Tổ chức cơ quan thi hành án dân sự theo pháp luật việt nam từ thực tiễn tỉnh quảng nam - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HUỲNH NGỌC TÂN

TỔ CHỨC CƠ QUAN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN
TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HUỲNH NGỌC TÂN

TỔ CHỨC CƠ QUAN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN
TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành : Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số

: 8 38 01 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS. TS. BÙI THỊ ĐÀO

CHƯƠNG 2. THỰC TIỄN TỔ CHỨC CƠ QUAN THI HÀNH ÁN DÂN
SỰ TỈNH QUẢNG NAM..............................................................................24
2.1. Tổ chức cơ quan thi hành án dân sự theo pháp luật hiện hành................24
2.2. Tổ chức cơ quan thi hành án dân sự tỉnh Quảng Nam hiện nay..............28
CHƯƠNG 3. QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN TỔ CHỨC
CƠ QUAN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG
NAM...............................................................................................................59
3.1. Quan điểm hoàn thiện tổ chức cơ quan thi hành án dân sự.....................59
3.2. Giải pháp hoàn thiện tổ chức cơ quan thi hành án dân sự.......................59
KẾT LUẬN....................................................................................................76
TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CC

: Cao cấp

CV

: Chuyên viên

CVC

: Chuyên viên chính

SC

: Sơ cấp

Sau hai mươi sáu năm kể từ năm 1993 thì nhiệm vụ quản lý và tổ chức thi
hành án dân sự được chuyển từ Tòa án nhân dân sang Chính phủ, cơ quan thi
hành án dân sự đã được hình thành và thực thi nhiệm vụ được giao nhằm đáp
ứng các yêu cầu của Nhà nước, xã hội trong mỗi giai đoạn cụ thể. Kể từ khi được
thành lập đến nay, công tác thi hành án dân sự đã đạt được những kết quả đáng
ghi nhận; hiệu lực pháp luật của bản án, quyết định của Toà án được bảo đảm
thực hiện, tạo được lòng tin đối với nhân dân, giữ vững an ninh chính trị, trật tự
xã hội, góp phần vào sự phát triển kinh tế, xã hội. Trong đó công tác tổ chức cán
bộ của cơ quan thi hành án dân sự luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm kiện
toàn cả về số lượng lẫn chất lượng; các vụ việc phức tạp, tồn đọng nhiều năm
chưa giải quyết được đã được tổ chức thi hành. Một số vụ án lớn có tính chất
phức tạp, ảnh hưởng lớn về an ninh chính trị, trật tự xã hội cũng đã được Đảng
và Nhà nước ta quan tâm chỉ đạo giải quyết dứt điểm. Kết quả đạt được nêu trên
đã phản ánh được sự cố gắng và hết sức nỗ lực của toàn thể đội ngũ công chức
làm công tác thi hành án dân sự và của cả hệ thống chính trị, sự chỉ đạo, quan
tâm sâu sát của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, của ngành cấp trên và các cấp ủy
Đảng, chính quyền địa phương.

1


Bên cạnh đó, thực trạng quản lý nhà nước về thi hành án dân sự đã bộc lộ
những hạn chế, yếu kém, bất cập về mô hình tổ chức bộ máy, tổ chức cán bộ, cơ
chế điều hành, công tác quản lý thi hành án thiếu tập trung thống nhất, cơ sở vật
chất của các cơ quan thi hành án dân sự vẫn chưa thực sự đầy đủ, hiện đại so với
mặt bằng chung của các cơ quan công quyền ở địa phương và so với yêu cầu
chung của nhiệm vụ đặt ra trong bối cảnh chúng ta đang từng bước hiện đại hóa
nền hành chính quốc gia; hệ thống văn bản pháp luật còn có sự chưa thống nhất
về công tác tổ chức cán bộ. Đây là một trong những yếu tố gây ảnh hưởng trực
tiếp đến hiệu quả hoạt động trong công tác thi hành án dân sự ở những năm qua

