VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HUỲNH THANH HÙNG
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ BỀN VỮNG TỪ THỰC TIỄN
QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HUỲNH THANH HÙNG
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ BỀN VỮNG TỪ THỰC TIỄN
QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Ngành: Chính sách công
Mã số: 8 34 04 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. NGUYỄN DANH SƠN
2.1. Chủ trương và chính sách phát triển đô thị bền vững của thành phố Hồ
Chí Minh ......................................................................................................... 28
2.2. Tổ chức thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững ở quận Bình Tân
thời gian qua ................................................................................................... 34
2.3. Kết quả đạt được và đánh giá .................................................................. 48
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THỰC HIỆNCHÍNH
SÁCH PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ BỀN VỮNG TỪ THỰC TIỄN QUẬN
BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ............................................. 63
3.1. Quan điểm, phương hướng và mục tiêu phát triển đô thị bền vững quận
Bình Tân ......................................................................................................... 63
3.2. Giải pháp tăng cường thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững
quận Bình Tân thời gian tới ........................................................................... 67
KẾT LUẬN ................................................................................................... 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
NXB
Nhà xuất bản
PGS.TS
Phó Giáo sư, Tiến sỹ
PPP
Public – Private – Partnership (Mô hình đối tác công tư)
triển, đô thị hiện hữu từng bước được nâng cấp cải tạo, mở rộng về quy mô
đất đai, hạ tầng kỹ thuật (giao thông, cấp điện, cấp nước, thoát nước thải, vệ
sinh môi trường,…) và hạ tầng xã hội (giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao,…),
bộ mặt đô thị đã có nhiều thay đổi theo hướng văn minh, hiện đại, đời sống
dân cư đô thị từng bước được nâng cao.
Cùng với xu thế phát triển đô thị chung của cả nước, quận Bình Tân là
một đô thị trực thuộc thành phố Hồ Chí Minh. Trong những năm qua, quận
Bình Tân đã thực hiện chủ trương phát triển kinh tế gắn với quy hoạch phát
triển đô thị, giải quyết các vấn đề xã hội, thực hiện chính sách an sinh xã hội
và đã đạt được những kết quả tích cực. Lãnh đạo quận Bình Tân luôn quan
tâm coi trọng công tác quy hoạch phát triển đô thị nhằm hướng tới phát triển
đô thị bền vững, góp phần vào việc hiện thực hóa mục tiêu phấn đấu xây dựng
quận Bình Tân trở thành một quận “giàu đẹp, văn minh, hiện đại, nghĩa tình”,
một quận có môi trường đô thị văn minh, có thiên nhiên trong lành và đời
1
sống văn hóa cao; một trong những quận phát triển hài hòa, thân thiện. Tuy
nhiên, với đặc điểm là quận đô thị hóa, áp lực tăng dân số cơ học cao (từ
633.543 người năm 2013 tăng lên 729.367 người năm 2017), kèm theo đó là
các nhu cầu về nhà ở, hệ thống hạ tầng kỹ thuật, các dịch vụ tiện ích,… để
phục vụ cho đời sống người dân đòi hỏi ngày càng cao, đây là một thách thức
rất lớn đặt ra cho công tác quản lý phát triển đô thị của quận. Mặc dù, quận
Bình Tân hiện nay có nhiều khu đô thị mới đã và đang hình thành làm thay
đổi diện mạo của quận, như: khu đô thị Lý Chiêu Hoàng, khu đô thị An Lạc –
Bình Trị Đông, khu đô thị Nam Hùng Vương – Bắc Trần Văn Kiểu, khu đô
thị Tên Lửa, khu đô thị dân cư mới Vĩnh Lộc,… Các khu đô thị mới này đã
góp phần tích cực vào kết quả phát triển nhà ở mỗi năm, cũng như góp phần
nâng cao chất lượng dịch vụ đô thị, tạo lập môi trường đô thị hiện đại và giảm
chính sách đô thị hóa đối với sự phát triển bền vững ở Việt Nam, Nxb Lao
động xã hội, Hà Nội.
- Nguyễn Quang Thái và Ngô Thắng Lợi (2007), Phát triển bền vững ở
Việt Nam: Thành tựu, cơ hội, thách thức và triển vọng, Nxb Lao động - xã
hội, Hà Nội.
