Thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo từ thực tiễn huyện lộc bình, tỉnh lạng sơn - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
0

HOÀNG VĂN TẶNG

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN LỘC BÌNH, TỈNH LẠNG SƠN

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI, 2019


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu độc lập của cá
nhân tôi, chưa được công bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào. Các
số liệu, nội dung được trình bày trong luận văn này là hoàn toàn hợp lệ, đảm
bảo tuân thủ các quy định về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và tôi xin chịu trách
nhiệm về đề tài nghiên cứu của mình.
Tác giả luận văn

Hoàng Văn Tặng


MỤC LỤC
MỞ ÐẦU .......................................................................................................... 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÓA
ĐÓI, GIẢM NGHÈO ...................................................................................... 9
1.1. Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo...................... 9
1.2. Cơ sở thực tiễn về thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo................. 24


CNH - HĐH

Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa

CSGN

Chính sách giảm nghèo

CSGNBV

Chính sách giảm nghèo bền vững

CSXĐGN

Chính sách xóa đói, giảm nghèo

DTTS

Dân tộc thiểu số

ESCAP

Ủy ban KT-XH Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương

GDP

Tổng thu nhập quốc dân

GNBV


ODC

Tổ chức hội đồng phát triển hải ngoại

PQLI

Chỉ số chất lượng cuộc sống

QĐ-TTg

Quyết định Thủ tướng Chính phủ

UBND

Ủy ban nhân dân

UNDP

Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc

XĐGN

Xói đói, giảm nghèo

XHCN

Xã hội chủ nghĩa





lâm nghiệp, thu nhập thấp, đời sống người dân còn gặp nhiều khó
khăn.
Kết quả điều tra, rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2010 của UBND
huyện Lộc Bình cho thấy: Toàn huyện có 18.621, trong đó hộ nghèo, với
4.928 hộ với 21.562 nhân khẩu, chiến tỷ lệ 26,46%, giảm 6,15% tỷ lệ hộ
nghèo so với năm 2009. Cụ thể: Số hộ thoát nghèo: 1.127 hộ; Số hộ rơi vào
nghèo: 120 hộ; Chủ hộ nghèo là người dân tộc: 4.894 hộ; Chủ hộ nghèo là nữ:
82 hộ. Kết quả nghèo phân theo tỷ lệ: xã có tỷ lệ hộ nghèo dưới 10% có 9 xã,
thị trấn: TT Na Dương, TT Lộc Bình, Bằng Khánh, Xuân lễ, Yên Khoái,
Xuân Mãn, Tú Mịch, Như Khuê, Lục Thôn; xã có tỷ lệ hộ nghèo từ 10% đến
dưới 25% có 7 xã: Hữu Khánh, Đồng Bục, Vân Mộng, Tú Đoạn, Hiệp Hạ,
Quan Bản, Đông Quan; xã có tỷ lệ hộ nghèo từ 25% đến dưới 50% có 4 xã:
Xuân Tình, Sàn Viên, Tĩnh Bắc, Khuất Xá; xã có tỷ lệ hộ nghèo từ 50% đến
dưới 70% có 7 xã: Mẫu Sơn, Tam Gia, Nhượng Bạn, Minh Phát, Hữu lân, Lợi
Bác, Nam Quan; xã có tỷ lệ hộ nghèo từ 70% trở lên có 2 xã: Xuân Dương,
Ái Quốc. Hiện nay, toàn huyện Lộc Bình có 1.624 hộ cận nghèo với 7.291
nhân khẩu, chiếm 8,72% toàn bộ số hộ và nhân khẩu của huyện.
Thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước cũng như sự
chỉ đạo của UBND tỉnh Lạng Sơn về xóa đói giảm nhèo trong thời gian qua,
tình hình KT-XH của huyện Lộc Bình tỉnh Lạng Sơn đã có bước phát triển
nhất định, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân từng bước được nâng
lên rõ rệt. Kết quả thực hiện CSXĐGN cho thấy: Theo kết quả tổng điều tra
hộ nghèo, cận nghèo theo chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 - 2015, số
hộ nghèo qua điều tra năm 2010, có 4.928 hộ, chiếm 26,46%. Năm 2015 giảm
xuống còn 2.368 hộ, chiếm 12,71%. Đầu giai đoạn có 09 xã có tỷ lệ hộ nghèo
từ 50% trở lên, hiện nay giảm xuống còn có 02 (xã Ái Quốc, xã Xuân
Dương). Bên cạnh đó, huyện còn 08 xã có tỷ lệ hộ nghèo rất cao từ 25% đến
dưới 50% và 03 xã có tỷ lệ hộ nghèo từ 10% đến dưới 25% và 16 xã có tỷ lệ

trạng và định hướng hoàn thiện” của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, đã