- Cù Hoàng Hanh (2008), Đổi mới tổ chức và hoạt động của cơ quan

thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Thừa Thiên Huế, Luận văn Thạc sĩ Luật
học.
- Vũ Thị Như Trang (2013), Chất lượng cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý
tỉnh Tuyên Quang, Luận văn Thạc sĩ Luật học.
- PGS.TS Nguyễn Văn Luyện (2010), Tổng Cục trưởng Tổng cục Thi
hành án dân sự - Bộ Tư pháp, Thực trạng đội ngũ Chấp hành viên và xây dựng
khung chương trình đào tạo Chấp hành viên theo yêu cầu cải cách tư pháp, Đề tài
khoa học cấp Bộ.
- TS. Nguyễn Thanh Thủy và Ths. Nguyễn Văn Nghĩa, bài viết Tổ chức
hoạt động thi hành án dân sự trước yêu cầu của tiến trình cải cách tư pháp.
Ngoài các công trình nghiên cứu nêu trên, còn có Giáo trình Luật Tố tụng
dân sự, Luật Hành chính của Trường Đại học Luật Hà Nội và Trường Đại học
Luật thành phố Hồ Chí Minh, Giáo trình môn học Khoa học tổ chức của Viện
Xây dựng Đảng - Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, các công trình
nghiên cứu, các bài viết được công bố trên sách, báo, tạp chí; một số bài viết liên
quan đến thi hành án dân sự được đăng trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật, Tạp
chí Dân chủ và pháp luật.... Các công trình nghiên cứu nêu trên có nội dung
nghiên cứu về thi hành án dân sự ở các góc độ, khía cạnh khác nhau, chưa có
công trình nghiên cứu toàn diện về tổ chức cơ quan thi hành án dân sự theo pháp
luật Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam.

3


3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận, thực tiễn về tổ chức cơ quan thi hành án dân sự theo
pháp luật Việt Nam, luận văn nêu ra những giải pháp mang tính hệ thống về tổ

Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam về
xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân và vì
dân; chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, trong đó có lĩnh vực tổ chức cơ
quan thi hành án dân sự.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu: hệ thống, tổng hợp, phân
tích, thống kê, lịch sử, lôgíc, cụ thể, kết hợp với các phương pháp khác như khảo
sát thực tiễn, so sánh…
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Thông qua kết quả nghiên cứu, tôi mong muốn đóng góp một phần nhỏ
của mình vào sự phát triển chung của kho tàng lý luận về khoa học thi hành án
dân sự và tổng kết nghiên cứu thực tiễn về tổ chức cơ quan thi hành án dân sự.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo
cho công tác nghiên cứu, giảng dạy liên quan đến lĩnh vực thi hành án dân sự.
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần nâng cao hiệu quả tổ chức cơ quan
thi hành án dân sự nói chung, cơ quan thi hành án dân sự tỉnh Quảng Nam nói
riêng và góp một phần vào công cuộc cải cách nền Tư pháp ở nước ta trong giai
đoạn hiện nay.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục, nội dung của luận văn gồm có 03
chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp lý về tổ chức cơ quan thi hành
án dân sự theo pháp luật Việt Nam.
Chương 2: Thực tiễn tổ chức cơ quan thi hành án dân sự tỉnh Quảng Nam.
Chương 3: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện tổ chức cơ quan thi hành án
dân sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam.


