lí luận và PPDH bộ môn Lịch sử
Mã số: 9.14.01.11
LUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
Tác giả luận án
BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Viết tắt
TT
Nội dung đầy đủ
1.
CB
Chủ biên
2.
CĐSP
Cao đẳng sư phạm
3.
CLB
Câu lạc bộ
4.
ĐHSP
Đại học sư phạm
10.
GD
Giáo dục
11.
GV
GV
12.
GS, PGS
Giáo sư, Phó Giáo sư
13.
HĐGDNGLL
Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
14.
LLVT
Lực lượng vũ trang
20.
NXB
Nhà xuất bản
21.
TBC
Trung bình chung
22.
THCS
Trung học cơ sở
23.
THPT
Trung học phổ thông
24.
Bảng 4.4. Phân bố điểm của học sinh ở các hoạt động ngoại khóa ........................142
Bảng 4.5. Điểm kiểm tra kết quả sau hoạt động ngoại khóa: Tham quan, trải
nghiệm tại Bảo tàng Quân khu IV ...........................................................143
Bảng 4.6. Tỉ lệ kết quả sau hoạt động ngoại khóa: Tham quan, trải nghiệm tại Bảo
tàng Quân khu IV .....................................................................................143
Bảng 4.7. Các tham số kiểm định kết quả kiểm tra sau hoạt động ngoại khóa: Tham
quan, trải nghiệm tại Bảo tàng Quân khu IV ...........................................143
Hình 4.1. Biểu đồ thể hiện kết quả thực nghiệm HĐNK: Tham quan, trải nghiệm tại
Bảo tàng Quân khu IV (Bài số 1) ............................................................143
Bảng 4.8. Điểm kiểm tra Hoạt động thực nghiệm “Dạ hội Lịch sử” ......................144
Bảng 4.9. Tỉ lệ xếp loại kết quả kiểm tra Hoạt động thực nghiệm “Dạ hội Lịch sử”.... 144
Bảng 4.10. Các tham số kiểm định kết quả kiểm tra Hoạt động thực nghiệm “Dạ
hội Lịch sử” ..............................................................................................144
Hình
Trang
Hình 2.1. Vai trò của HĐNK đối với sự phát triển toàn diện của học sinh ..............52
Hình 2.2. Mức độ quan tâm của CBQL đến HĐNK bộ môn Lịch sử .......................53
Hình 2.3. Thái độ của HS khi tham gia HĐNK (do GV đánh giá) ...........................54
Hình 2.4. Nguyên nhân dẫn đến HĐNK chưa lôi cuốn học sinh ..............................54
Hình 2.5. Nguyên nhân HĐNK chưa lôi cuốn học sinh (nhà quản lý đánh giá) ......61
Hình ảnh 3.1. Trình chiếu Rung Chuông vàng tại trường THPT Thanh Chương
(huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An) ....................................................102
Hình ảnh 3.2. Rung Chuông vàng tại trường THPT Thanh Chương (huyện Thanh
Chương, tỉnh Nghệ An) ...........................................................................102
Hình ảnh 3.3. Em Hoàng Thị Hương, học sinh trường THPT Nguyễn Trường Tộ
phát biểu .......................................................................................... 114
1.3. Nhận xét chung về các công trình đã công bố, những vấn đề luận án cần kế
thừa và tiếp tục nghiên cứu ....................................................................................29
1.3.1. Nhận xét chung về các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài ................29
1.3.2. Những vấn đề luận án kế thừa .........................................................................30
1.3.3. Những vấn đề luận án tiếp tục nghiên cứu ......................................................31
CHƯƠNG 2: VẤN ĐỀ ĐỔI MỚI HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA TRONG
DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG - CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ
THỰC TIỄN ............................................................................................................32
2.1. Cơ sở lí luận ......................................................................................................32
2.1.1. Các khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài......................................................32
2.1.2. Cơ sở xuất phát của vấn đề nghiên cứu...........................................................35
2.1.3. Vai trò, ý nghĩa của việc đổi mới hoạt động ngoại khóa trong dạy học lịch sử
ở trường phổ thông ....................................................................................................41
2.1.4. Một số yêu cầu cơ bản khi đổi mới hoạt động ngoại khóa trong dạy học lịch
sử ở trường trung học phổ thông ...............................................................................45
2.2. Cơ sở thực tiễn ..................................................................................................50
2.2.1. Khảo sát thực tế ...............................................................................................50
2.2.2. Đánh giá thực trạng và nguyên nhân của tồn tại .............................................58
CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA
TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG ....63
3.1. Đổi mới nội dung hoạt động ngoại khóa ........................................................63
3.1.1. Đa dạng hóa nội dung lịch sử trong đổi mới hoạt động ngoại khoá ...........65
3.1.2. Chú trọng lựa chọn nội dung lịch sử có ý nghĩa chính trị và giá trị thực tiễn
cao trong tổ chức hoạt động ngoại khoá ...................................................................69
3.1.3. Tăng cường khai thác kiến thức lịch sử địa phương trong đổi mới nội dung
của hoạt động ngoại khoá ..........................................................................................72
3.2. Đổi mới hình thức tổ chức hoạt động ngoại khóa .........................................75
3.2.1. Đổi mới trong các hình thức ngoại khóa truyền thống ...................................76
1
MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Giáo dục thế hệ trẻ luôn là mối quan tâm đặc biệt của mỗi quốc gia, dân
tộc cũng như của toàn nhân loại. Đảng và Nhà nước ta luôn khẳng định, giáo dục đào tạo cùng với khoa học - công nghệ là quốc sách hàng đầu, nhằm nâng cao dân
trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài và là yếu tố cơ bản để phát triển xã hội.