3


trình bày và phân tích thực trạng, kết quả của chính sách giảm nghèo và định
hướng chính sách giảm nghèo ở Việt Nam trong thời gian tới.
Nguyễn Đức Nhật, Phạm Quang Trung, Trương Thai Mai, Phạm
Phương Hồng (2013): “Nghiên cứu các mô hình giảm nghèo của các đối tác
quốc tế tại Việt Nam” của UNDP do nhóm nghiên cứu hực hiện.
Về luận văn, luận án có các công trình sau:
Tác giả Trần Công Đoàn (2014), với đề tài “CSGN từ thực tiễn tỉnh
Hòa Bình”, luận văn Thạc sĩ chuyên ngành chính sách công. Luận văn đã đề
cập đến vấn đề giảm nghèo ở cả góc độ lý luận và thực tiễn, quá trình triển
khai thực hiện, chỉ ra những mặt được, mặt tồn tại hạn chế, từ đó đưa ra
những giải pháp phù hợp để thực hiện CSGN của tỉnh Hòa Bình.
Tác giả Bùi Thế Hưng (2015): “Chính sách giảm nghèo bền vững từ
thực tiễn quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng” Đề tài luận văn thạc sĩ chính
sách công. Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về xóa đói giảm nghèo; thực
trạng giảm nghèo trên địa bàn quận Lê Chân thành phố Hải Phòng; đánh giá
những mặt được và chưa được và nguyên nhân; đồng thời đề ra các giải pháp
tăng cường thực hiện chính sách giảm nghèo của địa phương.
Tác giả Phan Thị Kim Phúc (2016), với đề tài “Chính sách giảm
nghèo bền vững từ thực tiễn Quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh”, luận
văn thạc sĩ chuyên ngành chính sách công. Nghiên cứu một số vấn đề lý luận
về xóa đói giảm nghèo; thực trạng giảm nghèo trên địa bàn quận Tân phú,
Thành phố Hồ Chí Minh; đánh giá những tồn tại, hạn chế, nguyên nhân trong
công tác giảm nghèo; đề ra phương hướng và một số giải pháp tăng cường
thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững ở nước ta hiện nay.
Tác giả Trần Văn Hùng (2016): “Thực hiện CSGNBV từ thực tiễn tỉnh

hơn trong thực hiện CSXĐGN tại huyện Lộc Bình nhằm góp phần thúc đẩy
phát triển KT-XH của huyện trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến CSXĐGN.
5


Nghiên cứu thực trạng tổ chức thực hiện CSXĐGN ở huyện Lộc Bình,
tỉnh Lạng Sơn.
Đánh giá kết quả, hạn chế và nguyên nhân của thực hiện chính sách
XĐGN ở huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.
Đề xuất các giải pháp hiệu quả hơn trong tổ chức thực hiện CSXĐGN ở
huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.
4. Ðối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Việc tổ chức thực hiện CSXĐGN ở huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về không gian: Luận văn nghiên cứu các vấn đề thực hiện
CSXĐGN tại huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.
- Phạm vi về thời gian: Giai đoạn 2011 - 2015.
Đây là giai đoạn cả nước thực hiện theo Quyết định số 09/2011/QĐTTg ngày 30/01/2011 của Thủ tướng Chính phủ và UBND huyện Lộc Bình
đã tập trung thực hiện CSXĐGN, triển khai lồng ghép 10 chính sách và 3 dự
án trên địa bàn huyện. Kết quả nghiên cứu của giai đoạn này làm tiền đề cho
thực hiện chính sách giai đoạn 2016 – 2020.
5. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở phương pháp luận
Để thực hiện nghiên cứu đề tài, luận văn đã vận dụng phương pháp duy
vật biện chứng và duy vật hiện thực kết hợp với chủ trương, đường lối
của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước và tình hình thực tiễn của địa
phương về CSXĐGN để giải quyết các vấn đề đặt ra.

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phần nội dung của luận văn được
chia làm 3 chương gồm:
Chương 1. Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo
Chương 2. Thực trạng thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo tại
huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.
7


Chương 3. Một số giải pháp nhằm thực hiện chính sách xóa đói, giảm
nghèo hiệu quả hơn tại huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.