- Phạm Thị Bích Yên (2011), Đô thị hóa Việt Nam trong quá trình công
nghiệp hóa, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ năm 2011.
- Lê Thanh Sang (Chủ biên) (2017), Đô thị hóa và phát triển bền vững
vùng Nam Bộ: lý luận, thực tiễn và đối thoại chính sách (kỷ yếu hội thảo
Khoa học Quốc gia),Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
Các công trình nghiên cứu, các bài viết trên đã phản ánh rất nhiều góc
độ khác nhau về tình hình quản lý quy hoạch phát triển đô thị cả nước nói
chung và ở thành phố Hồ Chí Minh nói riêng. Đặc biệt đã phản ánh sự cấp
thiết cần có cơ chế, chính sách, giải pháp giải quyết vấn đề quản lý quy hoạch
phát triển đô thị trong tiến trình tăng trưởng, phát triển kinh tế - xã hội tại các
3
địa phương trong cả nước, đặc biệt là tại các đô thị lớn. Mặc dù các nghiên
cứu này các tác giả đã phản ánh tình trạng cấp thiết về quản lý quy hoạch phát
triển đô thị và đề xuất được những giải pháp để ổn định đời sống của người
dân trong tiến trình đô thị hoá và phát triển đô thị, nhưng về chính sách phát
triển đô thị lớn, đặc biệt như thành phố Hồ Chí Minh, thì còn rất nhiều vấn đề
đặt ra cả về tính chất đặc thù và cả về tổ chức thực hiện các đặc thù của chính
sách phát triển đô thị trong bối cảnh mới hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu hệ thống hóa những vấn đề lý luận về thực hiện chính
sách phát triển đô thị theo hướng bền vững, hiện đại ở Việt Nam;
5.1. Phương pháp luận
Luận văn nghiên cứu và vận dụng cách tiếp cận đa ngành, liên ngành xã
hội học, quản lý học và đô thị học; vận dụng phương pháp luận và lý thuyết
về chính sách công. Đó là cách tiếp cận nghiên cứu chính sách công theo chu
trình thực hiện chính sách từ hoạch định đến xây dựng, tổ chức thực hiện và
đánh giá thực hiện chính sách công có sự tham gia của các chủ thể chính sách.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập, tổng hợp tài liệu, số liệu: Hệ thống tài liệu là
cơ sở quan trọng giúp cho việc hình thành và hoàn thiện cơ sở lý luận cũng
như những nghiên cứu, phân tích cụ thể về lịch sử phát triển, sự biến đổi và
phát triển của đô thị ở quận Bình Tân theo thời gian. Hệ thống tài liệu thu
thập được bao gồm: tài liệu liên quan đến lịch sử phát triển của quận Bình
Tân, tài liệu về các văn kiện, Nghị quyết, quyết định của Đảng, Nhà nước, bộ
ngành ở Trung ương và địa phương; các tài liệu, công trình nghiên cứu, các
báo cáo, thống kê của chính quyền, ban ngành đoàn thể, tổ chức, cá nhân liên
5
quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới vấn đề chính sách phát triển đô thị bền vững
ở nước ta nói chung và thực tế quận Bình Tân nói riêng.
- Phương pháp thống kê và so sánh: được sử dụng trong quá trình
nghiên cứu nhằm xử lý các số liệu thống kê đã thu thập được để phân tích đặc
điểm của quá trình thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững khu vực
nghiên cứu.
- Phương pháp phân tích chính sách công, bao gồm kỹ thuật phân tích
SWOT (điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức) để xác định các điểm
mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức, từ đó tìm ra các vấn đề và nguyên nhân
trong tổ chức thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững tại địa bàn
nghiên cứu.
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN
ĐÔ THỊ BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM
1.1. Các khái niệm
1.1.1. Chính sách công và thực hiện chính sách công
- Chính sách công thể hiện mối quan hệ giữa nhà nước và công dân, do
đó khái niệm về chính sách công phụ thuộc nhiều vào bản chất của nhà nước.
Cho đến nay, một số nhà khoa học trong và ngoài nước đưa ra các quan niệm
và định nghĩa về chính sách công như sau:
+ Theo James Anderson: “Chính sách công là một quá trình hành động
có mục đích theo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải quyết các
vấn đề mà họ quan tâm”.