Để thực hiện nhiệm vụ có tầm chiến lược trên đây, vấn đề đổi mới căn bản và toàn
diện giáo dục và đào tạo, đã được đặt ra như một nhu cầu vừa cấp thiết trước mắt,
vừa cơ bản lâu dài. Đề cập đến vấn đề này, Nghị quyết đại hội đại biểu Đảng toàn
quốc lần thứ XI (2011) nhấn mạnh quan điểm cần phải phát triển nhanh nguồn
nhân lực, đặc biệt nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn
bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân. Còn Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ XII của Đảng đã coi việc đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào
tạo xây dựng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những
khâu đột phá chiến lược trong các nhiệm vụ trọng tâm của cách mạng nước ta
trong thời kỳ đổi mới. Tinh thần và quan điểm cơ bản đó đã được cụ thể hoá trong
Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 04/11/2013 của BCHTW Đảng (khóa XI): “Phát
triển giáo dục đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.
Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn
diện năng lực và phẩm chất người học”. Luật Giáo dục của nước CHXHVN (Điều
2, sửa đổi bổ sung 2009 và Điều 28, sửa đổi bổ sung 2010), cũng nhấn mạnh:“Mục
tiêu của giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức,
tri thức, sức khỏe, thẩm mĩ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập và xã
hội chủ nghĩa, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công
dân, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”, hoặc “Phương pháp
giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học
sinh, phù hợp với đặc điểm từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học,
rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại
thành Vinh - Bến Thủy, những địa danh đã đi vào lịch sử của “cuộc đấu tranh giai
cấp long trời, lở đất”; vẫn còn đó những Anh Sơn, Nghi Lộc, Nam Đàn, những nơi
hình thành sớm nhất chính quyền Xô Viết đầu tiên trên cả nước… Bên cạnh những
3
chứng tích của lịch sử, Nghệ An còn là quê hương của những câu hò ví dặm, những
làn điệu dân ca đằm thắm, mượt mà. Tất cả đã làm nên một vùng văn hóa - lịch sử
xứ Nghệ, có giá trị to lớn trong DHLS nói riêng cũng như giáo dục thế hệ trẻ hôm
nay nói chung.
Truyền thống lịch sử oai hùng và bản sắc văn hoá đặc sắc của vùng đất “địa
linh, nhân kiệt” chính là nguồn cội sức mạnh và tài sản vô giá của các hoạt động
giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ, trong đó có các HĐNK nói chung và ngoại
khoá của bộ môn Lịch sử nói riêng.
HĐNK của bộ môn Lịch sử có vai trò và vị trí như thế nào trước yêu cầu đổi
mới hiện nay và theo đó, việc đổi mới HĐNK của bộ môn Lịch sử phải tiến hành
như thế nào, cả về nội dung, hình thức và các biện pháp cụ thể ở trường THPT nói
chung và các trường THPT tỉnh Nghệ An nói riêng?. Đó là những vấn đề lớn, có ý
nghĩa quan trọng không chỉ trong lí luận mà còn tác động trực tiếp tới thực tiễn
DHLS ở ở trường phổ thông hiện nay.