bản án, quyết định hình sự; phần tài sản trong bản án, quyết định hành chính của

6


Tòa án, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của bên phải
thi hành án của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh, quyết định của Trọng tài
thương mại. Ngoài ra, các quy định của pháp luật về thi hành án dân sự còn quy
định các bản án, quyết định được cơ quan thi hành án dân sự đưa ra thi hành, bao
gồm các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và một số bản án, quyết định
của Tòa án tuy chưa có hiệu lực pháp luật (có thể vẫn bị kháng cáo hoặc kháng
nghị) nhưng vẫn được đưa ra thi hành để bảo vệ quyền, lợi ích cấp thiết của
người được thi hành án đó là bản án, quyết định về cấp dưỡng, trả công lao động,
trả lương, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp mất sức lao động hoặc
bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tổn thất về tinh thần, nhận người lao
động trở lại làm việc và quyết định khẩn cấp tạm thời của Tòa án.
Có thể nói thi hành án dân sự là một giai đoạn độc lập, là giai đoạn kết
thúc của quá trình bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, bao gồm tổng
hợp các hành vi pháp lý nhằm thi hành các bản án, quyết định của Tòa án, các
quyết định của cơ quan khác do Nhà nước quy định, có những nét đặc trưng
riêng xuất phát từ việc các bản án, quyết định được đưa ra thi hành tuy rất đa
dạng nhưng chủ yếu là những quyết định mang tính tài sản đặc trưng của quan hệ
dân sự, xuất phát từ nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự trong
quá trình giải quyết các tranh chấp dân sự.
Từ sự phân tích nêu trên có thể đưa ra khái niệm về thi hành án dân sự là
“hoạt động mang tính hành chính- tư pháp do cơ quan thi hành án, Chấp hành
viên tiến hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định để đưa bản án, quyết
định dân sự của Tòa án hoặc các quyết định khác theo quy định của pháp luật,
được thực hiện trên thực tế, nhằm bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích
hợp pháp của các công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa”.

Khoa học tổ chức đang phát triển mạnh mẽ và đã có những cống hiến to
lớn trong xã hội hiện đại. Công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện
đại hoá ở nước ta đang đòi hỏi phải quan tâm nghiên cứu, phát triển khoa học tổ
chức. Việc nghiên cứu nắm vững những vấn đề cơ bản về đối tượng, phương
pháp và sự hình thành, phát triển của khoa học tổ chức là rất quan trọng để có cơ
sở cho việc nghiên cứu phát triển, ứng dụng những thành tựu của khoa học tổ

8


chức ở nước ta.
Qua nghiên cứu có thể thấy rằng có nhiều định nghĩa khác nhau về “tổ
chức”, một định nghĩa có ý nghĩa triết học: “Tổ chức, nói rộng, là cơ cấu tồn tại
của sự vật. Sự vật không thể tồn tại mà không có một hình thức liên kết nhất
định các yếu tố thuộc nội dung. Tổ chức vì vậy là thuộc tính của bản thân các sự
vật”. Tổ chức là thuộc tính của sự vật, nói cách khác sự vật luôn luôn tồn tại dưới
dạng tổ chức nhất định.
Luật học gọi tổ chức là pháp nhân để phân biệt với thể nhân (con người) là
các chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự. Theo quy định tại Điều 74 Bộ Luật dân
sự năm 2015 thì một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ những điều
kiện như: được thành lập hợp pháp; có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; có tài sản độc lập
với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; nhân danh
mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập. Luật học nhấn mạnh đến
các điều kiện thành lập tổ chức, các yêu cầu đảm bảo hoạt động của tổ chức.
Có thể nói, từ khái niệm “thi hành án dân sự” và khái niệm “tổ chức”,
chúng ta có thể hiểu khái niệm về tổ chức cơ quan thi hành án dân sự như sau:
Tổ chức cơ quan thi hành án dân sự là tập hợp các cơ quan được tổ chức thống
nhất từ trung ương đến địa phương với cơ cấu bộ máy và các công chức phù hợp
để thực hiện nhiệm vụ thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật.
1.1.2. Đặc điểm tổ chức cơ quan thi hành án dân sự

từ Toà án nhân dân sang cơ quan thuộc Chính phủ kể từ ngày 01 tháng 7 năm
1993, Đảng ta đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách về cải cách nền tư pháp nói
chung và trong lĩnh vực thi hành án dân sự nói riêng như: Nghị quyết Hội nghị
lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII (1995); Thông báo số
136-TB/TW ngày 25 tháng 01 năm 1996 của Bộ Chính trị về Đề án tiếp tục đổi
mới tổ chức và hoạt động của cơ quan tư pháp; Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba
Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII (1997). Đây là những chủ trương,
những định hướng quan trọng ban đầu của Đảng ta về đổi mới tổ chức của các cơ
quan tư pháp, trong đó có việc hoàn thiện thể chế, kiện toàn, nâng cao chất lượng
hoạt động của các cơ quan thi hành án dân sự.
Trên cơ sở Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 1993, hệ thống cơ quan