+ Thomas R. Dye thì cho rằng “Chính sách công là cái mà Chính phủ
lựa chọn làm hay không làm”. Đây là định nghĩa ngắn gọn, được nhiều học
giả tán thành, nó phản ánh được nội hàm cơ bản của chính sách công.
+ PGS.TS. Lê Chi Mai cho rằng “Chính sách công có những đặc trưng cơ
bản nhất như: chủ thể ban hành chính sách công là nhà nước; chính sách công
không chỉ là các quyết định (thể hiện trên văn bản) mà còn là những hành động,
hành vi thực tiễn (thực hiện chính sách); chính sách công tập trung giải quyết
những vấn đề đang đặt ra trong đời sống kinh tế - xã hội theo mục tiêu xác định;
chính sách công gồm nhiều quyết định chính sách có liên quan lẫn nhau”.
+ Theo PGS.TS. Đỗ Phú Hải nêu ra định nghĩa một cách chung nhất về
chính sách công như sau: “Chính sách công là một tập hợp các quyết định có
liên quan để “lựa chọn” mục tiêu và những giải pháp, công cụ chính sách
nhằm giải quyết các vấn đề chính sách theo mục tiêu tổng thể đã xác định của
đảng chính trị cầm quyền”.
8
Các quốc gia Châu Âu định nghĩa đô thị dựa trên cơ bản việc sử dụng
đất thuộc đô thị, dùng ảnh chụp từ vệ tinh thay vì dùng thống kê từng khu phố
để quyết định ranh giới của đô thị. Tại Pháp, một đô thị là một khu vực bao
gồm một vùng phát triển do xây cất. Ngoài tiêu chí sử dụng đất thì đô thị còn
có điều kiện là mật độ dân số nhất định nào đó và đa phần dân số không hành
nghề nông nghiệp hay đánh cá. Tại Ba Lan thì định nghĩa chính thức về “đô
thị” khá đơn giản, nó được hiểu là các địa phương có danh xưng là thị trấn,
thành phố; vùng “nông thôn” là những vùng nằm ngoài ranh giới của các thị
trấn này.[30]
Ở Châu Mỹ mà cụ thể là nước Mỹ thì lại có khái niệm về khu đô thị,
cụ thể là có hai loại khu đô thị: một loại để chỉ các khu có trên 50.000 dân trở
lên là urbanized area và một loại có dân số dưới 50.000 gọi là urban cluster.
Cục Điều tra dân số Hoa Kỳ định nghĩa một khu đô thị như “những cụm
thống kê cốt lõi có mật độ dân số ít nhất là 1.000 người trên một dặm vuông
Anh và những cụm thống kê xung quanh nó có tổng mật độ dân số ít nhất là
500 người trên một dặm vuông”. Tại Nhật Bản, đô thị được định nghĩa là các
vùng cận kề nhau gồm các khu dân cư đông đúc, trong đó mật độ dân số phải
trên 4.000 người trên một cây số vuông.[30]
Tại Việt Nam hiện nay, khái niệm đô thị đã được luật hóa trong Luật
Quy hoạch đô thị năm 2015. Theo đó, đô thị được định nghĩa: “Đô thị là khu
vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh
vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn
hóa hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của
quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại
thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn”.
Ngày nay, đô thị không chỉ đơn thuần là nơi tập trung dân cư đông đúc
với các hoạt động mang tính chất phi nông nghiệp; các trung tâm đơn chức
11
đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp
chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ
môi trường”.
Từ những khái niệm trên có thể thấy rằng, về bản chất, phát triển bền
vững là một quá trình biến đổi mạnh mẽ trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội
nhằm tạo ra sự tối ưu nhất trong tăng trưởng để đáp ứng nhu cầu nâng cao
chất lượng cuộc sống của con người mà không làm tổn hại đến hệ các sinh
thái và môi trường trong hiện tại cũng như trong tương lai. Tổng quát hơn,
phát triển bền vững chính là một quá trình liên tục cân bằng và hòa nhập các
mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái. Nó đảm bảo sự trường tồn
của nhân loại. Chính vì vậy, phát triển bền vững đã trở thành mục tiêu chiến
lược cho toàn cầu, cho từng quốc gia, cho từng khu vực, vùng đô thị, cũng
như cho từng đô thị.