8


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO
1.1. Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo
1.1.1. Khái niệm về nghèo đói và tiêu chí đánh giá nghèo đói
1.1.1.1. Các khái niệm
Ở Việt Nam khái niệm về đói nghèo được Bộ LĐTB&XH tách riêng
đói và nghèo, không khái niệm chung như thế giới.
Nghèo tuyệt đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư thuộc diện nghèo
không có khả năng thỏa mãn nhu cầu tối thiểu nhằm duy trì cuộc sống. Nhu
cầu tối thiểu là những bảo đảm ở mức tối thiểu, những nhu cầu thiết yếu về
ăn, mặc, ở và sinh hoạt hàng ngày gồm văn hóa, y tế, giáo dục, giao tiếp...
Nghèo tương đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo có mức sống
dưới mức tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy
trì cuộc sống.
Nghèo co nhu cầu tối thiểu: Đây là tình trạng một bộ phận dân cư có

phát triển một cách nhanh nhất, trên cơ sở đó có nhiều lựa chọn hơn, giúp họ
từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo đói.
Ở góc độ vùng nghèo, XĐGN là quá trình thúc đẩy phát triển kinh tế,
chuyển đổi trình độ sản xuất cũ, lạc hậu trong xã hội sang trình độ sản xuất
mới cao hơn.
- Chính sách và thực hiện chính sách (CSXĐGN)
Thuật ngữ “chính sách” hay “chính sách công” đã được dùng khá phổ
biến trong các lĩnh vực của đời sống kinh tế và xã hội. Hiện nay có nhiều định
nghĩa khác nhau về hính sách và chính sách công.
Theo Franc Ellis co rằng: “trên tầm vĩ mô, chính sách được xem như
đường lối hành động mà Chính phủ lự chọn đối với quản lý nhà nước về một
lĩnh vực nào đó, có thể là kinh tế, xã hội và môi trường”.

10


Theo Samuelson cho rằng: “Ngay cả khi chính phủ không đưa ra một
chính sách trong bối cảnh bất đắc dĩ nào đó để thực hiện mục đích nào đó, thì
cũng là một kiểu chính sách”.
Theo James E.Anderson, chính sách công là những hoạt động nên hay
không nên làm do Nhà nước quyết định lựa chọn”.
Dù có nhiều quan niệm và cách tiếp cận khác nhau, đôi khi có quan
niệm đồng nhất chính sách và chính sách công nhưng trên bình diện chung
nhất, có lẽ cũng sẽ là hợp lý khi cho rằng chính sách và chính sách công có
những nét chấm phá khác biệt trong tương đồng. Sự phân biệt này đôi khi phụ
thuộc vào tiếp cận và góc độ xem xét. Trên cơ sở đó, có thể tạm đưa ra quan
niệm về chính sách và chính sách công như sau:
Chính sách: là những hành vi ứng xử của chủ thể quản lý với các hiện
tượng tồn tại trong quá trình vận động phát triển để đạt được mục tiêu nhất
định cho hệ thống hoặc tổ chức

con hoặc bản thân đi kiếm sống qua ngày. Nếu đưa chuẩn mực này ra để xác
định thì rất rễ phân biệt hộ nghèo đói ở nông thôn. Theo Bộ LĐTB&XH,
trong giai đoạn hiện nay nếu thu nhập bình quân trong hộ đạt dưới 20kg
gạo/người/tháng tương ứng với 200.000 đồng/người/tháng là đói.
Những năm trước đây ở miền Bắc, đói thường đi đôi với thiếu cân đối
lương thực trên địa bàn. Như vậy, người đói là người không có lương thực dự
trữ trong nhà và không có tiền để mua lương thực để sử dụng hàng ngày một
thời gian nhất định trong một năm, mặc dù trên thị trường không thiếu lương
thực [19].
Chuẩn nghèo và tiêu chí xác định chuẩn nghèo (giai đoạn 2011-2015):
* Chuẩn hộ nghèo: Mức chuẩn xác định hộ nghèo, hộ cận nghèo chung
cho các vùng trong cả nước tại Quyết định số: 09/2011/QĐ-TTg ngày
31/01/2011 của Thủ tướng chính phủ. Quy định mức thu nhập bình quân đầu
người thấp hơn mức dưới đây là nghèo.

