VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HỒ THỊ HOÀNG NGA
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN
RỪNG TỪ THỰC TIỄN HUYỆN NÔNG SƠN, TỈNH
QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HỒ THỊ HOÀNG NGA
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN
RỪNG TỪ THỰC TIỄN HUYỆN NÔNG SƠN, TỈNH
QUẢNG NAM
Chuyên ngành : Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số
: 8 38 01 02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN THỊ VIỆT HƯƠNG
1.4. Kinh nghiệm quản lý nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng ở một số quốc gia
và một số địa phương tại Việt Nam....................................................................... 200
1.5. Những điểm mới trong quản lý nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng của Luật
Lâm nghiệp năm 2017...................................................................................................................... 25
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO VỆ VÀ PHÁT
TRIỂN RỪNG TẠI HUYỆN NÔNG SƠN, TỈNH QUẢNG NAM....................31
2.1. Hiện trạng tài nguyên rừng và tình hình xâm hại rừng tại huyện Nông Sơn, tỉnh
Quảng Nam............................................................................................................. 31
2.2. Các yếu tố tác động đến quản lý nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng trên địa
bàn huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam................................................................... 34
2.3. Thực tiễn quản lý nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng tại huyện Nông Sơn,
tỉnh Quảng Nam...................................................................................................... 37
2.4. Đánh giá chung thực trạng quản lý nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng tại
huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam......................................................................... 48
CHƯƠNG 3. QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ
NƯỚC VỀ BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN RỪNG TỪ THỰC TIỄN HUYỆN
NÔNG SƠN, TỈNH QUẢNG NAM..................................................................... 60
3.1. Quan điểm tăng cường quản lý nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng từ thực
tiễn huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam................................................................... 60
3.2. Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng từ thực
tiễn huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam................................................................... 62
KẾT LUẬN............................................................................................................ 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
QLNN
Quản lý nhà nước
Ủy ban nhân dân
HĐND
Hội đồng nhân dân
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
bảng
Tên bảng
Trang
2.1
Diện tích rừng và độ che phủ rừng giai đoạn 2014 - 2018
32
2.2
Diện tích rừng theo chức năng tính từ năm 2014 đến 2018
33
2.3
Tên hình
Trang
1.1
Cấu trúc quản lý rừng tại cấp xã, huyện Phú Lộc – tỉnh
Thừa Thiên Huế
23
1.2
Cấu trúc quản lý rừng của nhóm hộ cấp thôn tại huyện
Phú Lộc – tỉnh Thừa Thiên Huế
23
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Rừng là nguồn tài nguyên quý giá của đất nước, là một bộ phận quan trọng của
môi trường sinh thái, có giá trị to lớn đối với đời sống và sản xuất của xã hội. Bởi
vậy, bảo vệ rừng và phát triển rừng luôn trở thành một một yêu cầu, nhiệm vụ
thường xuyên và cấp bách đối với tất cả các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt
Nam. Đó là một thách thức vô cùng to lớn đòi hỏi mỗi cá nhân, tổ chức thuộc các
cấp trong một quốc gia và trên thế giới nhận thức được vai trò và nhiệm vụ của
mình trong công tác phục hồi và phát triển rừng.
Rừng là một quần xã sinh vật có diện tích đủ lớn mà thành phần chủ yếu đóng
vai trò chủ chốt là cây rừng. Rừng là hơi thở của sự sống, là một nguồn tài nguyên
vậy, tình trạng vi phạm các quy định của nhà nước về BVR như: khai thác, vận
chuyển, buôn bán trái phép gỗ các sản phẩm từ rừng trên phạm vi cả nước nói
chung và huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam nói riêng vẫn còn tồn tại và có chiều
hướng gia tăng.
Tình trạng phá rừng là một trong những nguyên nhân gây ra nạn ô nhiễm môi
sinh, hiện tượng trái đất ấm dần lên, lụt lội,... cũng như hủy hoại những lâm sản
dưới tán rừng đã gây nên sự mất cân bằng sinh thái nghiêm trọng, dẫn đến sự biến
đổi khí hậu thất thường, bão lụt, lũ quét, lở đất và phát sinh nhiều loại dịch bệnh
làm ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của nhân dân.