10


quản lý thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự được hình thành từ Trung
ương đến các địa phương trong phạm vi toàn quốc, tách khỏi Toà án nhân dân, tổ
chức hoạt động được độc lập, tạo điều kiện thuận lợi để Toà án nhân dân thực
hiện chức năng xét xử. Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 1993 ra đời là kết quả
của sự tư duy đổi mới về hoàn thiện thể chế pháp lý, kiện toàn bộ máy tổ chức
các cơ quan thi hành án dân sự đã được đề ra trong các văn kiện Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ VI, VII của Đảng. Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 1993 đã
tạo ra bước ngoặt về tổ chức của các cơ quan thi hành án dân sự ở nước ta, đưa
công tác thi hành án dân sự sang một giai đoạn phát triển mới nhằm đáp ứng với
yêu cầu nhiệm vụ chung.
Có thể nói hệ thống tổ chức cơ quan thi hành án dân sự có vai trò hết sức
quan trọng, được thể hiện cụ thể như sau:
Thứ nhất, hệ thống tổ chức thi hành án dân sự không ngừng được nâng
cao, phát triển đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt
động của tổ chức và thực hiện quản lý chuyên ngành về thi hành án dân sự.

ngoài ra phải báo cáo công tác tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự với cơ quan
quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp. Ở cấp huyện cũng tương tự, cơ
quan thi hành án dân sự có trách nhiệm giúp Uỷ ban nhân dân cùng cấp thực
hiện công tác quản lý nhà nước về thi hành án dân sự, báo cáo công tác thi hành
án dân sự trước Hội đồng nhân dân cùng cấp khi có yêu cầu, ngoài ra phải báo
cáo công tác tổ chức, hoạt động thi hành án trước cơ quan thi hành án dân sự cấp
tỉnh và theo quy định của pháp luật. Khác với quy định của Pháp lệnh Thi hành
án dân sự năm 2004, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 và Luật Thi hành án dân
sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 không quy định trách nhiệm của cơ quan thi hành
án dân sự trước các cơ quan tư pháp cùng cấp như Sở Tư pháp và Phòng Tư pháp
mà quy định trách nhiệm tham mưu, giúp việc trực tiếp của cơ quan thi hành án
dân sự đối với Uỷ ban nhân dân cùng cấp.
Tuy nhiên, việc cơ quan thi hành án dân sự thực hiện chế độ báo cáo và
chịu sự chỉ đạo của chính quyền, cấp uỷ địa phương không có nghĩa là không
bảo đảm tính độc lập trong tổ chức, hoạt động của các cơ quan thi hành án dân
sự. Nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban nhân dân các cấp trong công tác thi hành
án dân sự theo quy định của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 và Luật Thi hành

12


án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 cũng đã có sự sửa đổi, bổ sung cho phù
hợp với tình hình mới. Uỷ ban nhân dân các cấp không chỉ đạo, cho ý kiến về
mặt chuyên môn, nghiệp vụ chuyên sâu về trình tự, thủ tục thi hành án, không
can thiệp về nghiệp vụ vào quá trình tổ chức thi hành án của các cơ quan thi
hành án dân sự mà ngược lại Uỷ ban nhân dân có trách nhiệm chỉ đạo việc tổ
chức cưỡng chế thi hành các vụ án lớn, phức tạp, có ảnh hưởng đến an ninh,
chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương theo đề nghị của Thủ trưởng cơ
quan thi hành án dân sự cùng cấp. Qua đây thể hiện được vai trò hết sức quan
trọng của tổ chức cơ quan thi hành án dân sự.