Với cách tiếp cận như thế, chúng tôi đã chọn vấn đề: Đổi mới hoạt động
ngoại khóa trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông (Vận dụng qua
dạy học ở tỉnh Nghệ An) làm đề tài luận án của mình và mong muốn những kết quả
nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần nhất định vào quá trình đổi mới và nâng cao chất
lượng DHLS ở trường phổ thông hiện nay.
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là quá trình đổi mới HĐNK ở trường
THPT, trong đó tập trung chủ yếu vào nội dung, hình thức và các giải pháp đổi mới.
2.2. Phạm vi nghiên cứu
Cơ sở phương pháp luận của đề tài nghiên cứu dựa trên quan điểm của chủ
nghĩa Mác - Lênin về nhận thức, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối cùa
Đảng và Nhà nước về giáo dục và giáo dục lịch sử.
5
4.2. Phương pháp nghiên cứu
4.2.1. Nghiên cứu lí thuyết
Nghiên cứu quan điểm của các tác gia kinh điển, các tài liệu Giáo dục học,
Tâm lý học, Giáo dục lịch sử... có liên quan tới đề tài.
Nghiên cứu chương trình, sách giáo khoa ở trường THPT để xác định những
nội dung cần kế thừa và đổi mới trong tổ chức HĐNK Lịch sử ở trường THPT.
4.2.2. Nghiên cứu thực tiễn
Điều tra khảo sát thực tiễn về phía GV và HS ở các trường THPT trên địa bàn
tỉnh Nghệ An để có cơ sở rút ra các kết luận về thực trạng tổ chức HĐNK trong
DHLS ở trường THPT hiện nay.
Soạn các kế hoạch, nội dung tổ chức HĐNK để tiến hành thử nghiệm, TNSP
từng phần, toàn phần nhằm kiểm tra tính khả thi của các đề xuất đã đưa ra trong đề tài
Sử dụng phương pháp thống kê toán học, phần mềm xử lý, phân tích số liệu
SPSS để xử lí kết quả điều tra, khảo sát và thực nghiệm sư phạm (TNSP).
5. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC VÀ ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN
5.1. Giả thuyết khoa học
HĐNK trong DHLS ở trường THPT hiện nay, bên cạnh những ưu điểm cần kế
thừa và phát huy, vẫn còn không ít những hạn chế và bất cập. Nếu vận dụng các kết
quả nghiên cứu của đề tài, liên quan đến các giải pháp tiến hành nhằm đổi mới
HĐNK trong DHLS ở trường THPT, thì sẽ khắc phục được những hạn chế và bất
cập nói trên và góp phần nhất định vào quá trình đổi mới và nâng cao chất lượng
DHLS ở trường THPT hiện nay.
5.2. Đóng góp của luận án
- Khẳng định vị trí, ý nghĩa của việc đổi mới HĐNK trong DHLS ở trường
CHƯƠNG 1.
TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Là một trong những hình thức tổ chức dạy học chủ yếu, HĐNK nói chung và
ngoại khóa lịch sử nói riêng, từ rất sớm đã nhận được sự quan tâm, nghiên cứu của
các nhà Tâm lý học, Giáo dục học và Giáo dục lịch sử cả trong và ngoài nước. Trong
phạm vi của đề tài, chúng tôi tập trung nghiên cứu những nội dung cơ bản sau đây:
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu của các nhà Tâm lý học, Giáo dục học về
HĐNK trong dạy học.
Thứ hai, các công trình nghiên cứu của các nhà Giáo dục lịch sử liên quan đến
HĐNK trong DHLS ở trường phổ thông.
Thứ ba, đánh giá chung về các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài, xác
định những nội dung có thể kế thừa, cũng như chỉ ra những vấn đề mà luận án cần
tiếp tục đi sâu nghiên cứu.
1.1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến hoạt động ngoại khóa trong dạy học
1.1.1. Ở nước ngoài
Trong lịch sử giáo dục, vai trò của thực hành - cơ sở quan trọng của HĐNK - đã
được quan tâm từ lâu. Là một trong những nhà khởi xướng của Nho giáo, Khổng Tử
(551 - 479 tr.CN), nhà giáo dục vĩ đại của Trung Quốc thời cổ đại cho rằng, để tạo ra
lớp người “trị quốc” thì giáo dục phải gắn giữa học với hành, nhà giáo phải phát huy
được tính tích cực trong suy nghĩ và trong quá trình nhận thức của người học.