Thống kê mới nhất hiện nay thì 9 tháng đầu năm 2017 có 155,68 ha rừng bị
chặt phá và 5.364,85ha rừng bị cháy. Diện tích rừng tự nhiên trên khắp cả nước bị
suy giảm nghiêm trọng. Trong đó, độ che phủ của rừng chỉ nằm ở con số chưa đầy
40%. Diện tích rừng nguyên sinh chỉ còn khoảng 10%. Việt Nam liên tục phải gánh
chịu các trận lũ lụt tàn bạo. Hủy hoại tài sản, nông sản và cả tính mạng con người.
Đặc biệt, gần đây là các trận lũ xảy ra trên các tỉnh Tây Bắc và miền Trung. Các cơ
quan chức năng xác định, nguyên nhân lớn là do rừng đầu nguồn bị chặt phá nặng
nề làm cho các trận mưa lũ xảy ra thường xuyên và nghiêm trọng hơn.
Nhờ vào những đổi mới trong quá trình QLNN những năm qua, hoạt động
QLBVR đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng như: Nhận thức của người dân về
BVR được nâng lên, quan điểm đổi mới xã hội hóa về BVR được triển khai thực
hiện bước đầu có hiệu quả; hệ thống pháp luật trong lĩnh vực QLBVR ngày càng
được hoàn thiện phù hợp với thực tiễn, chủ trương đổi mới quản lý hiện nay và
thông lệ Quốc tế; chính quyền các cấp đã quan tâm nhiều hơn đến công tác
QLBVR, tình trạng xâm hại TNR được ngăn chặn, đẩy lùi.
2
Xuất phát từ những phân tích trên cho thấy việc quản lý bảo vệ, khai thác, sử
dụng hợp lý nguồn tài nguyên rừng sẽ góp phần to lớn vào phát triển KT-XH, bảo
3
Thực tế cho thấy, nếu nắm được vấn đề quản lý nhà nước về rừng một cách
toàn diện; đánh giá về chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan chuyên trách quản lý
về rừng một cách đầy đủ thì sẽ giúp cho hiệu quả quản lý được nâng cao, mục tiêu
về quản lý rừng mới được đảm bảo theo hướng kinh tế và phát triển bền vững.
Như vậy, đề tài QLNN về BVPTR từ thực tiễn huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng
Nam sẽ có được khoảng trống nghiên cứu cần thiết và có tính thực tiễn đối với địa
bàn có rừng. Kết quả nghiên cứu đề tài luận văn có thể có giá trị tham khảo và ứng
dụng trong công tác QLNN về BV&PTR tại một số địa phương khác, cũng như
trong hoạt động nghiên cứu và giảng dạy trong lĩnh vực khoa học pháp lý.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn có mục đích xây dựng luận cứ khoa học cho các giải pháp nâng cao
hiệu quả QLNN về BV&PTR tại huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam nói riêng, tại
các địa phương có điều kiện tương đồng với huyện Nông Sơn nói chung.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm sáng tỏ những khía cạnh lý luận và pháp luật cơ bản của QLNN về
BV&PTR.
- Đánh giá thực trạng QLNN về BV&PTR tại huyện Nông Sơn, tính Quảng
Nam, đưa ra nhận định về các kết quả, những hạn chế và nguyên nhân của kết quả,
hạn chế của QLNN về BV&PTR tại huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả QLNN về BV&PTR tại
huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam nói riêng, tại một số địa phương có điều kiện
tương đồng với huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam nói chung.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Các quan điểm khoa học liên quan đến QLNN về BV&PTR
- Các quy định pháp luật liên quan đến QLNN về BV&PTR ở Việt Nam.
BV&PTR. Tìm ra những nguyên nhân đạt được và những hạn chế trong công tác
BV&PTR; đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện tốt công tác BV&PTR
trong gia đoạn hiện nay.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Trên cơ sở phân tích, đánh giá về những khía cạnh lý luận, thực tiễn củaQLNN
về BVPTR giúp lãnh đạo địa phương huyện Nông Sơn có thêm các giải pháp mới,
trên cơ sở đó xây dựng những phương án, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng tại địa
phương hiệu quả hơn.