thể hiện quyền lực nhà nước và được bảo đảm bằng sức mạnh cưỡng chế. Trong
thời kỳ này, mặc dù cơ cấu tổ chức còn rất đơn giản, số lượng cán bộ ít, nghiệp
vụ còn nhiều hạn chế, song Ban Tư pháp xã và Thừa phát lại đã có nhiều cố gắng
trong việc thi hành những bản án, mệnh lệnh của Thẩm phán, góp phần bảo đảm
pháp chế của Nhà nước Cách mạng Việt Nam và đã đặt nền móng cho công tác
thi hành án dân sự sau này.
Từ năm 1950 đến năm 1960, công tác thi hành án dân sự có một sự thay
đổi lớn về cơ chế quản lý, tổ chức hoạt động, ngày 22 tháng 5 năm 1950, Chủ
tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 85/SL về “cải cách bộ máy tư pháp và luật tố
tụng”. Điều 19 của Sắc lệnh số 85/SL quy định: “Thẩm phán huyện dưới sự kiểm
soát của biện lý có nhiệm vụ đem chấp hành các án hình về khoản bồi thường
hay bồi hoàn và các án hộ, mà chính Tòa án huyện hay Tòa án trên đã tuyên”.
Theo quy định này việc thi hành án dân sự do Thừa phát lại và Ban Tư pháp xã
thực hiện trước đây được giao cho Thẩm phán huyện thực hiện dưới sự chỉ đạo
trực tiếp của Chánh án. Sắc lệnh này đã giao nhiệm vụ tổ chức thi hành án dân sự
cho một cơ quan cấp huyện thay vì cơ quan cấp xã như trước đây, việc này cho
thấy vai trò, vị trí của công tác thi hành án dân sự ngày càng được nâng cao.
Năm 1960, công tác thi hành án tiếp tục có thêm bước phát triển mới đó là trên
cơ sở Hiến pháp năm 1959, Điều 24 Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 1960 đã
quy định “Tại các Toà án nhân dân địa phương có nhân viên chấp hành án làm
nhiệm vụ thi hành những bản án và quyết định dân sự, những khoản xử về bồi
thường và tài sản trong các bản án, quyết định hình sự”. Như vậy, thay bằng quy
định Thẩm phán vừa thực hiện công tác xét xử, vừa kiêm nhiệm công

14


tác thi hành án dân sự thì theo quy định mới này từ năm 1960 tại các Tòa án
nhân dân đã có nhân viên chấp hành án chuyên trách thực hiện nhiệm vụ thi hành
dân sự. Ngày 14 tháng 11 năm 1974, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Quyết

cầu Nhà nước quản lý xã hội theo pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế
xã hội chủ nghĩa. Với tinh thần thượng tôn, tuân theo pháp luật Hiến pháp năm
1980 lần đầu tiên đã ghi nhận các bản án, quyết định của Toà án nhân dân đã có
hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, mọi công
dân tôn trọng.
Ngày 03 tháng 7 năm 1981 Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 1981 được
Quốc hội thông qua và đã giao cho Bộ trưởng Bộ Tư pháp phối hợp chặt chẽ với
Chánh án Toà án nhân dân tối cao quản lý Toà án nhân dân địa phương về mặt tổ
chức. Nghị định số 143-HĐBT ngày 22 tháng 11 năm 1981 của Hội đồng Bộ
trưởng quy định về chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ của Bộ Tư pháp, Bộ Tư
pháp có hệ thống tổ chức bộ máy đầy đủ hơn so với Bộ Tư pháp trước đây. Bộ
Tư pháp được giao nhiệm vụ quản lý Toà án địa phương, trong đó có công tác thi
hành án dân sự. Vụ Quản lý Toà án địa phương là cơ quan của Bộ Tư pháp giúp
Bộ trưởng Bộ Tư pháp quản lý về mặt tổ chức, về mặt ngân sách của các Toà án
địa phương và vào ngày 01 tháng 01 năm 1982 Toà án nhân dân tối cao đã bàn
giao nhiệm vụ, công tác này cho Bộ Tư pháp.
Ngày 06 tháng 01 năm 1982 Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ký ban hành Thông
tư số 08-TT về việc hướng dẫn thực hiện Nghị định số 143-HĐBT ngày
22 tháng 11 năm 1981 của Hội đồng Bộ trưởng về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
và tổ chức của các cơ quan thuộc hệ thống tư pháp, trong cơ cấu tổ chức của Sở Tư
pháp có Phòng Quản lý Toà án tham mưu cho Sở Tư pháp quản lý về mặt tổ chức
các Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã; quản lý công tác tư pháp khác ở địa
phương bao gồm cả công tác chấp hành án. Ban Tư pháp huyện có nhiệm vụ chấp
hành các án dân sự, hôn nhân gia đình do Toà án huyện xét xử hoặc Toà án tỉnh ủy
nhiệm. Đối với Ban Tư pháp xã có nhiệm vụ tham gia đôn đốc việc thi hành các bản
án dân sự, hôn nhân gia đình thuộc phạm vi của xã do Toà án huyện,