Ở thời cận đại, với sự xuất hiện của chủ nghĩa tư bản và cùng với đó là sự kết
thúc của chế độ phong kiến, nhiều luồng tư tưởng tiến bộ đã xuất hiện, trong đó có
những tư tưởng về giáo dục qua HĐNK nói riêng và hoạt động ngoài giờ lên lớp nói
chung. François Rabelais (1494 - 1553) nhà tư tưởng, nhà giáo dục học người
Pháp, một trong những đại biểu tiêu biểu của phong trào văn hóa Phục hưng, cũng
từng nhấn mạnh: ngoài việc triển khai các hoạt động học tập trên lớp thì cần có
những hình thức hoạt động học tập tại các xưởng thợ, các miền quê để tăng cường
kiến thức thực tiễn cho HS. Chỉ có tăng kiến thức thực tiễn cho HS thì HS mới có
thực tiễn. Ông cũng khẳng định, HĐNK có ý nghĩa to lớn trong việc giáo dục lòng
yêu nước, phát triển toàn diện HS và chống lại chủ nghĩa kinh viện, giáo điều trong
dạy học hiện nay. Trong HĐNK, E.I. Gôlan đã đề cập khá kĩ đến hình thức tham
quan, ông cho rằng đó là một trong những hình thức HĐNK quan trọng:“như một
hình thức công tác trí dục và đức dục, khắc phục chủ nghĩa kinh viện, giáo điều và
bệnh nói suông trong dạy học” [52, tr.68].
9
T. A. Ilina trong các công trình nghiên cứu của mình, đặc biệt là giáo trình “Giáo
dục học” tập 2, (NXB GD, HN 1979), cũng đề cập đến việc tổ chức các hoạt động giáo
dục ngoài giờ học và khẳng định, mục đích của các hoạt động này là bổ sung và làm
sâu sắc hơn giáo dục chính khoá, trước tiên, nó là “phương tiện để phát hiện đầy đủ
năng lực HS, làm thức tỉnh hứng thú và thiên hướng của các em đối với hoạt động nào
đó và cũng là hình thức tổ chức giải trí cho các em, là cơ sở để quản lí việc thực tập về
hành vi đạo đức để xây dựng kinh nghiệm của hành vi này”.
N.V.Savin trong sách Giáo dục học, T.1 (NXB GD,HN, 1983) đã đề cập nhiều
vấn đề chung của giáo dục học, từ phương pháp dạy học, hình thức kiểm tra đánh
giá, vấn đề tự học cho HS... Trong đó, về bài học, tác giả cho rằng, bên cạnh bài học
trong giờ lên lớp, còn có bài học ngoài giờ lên lớp, đó chính là HĐNK. Ông cho
rằng khi tổ chức các HĐNK, GV cần phải nghiên cứu thật kĩ hình thức, chủ đề của
hoạt động, nhiệm vụ và kế hoạch của GV và HS. Đây chính là nguồn tài liệu tham
khảo khi chúng tôi nghiên cứu, xây dựng các kế hoạch HĐNK hoặc đánh giá các
HĐNK trong quá trình triển khai đề tài.
Như vậy, có thể thấy, cùng với việc xây dựng một nền tảng cho xã hội mới, làm
mẫu hình cho các nước noi gương, thì nền giáo dục Xô Viết đã có vai trò to lớn trong
việc cung cấp cho nền giáo dục thế giới một hệ thống những lí luận về các hình thức
tổ chức dạy học nói chung và HĐNK nói riêng, góp phần to lớn vào sự phát triển của
giáo dục thế giới trong giai đoạn này.
Cùng với các nhà Giáo dục học, Tâm lý học Xô Viết, HĐNK cũng được các
khả năng đánh giá lịch sử của thế hệ trẻ. Thí dụ, qua các nhà bảo tàng (đặc biệt các
bảo tàng lịch sử), qua những con đường văn hóa và qua du lịch nói chung để bồi
dưỡng kiến thức HS. Chính sự quan tâm đến giáo dục lịch sử trong tình hình thế
giới hiện nay cũng làm cho nhiều nhà giáo dục bộ môn phải đề cập đến ý nghĩa, tác
dụng các hình thức HĐNK.