5
7. Cơ cấu của luận văn
Luận văn bao gồm Mở đầu, phần Kết luận, Mục lục, Danh mục tài liệu tham
khảo và gồm có 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật của quản lý nhà nước về bảo vệ
và phát triển rừng
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về bảo vệ rừng và phát triển tại
huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam
Chương 3:Quan điểm và giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về bảo vệ và
phát triển rừng từ thực tiễn huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam
6
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN RỪNG
1.1. Khái niệm, đặc điểm, nội dung và vai trò của quản lý nhà nước về bảo
vệ và phát triển rừng
ngay cây mới, vạt rừng mới vào gốc cây, bãi cây vừa bị khai thác.
+ Rừng đặc dụng: là rừng có giá trị đặc biệt. Căn cứ vào những giá trị đặc
biệt của rừng, RĐD có thể chia thành: Rừng bảo tồn gen thực vật; Rừng bảo tồn
sinh thái; Rừng bảo tồn di tích lịch sử, văn hóa dân tộc; Rừng du lịch.
+ Rừng phòng hộ: loại rừng này có giá trị bảo vệ “một cái gì đó”, mà suy cho
cùng là, bảo vệ lợi ích lâu dài, toàn diện của con người.
* Phân theo trữ lượng
Trữ lượng rừng là số m3 gỗ có được trên một ha rừng tự
nhiên. Theo tiêu chí này, rừng được phân thành bốn hạng:
+ Rừng giàu
+ Rừng trung bình
+ Rừng nghèo
+ Rừng tàng kiệt
c. Vai trò của rừng đối với con người
* Vai trò kinh tế
- Trong thời nguyên thủy và ở các vùng sâu, vùng xa của thời đại ngày nay,
rừng là nguồn cung cấp nhiều loại thực phẩm sơ khai cho con người, điển hình và
phổ biến là rau, củ, quả. Bên cạnh đó, rừng còn là nguồn cung cấp protit tự nhiên
cho con người.
- Tiến lên một bước, rừng là địa bàn đầu tiên để con người chuyển từ cách
kiếm sống chủ yếu là hái lượm, săn bắt sang thuần dưỡng động vật và cây trồng, cây
con tự nhiên thành gia súc, gia cầm, cây canh tác. Rừng trở thành công cụ, đối
tượng để con người tác động vào, để phục vụ cho hoạt động sản xuất của con người.
- Ngày nay, các giá trị trên về kinh tế của rừng vẫn còn nguyên giá trị, nhưng
với trình độ KH&CN cao, giá trị kinh tế của rừng đã thể hiện dười hình thái khác.
Hình thái đó là nguồn nguyên liệu. Từ nguồn nguyên liệu, có bản chất là Xeluloz,
con người bằng công nghệ hóa học, có thể chế tạo nên đủ mọi loại vật dụng của
mình, điển hình là đồ gỗ và hàng dệt may, hoặc các sản phẩm của giấy. Ngày nay,
nhà nước của các quốc gia nhỏ yếu, khi khởi nghiệp, đều lấy các vùng “Thâm sơn,
cùng cốc” làm địa bàn đóng bản doanh của mình: Bà Trưng đóng đô ở Mê Linh, các
Vua Hùng đóng đô ở Nghĩa Lĩnh, các Vua Đinh và Tiền Lê đóng đô ở Hoa Lư, khi
khởi nghiệp nhà Hậu Lê lấy Lam Sơn làm căn cứ địa khởi nghĩa, thắng giặc Minh
rồi còn còn xây dựng Lam Kinh,...Ngay cả sau này, trong thời đại Hồ Chí Minh,
chúng ta cũng có “Thủ đô gió ngàn” ở chiến khu Việt Bắc, có “Chiến khu Đ”, có
rừng Tây Ninh, có đường Trường Sơn chạy dọc trong các cánh Rừng...làm địa bàn
của Chính phủ lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam. Nhờ đó mà các cuộc kháng
9
chiến của dân tộc Việt Nam đều được bảo vệ từ Rừng và dân tộc Việt Nam được tồn
tại cho đến ngày nay là một phần lớn nhờ Rừng.