Ban Tư pháp huyện chuyển về.
Ngày 18 tháng 7 năm 1982, Bộ Tư pháp, Toà án nhân dân tối cao đã ban
hành Thông tư liên ngành số 472 về công tác quản lý thi hành án, Thông tư này

hành án dân sự sao cho phù hợp với vai trò của Chính phủ trong việc thống nhất
quản lý nhà nước về thi hành án dân sự. Đây là một vấn đề mới vào thời điểm
này nên những vướng mắc, khó khăn trong công tác phối hợp giữa Bộ Tư pháp
và Tòa án nhân dân tối cao cũng là điều dễ hiểu.


giai đoạn này, tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự vẫn còn là một quy

17


trình khép kín trong Tòa án nhân dân và phụ thuộc vào sự chỉ đạo của Chánh án
Tòa án nhân dân địa phương. Vai trò của Tòa án nhân dân tối cao (và sau này là
Bộ Tư pháp trong những năm 1981 đến năm 1992) trong việc quản lý Tòa án địa
phương mới chỉ dừng lại ở vai trò quản lý chung, còn về thực chất việc quản lý
đội ngũ cán bộ Tòa án cũng như việc xây dựng đảm bảo cơ sở vật chất cho hoạt
động xét xử, thi hành án thì chủ yếu do chính quyền địa phương đảm nhiệm.
Trong nhiều năm, do trọng tâm của Tòa án là xét xử nên trong một thời gian dài
tổ chức, hoạt động thi hành án chưa được quan tâm đầy đủ. Với những khó khăn,
bất cập như vậy, công tác thi hành án dân sự đứng trước một nhu cầu tất yếu là
cần phải đổi mới về tổ chức bộ máy và thể chế để đáp ứng được yêu cầu nhiệm
vụ đặt ra trong tình hình mới.
* Giai đoạn từ năm 1993 đến đến trước khi Luật Thi hành án dân sự
2008 được ban hành
Đây là giai đoạn mà công tác thi hành án dân sự được chuyển giao hoàn
toàn từ Tòa án nhân dân các cấp sang các cơ quan thuộc Chính phủ thông qua
việc Quốc hội Khóa IX ban hành Nghị quyết về việc bàn giao công tác thi hành
án dân sự từ Toà án nhân dân các cấp sang các cơ quan thuộc Chính phủ. Ngày
17 tháng 4 năm 1993 Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh Thi hành
án dân sự năm 1993; ngày 02 tháng 6 năm 1993 Thủ tướng Chính phủ ban hành

về thi hành án; giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp quản lý theo ngành dọc đối với các
cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh và cấp huyện.
Các cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh, cấp huyện, từ chỗ là Phòng Thi
hành án thuộc Sở Tư pháp, Đội Thi hành án thuộc Phòng Tư pháp đã trở thành
hệ thống cơ quan tương đối độc lập. Thi hành án dân sự cấp tỉnh là cơ quan chịu
sự quản lý, chỉ đạo của Bộ Tư pháp về tổ chức, cán bộ, kinh phí và nghiệp vụ;
chịu sự quản lý, chỉ đạo của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về mặt nhà nước theo quy
định của pháp luật. Thi hành án dân sự cấp huyện trực thuộc và chịu sự chỉ đạo,
quản lý của Thi hành án dân sự cấp tỉnh về kinh phí và nghiệp vụ; chịu sự quản
lý, chỉ đạo của Ủy ban nhân dân cấp huyện về mặt Nhà nước theo quy định của
pháp luật. Đội ngũ công chức thi hành án dân sự tiếp tục được kiện toàn, củng cố
cả về số lượng, chất lượng; cơ sở vật chất, kinh phí hoạt động của các cơ quan
thi hành án được tăng cường; công tác thi hành án dân sự ngày càng phát triển,
kết quả thi hành án dân sự về việc, về tiền đạt tỷ lệ cao đã góp phần vào việc

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status