Trong tác phẩm Impact of Extracurricular Activities on Students (Tầm quan
trọng của HĐNK đối với sinh viên) các tác giả Wilson, Nikki (trường Đại học
Wisconsin-Stout, 2009), đã chỉ ra tầm quan trọng của HĐNK trong quá trình học
tập, theo đó, HĐNK sẽ giúp cho người học nâng cao trình độ học vấn, đi học
thường xuyên hơn và có sự tự giác cao hơn, hình thành các kỹ năng như làm việc
nhóm và lãnh đạo, trong khi giảm khả năng sử dụng rượu bia và ma túy bất hợp
pháp và nhiều hành vi tiêu cực liên quan đến phẩm chất và đạo đức HS. Đây là yếu
tố quan trọng để chúng tôi đề xuất cần phải đem HĐNK vào trong trường học nhằm
mục đích giáo dục HS, phát triển toàn diện HS và hạn chế sự xâm nhập của những
tệ nạn xã hội vào trường học.
Còn trong công trình “Đa trí tuệ trong lớp học”, NXB GD Việt Nam, 2013,
11
(người dịch: Lê Quang Long), Thomas Armstrong, đã đề cập rất nhiều đến các
hoạt động dạy học theo thuyết đa trí tuệ, trong đó có những hoạt động như tham
quan, hoạt động trải nghiệm nhanh, chuyện kể, trò chơi.... Thomas Armstrong còn
dẫn lời của Rútxô về việc cần thiết phải tiến hành các hoạt động dạy học trong thực
tiễn, dạy học qua trải nghiệm thực tế, theo đó, “trẻ nhỏ không nên học qua lời mà
phải qua trải nghiệm, không nên qua sách mà qua cuốn sách trường đời” [3, tr.63].
Ngoài ra, ông còn giới thiệu các thuyết đa trí tuệ trong phương pháp dạy học trong
triển khai kiểm tra, đánh giá…… Đây là những gợi mở để chúng tôi tiếp cận và đề
xuất các biện pháp đổi mới HĐNK sau này.
Giselle O.Martin - Kniep trong Tám đổi mới để trở thành người giáo viên
giỏi, (NXB GD Việt Nam, 2013, người dịch: Lê Văn Canh), đã trình bày về những
Academic Performance of Junior High Students (2000) (Ảnh hưởng của các HĐNK
đến kết quả học tập của HS trung học cơ sở) đã nhận định rằng, HĐNK chỉ là một kiểu
phong trào nhất thời và sau đó sẽ tự mai một đi và cho rằng trường học thì nên chú
trọng các vấn đề học tập ở trên lớp, không nên quá để ý đến những hoạt động ở ngoài.
Tuy nhiên, nhà nghiên cứu Anne Guèvremont (2008) trong tác phẩm Activités
parascolaires organisées des enfants et des jeunes au Canada (Các HĐNK có tổ chức
cho trẻ em và thanh thiếu niên ở Canada) đã chứng minh ngược lại rằng: HĐNK đã
giúp các nhà quản lí giáo dục có nhiều kinh nghiệm hơn, đặc biệt là khâu tổ chức các
hoạt động vì sự đa dạng của chúng và có thêm cơ hội mở rộng kiến thức cho chương
trình học chính thức.
Bernd Meier - Nguyễn Văn Cường trong cuốn “Lí luận dạy học hiện đại cơ sở đổi mới mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học”, (NXB ĐHSP, HN,
2014), đã trình bày các lí thuyết, chiến lược học tập, các mô hình dạy học, nghiên
cứu các nhân tố của quá trình dạy học... Các tác giả đã chỉ ra thực trạng dạy học ở
trường THPT hiện nay, những yêu cầu của quá trình hội nhập dành cho nền giáo
dục đào tạo nước nhà, đưa ra những năng lực cần thiết mà HS phải hình thành được
trong quá trình học tập ở trường THPT. Theo các tác giả, vấn đề rất cần được quan
tâm hiện nay đối với nền giáo dục của chúng ta chính là: tính hàn lâm, kinh viện, ít
gắn liền với thực tiễn, phương pháp dạy học chậm đổi mới, còn mang tính áp đặt, ít
gắn liền với cuộc sống và hoạt động thực tiễn, vì vậy đã ảnh hưởng đến sự phát
triển toàn diện của HS. Trên cơ sở đó, các giả đã đưa ra những quan điểm về đổi
mới nền giáo dục nước ta, với những định hướng cụ thể trong đổi mới hình thức
cũng như phương pháp dạy học… Đây chính là cơ sở để chúng tôi có thể nghiên
cứu và vận dụng vào việc triển khai các HĐNK sau này.