* Vai trò văn hóa
Nếu văn hóa là dấu tích của con người trong ứng xử với đất, với trời và với
nhau theo hướng chân-thiện-mỹ thì Rừng chính là một “Trường văn hóa” đó và là
“Trường” đầu tiên, nơi con người thực hiện các ứng xử với đất, với trời và với nhau
theo hướng chân thiện mỹ. Bởi vì, Rừng là môi trường sống đầu tiên của tuyệt đại
bộ phận các chủng người trên trái đất. Và tính chân thiện mỹ của con người trong
ứng xử với đất và với trời chính là trong ứng xử với rừng. Đồng thời, chính trong
quá trình ứng xử với rừng để tìm nguồn sống, con người đã biết phải ứng xử với
nhau như thế nào cho đúng mực nhất, có lợi lâu bền nhất. Tất cả những cái đó in
vào lịch sử cộng đồng, làm nên cái gọi là “Văn hóa cộng đồng”.
* Vai trò tinh thần
Con người có mối lo đầu tiên là làm sao có đủ miếng cơm, manh áo nhưng
cơm, áo lại không là tất cả. Nhu cầu về các giá trị tinh thần trong đời sống của con
người cũng là nhu cầu không thể thiếu, nó được đúc kết trong cả quá trình hình
thành và tồn tại, phát triển của mỗi dân tộc.
Sự vui chơi, giải trí của con người vô cùng đa dạng. Một trong những hướng
2004 thì:
Phát triển rừng là việc trồng mới rừng, trồng lại rừng sau khai thác, khoanh
nuôi xúc tiến tái sinh phục hồi rừng, cải tạo rừng nghèo và việc áp dụng các biện
pháp kỹ thuật lâm sinh khác để tăng diện tích rừng, nâng cao giá trị đa dạng sinh
học, khả năng cung cấp lâm sản, khả năng phòng hộ và các giá trị khác của rừng.
1.1.1.3. Quản lý nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng
QLNN là một dạng của quản lý xã hội, đây là một quá trình phức tạp, đa dạng;
trong nghiên cứu lý luận cũng như thực tiễn, QLNN được hiểu theo hai cấp độ:
QLNN theo nghĩa rộng là đề cập đến chức năng của cả bộ máy nhà nước (từ hoạt
động lập hiến, lập pháp, hoạt động hành pháp đến hoạt động tư pháp); còn tiếp cận
theo nghĩa hẹp chỉ là hoạt động chấp hành của cơ quan QLNN; hoạt động này chủ
yếu giao cho hệ thống cơ quan hành chính thực hiện đó là các chủ thể quản lý.
QLNN trong lĩnh vực BV&PTR là một bộ phận QLNN nên nó có những chủ
thể, đối tượng quản lý và đặc trưng riêng.
Như vậy, có thể đưa ra khái niệm như sau: QLNN trong lĩnh vực BVPTR là
quá trình các chủ thể QLNN xây dựng chính sách, pháp luật và tổ chức các hoạt
động quản lý theo pháp luật nhằm đạt được yêu cầu, mục đích BV&PTR mà nhà
nước đã đặt ra.
11
1.1.2. Đặc điểm của quản lý nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng
Đối tượng điều chỉnh của lĩnh vực pháp luật về BV&PTR gồm các nhóm quan
hê ̣xã hội liên quan đến hoạt động quản lý tài nguyên rừng của các chủ thể trong xã
hội.
Nhà nước - với tư cách là chủ thể đặc biệt thực hiện việc quản lý tài nguyên
rừng bằng việc ban hành các quy điṇh pháp luật để điều chỉnh các quan hê x ̣ ã hội liên
quan đến quản lý, bảo vệ, sử dụng và phát triển nguồn tài nguyên rừng; tổ chức thực
hiện các quy định pháp luâṭ và bảo đảm cho các quy định pháp luâṭ đó đươc ̣ thực thi
là cơ sở để các cơ quan quản lý tiến hành kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của
các cơ quan nhà nước liên quan, các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân khai thác, sử
dụng rừng.