12


Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000
đồng/người/tháng (từ 4.800.000 đồng/năm) trở xuống.
Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000
đồng/người/tháng (từ 6.000.000 đồng/năm) trở xuống.
Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000
đến 520.000 đồng/người/tháng.
Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000
đến 650.000 đồng/người/tháng.
Tiêu chí tiếp cận nghèo đa chiều và chuẩn nghèo (giai đoạn 20162020):
* Chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều: Thực hiện chương trình quốc gia về
GNBV căn cứ Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 của Thủ
tướng chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho

1.300.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận
các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.
- Hộ cận nghèo
+ Khu vực nông thôn: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên
700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức
độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.
+ Khu vực thành thị: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên
900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức
độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.
- Hộ có mức sống trung bình
+ Khu vực nông thôn: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên
1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng.
+ Khu vực thành thị: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên
1.300.000 đồng đến 1.950.000 đồng.
1.1.2. Quan điểm, mục tiêu, vai trò và sự cần thiết của xóa đói, giảm
nghèo
1.1.2.1. Về quan điểm

14


Nhiệm vụ đẩy mạnh XĐGN đòi hỏi phải tăng cường sự lãnh đạo của
Đảng, quản lý và điều hành Nhà nước, sự vào cuộc của các đoàn thể chính trị,
sự nỗ lực của toàn dân, nhằm tăng giàu, giảm nghèo, hạn chế sự phân hóa
giàu nghèo, góp phần thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ,
công bằng, văn minh”.
Xoá đói, giảm nghèo, hạn chế phân hoá giàu nghèo là nội dung được đề
cập nhiều trong các văn kiện của Đảng.
Những thay đổi trong quan điểm và phương thức XĐGN ở Việt Nam
Trước đây, công tác XĐGN (XĐGN) thường được nhìn nhận là sự hỗ

Về phía người dân nghèo xuất hiện thói quen và tâm lý trông chờ, ỷ lại vào sự
đầu tư của Nhà nước, nhiều người nhận được tiền hỗ trợ nhưng không biết sử
dụng hiệu quả. Mối liên kết, tương hỗ giữa các cộng đồng nghèo, cận nghèo,
khá giả không cao, thiếu bền vũng, nên khi hết nguồn lực hỗ trợ cảu Nhà
nước thì nguy cơ tái nghèo lại hiện hữu.
Nhận thấy những điểm bất cập này, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
IX của Đảng (năm 2001) đã có sự thay đổi và phát triển mới trong nhận thức
đối với công tác XĐGN. Trong báo cáo chính trị Đại hội IX đã xác định:
“Khuyến khích làm giàu hợp pháp, đồng thời ra sức XĐGN, tạo điều kiện về
cơ sở hạ tầng và năng lực sản xuất để các vùng, các cộng đồng đều co thể tự
phát triển tiến tới thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển kinh tế, văn hóa,
xã hội”. Có nghĩa trước đây, công tác XĐGN được đề cập một cách khá
chung chung, thì đến Đại hội IX đã xuất hiện các từ khóa: “tạo điều kiện về
cơ sở hạ tầng”, “năng lực sản xuất”, “tự phát triển”. Điều này thể hiện sự
song hành trong XĐGN giữa việc Nhà nước tiếp tục đầu tư cơ sở vật chất hạ
tầng kỹ thuật với việc khuyến khích người dân tự nâng cao năng lực sản xuất,
chủ động thoát nghèo. Lúc này, công tác XĐGN của nước ta có nhiều khởi
sắc góp phần đưa Việt Nam từ vị trí là nước nghèo, chậm phát triển vươn lên
trở thành nước có mức thu nhập trung bình. Nhưng cũng vì thế mà khó khăn


mới lại xuất hiện. Là nước có thu nhập trung bình, nghĩa là Việt Nam sẽ
không còn được hưởng hoặc hoặc giảm dần sự hỗ trợ từ quốc tế cho quốc gia
nghèo. Điều đó cũng có nghĩa là Việt Nam sẽ phải dần tự lực cánh sinh, dựa
vào nội lực là chính trong công tác XĐGN, quan trọng nhất là phải đảm bảo
duy trì được kết quả của công tác XĐGN, tránh nguy cơ tái nghèo. Để đảm
bảo cho điều đó, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (năm
2011) đã xác định: “Thực hiện co hiệu quả hơn CSGN phù hợp với từng thời
kỳ; đa dạng hóa các nguồn lực và phương thức để đảm bảo GNBV, nhất là tại
các huyện nghèo nhất và các vùng đặc biệt kho khăn”. Nội hàm này đã trở