13
1.1.2. Ở trong nước
Vấn đề HĐNK trong dạy học cũng được các nhà nghiên cứu về Tâm lý học và
Giáo dục học trong nước đặc biệt quan tâm, như Thái Duy Tuyên, Hà Thế Ngữ,
Đặng Vũ Hoạt, Đặng Thành Hưng, Trần Thị Tuyết Oanh...
14
(NXB GD, HN 1980), Tâm lí học, (NXB GD, HN 1982), Một số vấn đề về giáo dục
học, (NXB GD, HN 1986), Góp phần đổi mới tư duy giáo dục (NXB GD,HN 1991),
Giáo dục thế giới đi vào TK XXI (NXB CTQG, HN 2002)… đều là những công
trình có giá trị to lớn đối với nền giáo dục nước nhà. Trong các công trình này, tác
giả đã chỉ ra những vấn đề cần phải đổi mới đối với nền giáo dục Việt Nam hiện
nay, trên bình diện so sánh với nền giáo dục của các nước tiên tiến, rút ra những bài
học cho mình. Quan điểm giáo dục được thể hiện xuyên suốt qua các công trình của
ông là: Đổi mới giáo dục phải bắt đầu từ yếu tố con người, cần xây dựng giá trị học
đi vào cuộc sống. Trong đó, HĐNK cần phải được tăng cường dưới nhiều hình
thức, nhiều phương pháp phong phú để lôi cuốn HS tham gia. Những lí luận tâm lý
học, giáo dục học của tác giả là cơ sở để chúng tôi đưa ra những kiến nghị, đề xuất
trong quá trình triển khai các HĐNK.
Nguyễn Quang Uẩn (chủ biên), Nguyễn Văn Lũy, Đinh Văn Vang, trong
công trình nghiên cứu Giáo trình Tâm lý học đại cương (NXB GD, 2000) cũng đã đề
cập tới những đặc trưng của quá trình nhận thức của con người, vai trò của hoạt động
đối với việc hình thành nhân cách của HS, đặc điểm của lứa tuổi HS, mối quan hệ
giữa sự học và nhận thức… Đây là những vấn đề lí luận cho quá trình dạy học nói
chung và HĐNK nói riêng, giúp GV căn cứ vào những đặc trưng này để lựa chọn nội
dung, tạo điều kiện cho HS tham gia hoạt động, vì chỉ có hoạt động thì nhân cách của
HS mới được hình thành và phát triển toàn diện.
Đặng Thành Hưng trong công trình Dạy học hiện đại - lí luận, biện pháp, kĩ
thuật, (NXB ĐHQG HN, 2002) đã chỉ ra các hình thức tổ chức dạy học cơ bản
trong nhà trường. Bên cạnh bài học trên lớp còn có: tham quan, seminar, thực hành,
thí nghiệm, học nhóm, học ở nhà… Trong đó, ông cho rằng trong một bài học,
ngoài việc tổ chức dạy học trên lớp, có thể tổ chức kết hợp với các hoạt động ngoài
lớp để tạo thành một bài học trọn vẹn.
Trong cuốn “Giáo dục học tập 1 và tập 2”, dành cho sinh viên sư phạm, tác giả
Trần Thị Tuyết Oanh (NXB ĐHSP, HN, 2007), đã đề cập nhiều vấn đề về lí luận
dạy học, như phương pháp dạy học, phương tiện dạy học, nguyên tắc, mục tiêu dạy
chức các cuộc thi, tổ chức câu lạc bộ, sinh hoạt tập thể, lao động công ích, tham
quan dã ngoại, tổ chức các sự kiện, sân khấu tương tác..." [144, tr.21].
Như vậy, có thể thấy, với các tài liệu về Tâm lý học và Giáo dục học cả trong
và ngoài nước, vấn đề tổ chức HĐNK đã được đề cập từ rất lâu, tuy nhiên, mỗi thời
điểm, mỗi quốc gia, mỗi nhà nghiên cứu lại có những cách hiểu, cách vận dụng
HĐNK khác nhau. Vấn đề là ở chỗ, trong quá trình đổi mới nền giáo dục hiện nay,
chúng ta sẽ phải tiến hành HĐNK như thế nào thì chưa có công trình nào đề cập đến
một cách tập trung và hệ thống. Đây chính là nội dung mà chúng tôi cần tiếp tục kế