1.1.2.2. Quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng trên phạm vi cả nước
và ở từng địa phương
Quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng phải phù hợp với chiến lược,
quy hoạch tổng thể, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh; chiến
lược phát triển lâm nghiệp, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cả nước và từng
địa phương. Quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng của các cấp phải bảo
đảm tính thống nhất, đồng bộ.
Việc lập quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng phải đồng bộ với việc
lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Trong trường hợp phải chuyển đổi đất có rừng
tự nhiên sang mục đích sử dụng khác thì phải có kế hoạch trồng rừng mới để bảo
đảm sự phát triển rừng bền vững ở từng địa phương và trong phạm vi cả nước.
Quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng phải bảo đảm khai thác, sử
dụng tiết kiệm, bền vững, có hiệu quả tài nguyên rừng; bảo vệ hệ sinh thái rừng, bảo
vệ di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh; đồng thời bảo đảm xây dựng cơ sở
hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực nhằm nâng cao hiệu quả và tính khả thi, chất
lượng của quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng.
Việc lập quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng phải bảo đảm dân chủ,
công khai.
Về quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng phải phù hợp với quy hoạch bảo vệ và
phát triển rừng đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, quyết định.
Quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng phải được lập và được cơ quan
nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, quyết định trong năm cuối kỳ quy hoạch, kế
hoạch trước đó.
Công tác quy hoạch rừng đã được khẳng định trong Luật BV&PTR năm 2004,
theo đó nhà nước thống nhất quản lý rừng theo quy hoạch.
13
1.1.2.5. Quản lý, đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực quản lý bảo
vệ và phát triển rừng
Nhà nước bảo đảm ngân sách cho hoạt động quản lý của các ban quản lý rừng;
14
trồng, chăm sóc, bảo vệ và khoanh nuôi tái sinh rừng; kiểm kê, theo dõi, giám sát
diễn biến tài nguyên rừng và đa dạng sinh học; điều tra, kiểm kê rừng và công bố
hiện trạng rừng; quản lý thông tin về lâm nghiệp và cơ sở dữ liệu về rừng; sưu tập
tiêu bản thực vật rừng, động vật rừng; nghiên cứu khoa học, đào tạo, phát triển
nguồn nhân lực, khuyến lâm; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về bảo vệ
và phát triển rừng; kiểm tra, ngăn chặn, đấu tranh, phòng ngừa và xử lý các vi phạm
pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng; xây dựng và triển khai phương án quản lý
rừng bền vững; giao rừng, cắm mốc ranh giới rừng. Chuyển giao công nghệ cao,
công nghệ tiên tiến, công nghệ mới, khuyến lâm và cấp chứng chỉ quản lý rừng bền
vững; phát triển kết cấu hạ tầng gắn với đầu tư phát triển, kinh doanh rừng sản xuất
theo chuỗi giá trị; hợp tác, liên kết bảo vệ và phát triển rừng của đồng bào dân tộc
thiểu số, cộng đồng dân cư gắn với chương trình phát triển kinh tế - xã hội, xây
dựng nông thôn mới; đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực cho chủ rừng;
xúc tiến đầu tư, phát triển thị trường, thương mại trong hoạt động lâm nghiệp; mở
rộng, tăng cường hợp tác quốc tế về lâm nghiệp.
1.1.3. Vai trò của quản lý nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng
1.1.3.1. Sự cần thiết phải tăng cường vai trò quản lý của nhà nước về bảo vệ
và phát triển rừng
Quyền sở hữu và thống nhất quản lý đối với đất đai, tài nguyên nước, tài
nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác
và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do
Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Việc thống nhất quản lý tài
đứng ngoài cuộc trong sự nghiệp bảo vệ rừng của Nhà nước.