- Phát triển đô thị bền vững: khái niệm về phát triển đô thị bền vững
phải xuất phát từ quan điểm tổng hòa phát triển các lĩnh vực trụ cột của đô thị
(kinh tế, xã hội, môi trường), cân bằng các hệ sinh thái và bảo đảm cho mọi tổ
chức liên kết hữu cơ về không gian các chức năng hoạt động của đô thị, hệ
thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật và cơ sở hạ tầng xã hội; có mối quan hệ chặt chẽ
giữa đô thị - nông thôn, nhất là với khu vực ven đô.
Trên cơ sở nguyên lý phát triển bền vững, các nhà nghiên cứu và quản
lý về phát triển đô thị đều cho rằng khái niệm phát triển đô thị bền vững có
thể được hiểu là mối quan hệ hữu cơ, mật thiết giữa các nhân tố cấu thành đô
thị như một chỉnh thể, là: kinh tế đô thị, văn hóa - xã hội đô thị, môi trường sinh thái đô thị, cơ sở hạ tầng đô thị và quản lý đô thị.
Hiện nay dưới tác động của biến đổi khí hậu và cách mạng công nghiệp
thế hệ mới 4.0, các nhà nghiên cứu và quản lý về phát triển đô thị còn đưa ra
khái niệm phát triển đô thị/thành phố xanh (green city) và đô thị/thành phố
13
(2) Không gian xanh, được đánh giá bằng tỷ lệ phần trăm số người đến
được với vườn cây xanh ở khoảng cách nhất định.
(3) Sử dụng hiệu quả tài nguyên, được đánh giá bằng toàn bộ năng
lượng; nước tiêu thụ; phế thải đem loại bỏ (không kể số phế thải được tái chế
hay sử dụng lại) tính theo đầu người trong một năm. Tỷ lệ giữa các nguồn
năng lượng có thể tái sinh và không tái sinh.
(4) Chất lượng môi trường tin cậy, được tính bằng tỷ lệ không gian mở
cho diện tích được dùng ô tô.
(5) Khả năng đi lại, được tính bằng số kilomét đi bằng phương tiện giao
thông (ô tô, xe đạp, vận tải công cộng…) tính theo đầu người trong một năm.
(6) Nền kinh tế xanh, được đánh giá bằng tỷ lệ phần trăm số công ty đã
kết hợp các phương pháp kiểm toán và quản lý sinh thái (EMAS) hoặc các
phương pháp tương tự.
(7) Độ trường tồn, được đánh giá bằng số các hoạt động hoặc phương
tiện văn hoá và xã hội (danh mục này còn đang được bổ sung).
(8) Sự tham gia của cộng đồng, được xác định thông qua số các nhóm
hoặc tổ chức tình nguyện tính trên 1.000 dân và ước chừng số thành viên.
(9) Công bằng xã hội, được phản ánh qua tỷ lệ phần trăm số người sống
dưới mức nghèo khổ, và tỷ lệ số người không được tiếp cận tới những dịch vụ
cơ bản của đô thị như nhà ở, việc làm, độ ổn định của thu nhập, hưởng chăm
sóc y tế, giáo dục chính quy…
(10) Phúc lợi, được đánh giá thông qua việc khảo sát sự thoả mãn của
các công dân về chất lượng đời sống (nội dung khảo sát được địa phương
quyết định).
Trên cơ sở những chỉ tiêu cốt lõi, các thành phố dựa vào đặc điểm địa
phương của mình mà bổ sung thêm những chỉ tiêu cơ bản, dựa vào điều kiện
trên). Đối với Thành phố Hồ Chí Minh, theo tác giả luận văn, có thể vận dụng
bộ tiêu chí đô thị bền vững nêu tại Phụ lục.