900.000

đồng/người/tháng

(chuẩn

nghèo



500.000

đồng/người/tháng); đồng thời quy định thêm chuẩn cận nghèo ở khu vực nông
thôn là 1.000.000 đồng/người/tháng; khu vực thành thị: 1.300.000
đồng/người/tháng.
Việc ban hành mức chuẩn nghèo mới và xác định những căn cứ để đo
lường, giám sát mức độ thiếu hụt về thu nhập và tiếp cận các dịch vụ xã hội
cơ bản của người dân chính là cơ sở để thực hiện các CSGN và an sinh xã hội
bền vững, cũng như hoạch định các chính sách KT-XH khác trong giai đoạn
2016 - 2020. Trong việc hoạch định các chính sách về XĐGN, chúng ta cũng
có những thay đổi rất căn bản. Trước đây có nhiều chương trình, dự án ở
những lĩnh vực khác nhau, nhưng có sự chồng chéo trên cùng một địa bàn,
cùng một đối tượng. Điều này dẫn đến tình trạng khó kiểm tra, kiểm soát, dàn
trải, lãng phí nguồn lực, chạy theo phong trào, thành tích… Nhưng nay, Chính
phủ đã gộp tất cả lại trong một chương trình là “Chương trình mục tiêu quốc
gia GNBV giai đoạn 2016 - 2020” Theo Quyết định 1722/QĐ-TTg ngày
02/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ, với một đầu mối quản lý chung nhất là
Bộ LĐ- TB&XH. Trong đó bao gồm 5 dự án thành phần.
Dự án 1: Chương trình 30a (Bộ LĐ-TB&XH chủ trì, phối hợp với các

hộ, cộng đồng dân cư, tổ chức và cá nhân có liên quan.
Bốn là, xác định một trong những nguyên nhân dẫn đến đói nghèo là
người dân thiếu các điều kiện tiếp cận các thông tin. Vì vậy, sẽ tập trung


giành sự quan tâm đầu tư nhiều hơn cho công tác truyền thông, nâng cao nhận
thức, trách nhiệm của toàn xã hội về CTGN nhằm khơi dậy tinh thần tự lực
vươn lên thoát nghèo và huy động nguồn lực để thực hiện mục tiêu GNBV.
1.1.2.2. Vai trò
Xét tình hình thực tế, khi nước ta bước vào thời kỳ đổi mới thì sự phân
hóa giàu nghèo diễn ra rất nhanh nếu không tích cực XĐGN và giải quyết các
vấn đề xã hội khác thì khó có thể đạt được mục tiêu xây dựng một cuộc sống
ấm no về vật chất, tốt đẹp về tinh thần, vừa phát huy được truyền thống tốt
đẹp của dân tộc, vừa tiếp thu được yếu tố lành mạnh và tiến bộ của thời đại.
Hiện nay đói nghèo là vấn đề mà tất cả các quốc gia trên thế giới đều
phải quan tâm đến trong quá trình phát triển KT-XH. Đó cũng là một trong
những mục tiêu hàng đầu trong chiến lược phát triển KT-XH của Việt Nam.
Vì vậy, XĐGN đóng một vai trò hết sức to lớn trong tất cả các lĩnh vực của
đời sống xã hội.
Xét về góc độ kinh tế: Giữ gìn sự ổn định kinh tế, thúc đẩy phát triển
kinh tế nhanh và bền vững, điều chỉnh nguồn lực cho các vùng nghèo, vùng
chậm phát triển, tạo nên sự phát triển hài hòa giảm bớt sự chênh lệch giữa các
vùng. Tạo nên thu nhập chính đáng cho người nghèo không chỉ ổn định cuộc
sống lâu dài mà còn phát triển kinh tế ở nông thôn, nền tảng cơ sở cho sự tăng
trưởng và phát triển một nền kinh tế bền vững, góp phần vào sự đổi mới đất
nước. Nghèo đói đi liền với lạc hậu, do đó XĐGN là tiền đề cho sự phát triển
kinh tế vì khi đói nghèo sẽ giảm đi những áp lực từ bên trong tạo điều kiện
thuận lợi cho đầu tư bên ngoài, làm năng lực kinh tế phát triển vững chắc.
Ngược lại sự phát triển kinh tế là nhân tố đảm bảo cho sựu thành công trong
công tác XĐGN

chính sách như: trách nhiệm, quyền hạn của các tổ chức, cá nhân được giao
thực thi chính sách, thủ tục giải quyết các mối quan hệ trong thực thi chính
sách, cưỡng chế thực hiện chính sách trong những trường hợp cần thiết.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status