Hệ thống cơ quan quản lý BV&PTR nằm trong hệ thống cơ quan QLNN nói
chung và được tổ chức thống nhất từ trung ương tới địa phương, cơ cấu tổ chức như
sau:
1.2.1.1. Cấp Trung ương
Chính phủ là cơ quan đứng đầu của hệ thống cơ quan hành pháp, thống nhất
quản lý thực hiện nhiệm vụ trong đó có lĩnh vực BV&PTR. Trong công tácquản lý
nhà nước về BV&PTR ở Trung ương có các cơ quan như: Bộ NN&PTNT, Tổng cục
Lâm nghiệp, Cục Kiểm lâm.
1.2.1.2. Cấp Tỉnh
UBND tỉnh là cơ quan giúp việc Chính phủ về QLNN trong lĩnh vực
BV&PTR trên địa bàn quản lý. Dưới sự điều hành của UBND tỉnh gồm có các cơ
quan quản lý nhà nước về BV&PTR như: Sở NN&PTNT, Chi cục Kiểm lâm, Chi
cục Lâm nghiệp.
16
1.2.1.3. Cấp huyện
UBND huyện là cơ quan chịu trách nhiệm trước UBND tỉnh về mọi hoạt động
BV&PTR trên địa bàn, đứng đầu là Chủ tịch UBND huyện. Cơ quan giúp UBND
cấp huyện thực hiện quản lý nhà nước chuyên ngành về lâm nghiệp là phòng nông
nghiệp và phát triển nông thôn và Hạt kiểm lâm. Phòng NN&PTNT có chức năng
tham mưu, giúp UBND huyện thực hiện chức năng QLNN ở địa phương về lâm
nghiệp. Hạt Kiểm lâm huyện trực thuộc Chi cục Kiểm lâm là cơ quan tham mưu
giúp Chủ tịch UBND huyện thực hiên chức năng BV&PTR, tham mưu cho Chi cục
trưởng Chi cục Kiểm lâm hoặc Chủ tịch UBND huyện xử lý các hành vi vi phạm
Luật BV&PTR ngoài thẩm quyền xử lý của Hạt Kiểm lâm huyện theo quy định của
pháp luật. Hạt Kiểm lâm huyện còn có 2 cơ quan trược thuộc là Trạm Kiểm lâm và
Kiểm lâm địa bàn, chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Hạt trưởng và Chi cục Kiểm lâm, có
thời kỳ.
1.2.3. Công cụ quản lý nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng
1.2.3.1. Công cụ pháp luật
Luật BV&PTR năm 2004, Luật xử lý vi phạm hành chính, Nghị định
157/2013/NĐ-CP ngày 11/11/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm
hành chính về quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản. Đối
với hoạt động QLNN trong lĩnh vực BV&PTR, đây là công cụ quản lý rất quan
trọng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan nhà nước, của tổ chức, cá nhân;
là cơ sở pháp lý quy định cơ cấu tổ chức, cơ cấu hoạt động của các cơ quan QLNN
cho xã hội hóa công tác BV&PTR, cho việc thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm luật
BV&PTR, qua đó đảm bảo pháp chế và kỷ luật trong hoạt động BV&PTR.
1.2.4.2. Công cụ quy hoạch, kế hoạch
Quy hoạch, kế hoạch BV&PTR là một công cụ quan trọng của hoạt động
QLNN trong lĩnh vực BV&PTR. Quy hoạch, kế hoạch QLBVR đảm bảo cho sự
lãnh đạo tập trung quản lý thống nhất của nhà nước trong lĩnh vực BV&PTR, là căn
cứ cho việc sử dụng và phát triển các loại rừng.
1.2.4.3. Công cụ tài chính
Là tổng hợp các mối quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình tạo lập, phân
phối và sử dụng các nguồn lực tài chính của các chủ thể KTXH. Công cụ tài chính
được sử dụng đối với hoạt động QLNN trong lĩnh vực BV&PTR như thuế tài
nguyên và phí dịch vụ môi trường rừng.
18
1.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về bảo vệ và phát
triển rừng
1.3.1. Nền kinh tế
Thực tiễn cho thấy, diện tích rừng bị tàn phá, thu hẹp nhanh chóng bởi bàn tay
của con người. Giai đoạn 2010 - 2014 đã có trên 550.000 hécta rừng bị tàn phá do