1.3. Chính sách phát triển đô thị theo hướng bền vững ở Việt Nam
1.3.1. Quan điểm
Theo Quyết định số 445/QĐ-TTg ngày 07 tháng 4 năm 2009 của Chính
phủ thì việc hình thành và phát triển hệ thống đô thị Việt Nam đến năm 2025
và tầm nhìn đến năm 2050 phải dựa trên các quan điểm:
- Phù hợp với sự phân bố và trình độ phát triển lực lượng sản xuất, với
yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa và hội nhập kinh tế
quốc tế của Việt Nam;
- Phát triển và phân bố hợp lý trên địa bàn cả nước, tạo ra sự phát triển
cân đối giữa các vùng. Coi trọng mối liên kết đô thị - nông thôn, bảo đảm
chiến lược an ninh lương thực quốc gia; nâng cao chất lượng đô thị, bảo tồn
và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống phù hợp từng giai đoạn phát triển
chung của đất nước;
- Phát triển ổn định, bền vững, trên cơ sở tổ chức không gian phù hợp,
sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, đất đai, tiết kiệm năng lượng; bảo vệ
môi trường, cân bằng sinh thái;
- Xây dựng đồng bộ cơ sở hạ tầng xã hội và hạ tầng kỹ thuật với cấp độ
thích hợp hoặc hiện đại, theo yêu cầu khai thác, sử dụng và chiến lược phát
triển của mỗi đô thị;
- Kết hợp chặt chẽ với việc bảo đảm an ninh, quốc phòng và an toàn xã
hội; đối với các đô thị ven biển, hải đảo và dọc hàng lang biên giới phải đáp
ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ và giữ vững chủ quyền quốc gia.
Bên cạnh đó, Chính phủ cũng đề ra mục tiêu phát triển hệ thống đô thị
Việt Nam đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2050 là: “Từng bước xây dựng
hoàn chỉnh hệ thống đô thị Việt Nam phát triển theo mô hình mạng lưới đô
17
- Năm 2015, dự báo dân số đô thị cả nước khoảng 35 triệu người,
chiếm 38% dân số cả nước; năm 2020, dân số ở các đô thị khoảng 44 triệu
người, chiếm 45% dân số cả nước; năm 2025, dân số ở các đô thị khoảng 52
triệu người, chiếm 50% dân số cả nước.
- Năm 2015, tổng số đô thị trong cả nước khoảng trên 870, trong đó đô
thị đặc biệt là 02; loại I là 09; loại II là 23; loại III là 65, loại IV là 79 và loại
V là 687 đô thị. Năm 2025, tổng số đô thị trong cả nước khoảng 1000 đô thị,
trong đó đô thị loại I đến đặc biệt là 17; loại II là 20; loại III là 81, loại IV là
122, còn lại là đô thị loại V.
* Định hướng về nhu cầu sử dụng đất đô thị
Dự báo đến năm 2015, nhu cầu đất xây dựng đô thị khoảng 335.000 ha,
chiếm 1,06% diện tích tự nhiên cả nước, chỉ tiêu trung bình là 95m2/người.
Năm 2055, nhu cầu đất xây dựng đô thị khoảng 450.000 ha, chiếm 1,4% diện
tích tự nhiên cả nước, chỉ tiêu trung bình là 85m2/người.
* Định hướng phát triển hạ tầng kỹ thuật đô thị
- Tại các đô thị lớn, cực lớn (đô thị đặc biệt, đô thị loại I và II) có tỷ lệ
đất giao thông chiếm từ 20% - 26% đất xây dựng đô thị, các đô thị trung bình
và nhỏ (đô thị loại III trở lên) chiếm từ 15% - 20% đất xây dựng đô thị; tỷ lệ
vận tải hành khách công cộng ở các đô thị lớn đạt trên 35% vào năm 2015 và
trên 50% vào năm 2025.
- Năm 2015 đạt trên 80%, năm 2025 trên 90% dân số đô thị được cấp
nước sạch; 100% các đô thị được cấp điện sinh hoạt vào năm 2015; trên 80%
các tuyến phố chính đô thị được chiếu sáng và trên 50% được chiếu sáng cảnh
quan vào năm 2025; bảo đảm nước thải và chất thải rắn đô thị được thu gom
và xử lý triệt để đạt tiêu chuẩn theo quy định.
- Cơ sở hạ tầng thông tin và truyền thông phát triển mạnh mẽ đáp ứng
yêu cầu phát triển của đô thị và hội nhập kinh tế quốc tế; năm 2015 đạt trên
* Tạo vốn phát triển cơ sở hạ tầng đô thị
19