VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHAN DUY KHÁNH
QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN THĂNG BÌNH, TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
HÀ NỘI, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHAN DUY KHÁNH
QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN THĂNG BÌNH, TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành : Quản lý kinh tế
Mã số
: 8 34 04 10
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN VĂN HÙNG
HÀ NỘI, năm 2019
KẾT LUẬN ..............................................................................................................77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ASXH
An sinh xã hội
BHTN
Bảo hiểm thất nghiệp
BHXH
Bảo hiểm xã hội
BHYT
Bảo hiểm y tế
DN
Doanh nghiệp
ĐTNN
Đầu tư nước ngoài
Ủy ban nhân dân
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Số hiệu
Tên bảng
Trang
bảng
1.1
Tỷ lệ đóng BHXH từ 01/2007 đến nay
24
2.1
Số đơn vị tham gia BHXH giai đoạn 2015-2017
44
2.2
Số lao động tham gia BHXH giai đoạn 2015 - 2017
45
2.8
Số tiền nợ BHXH giai đoạn 2015 - 2017
53
2.9
Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch giai đoạn 2015-2017
56
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với Bảo hiểm y tế ( BHYT ), Bảo hiểm thất nghiệp ( BHTN ), Bảo
hiểm xã hội ( BHXH ) là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước. Trong những
năm qua, công tác BHXH đã thể hiện được vai trò, vị trí của nó đối với việc góp
phần ổn định đời sống của nhân dân, thực hiện công bằng xã hội và ổn định chính
trị - xã hội. Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 22/11/2012 đã khẳng định:“BHXH,
BHYT là hai chính sách xã hội quan trọng, là trụ cột chính của hệ thống ASXH, góp
phần thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm ổn định chính trị-xã hội và
phát triển kinh tế - xã hội”.
Bảo hiểm Xã hội Việt Nam là cơ quan thuộc Chính phủ, có chức năng tổ
chức thực hiện chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất
nghiệp. Để thực hiện được chức năng, vai trò đó, cần đảm bảo duy trì, kết dư quỹ và
bảo toàn quỹ bảo hiểm xã hội - đây là một quỹ riêng, độc lập với NSNN, nhằm đảm
bảo về tài chính để chi trả các chế độ BHXH cho người lao động. Công tác thu là
nguồn hình thành cơ bản nhất trong quá trình tạo lập nên quỹ BHXH; đồng thời là
khâu bắt buộc đối với đối tượng tham gia BHXH thực hiện trách nhiệm của mình.
Từ khi thành lập và đi vào hoạt động của hệ thống BHXH Việt Nam, vai trò,
vị trí của BHXH đã ngày càng được thể hiện, nâng cao. Chính vì vậy, đã có nhiều
đề tài cấp bộ, luận văn thạc sỹ, luận án tiến sỹ đi nghiên cứu những vấn đề chung,
cũng như những vấn đề cụ thể về BHXH, tuy nhiên những đề tài về vấn đề quản lý thu
BHXH vẫn đang hạn chế. Mới có một số đề tài được nghiên cứu một cách có hệ thống,
đó là:
Luận án tiến sỹ “Hoàn thiện quản lý quỹ BHXH ở Việt Nam”, của tác giả của
Đỗ Văn Sinh ( 2005 ) tại Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Luận án đã tập
trung phân tích tài chính quỹ BHXH qua các thời kỳ, từ đó đưa ra các giải pháp liên
quan đến quản lý quỹ và cân đối quỹ BHXH. Từ kết quả nghiên cứu của Luận án, ta
thấy được Luận án đã đưa ra được những giải pháp để hoàn thiện công tác quản lý
và cân đối quỹ BHXH hợp lý và khoa học.
Luận án tiến sỹ “Hoàn thiện cơ chế thu BHXH ở Việt Nam” của tác giả
Phạm Trường Giang ( 2009 ). Luận án nghiên cứu sự phối hợp giữa các bộ phận
2
trong hệ thống thu BHXH từ đó phát hiện ra những tồn tại, bất cập; Trên cơ sở đó,
luận án đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế thu BHXH ở Việt Nam . Từ
những kết quả nghiên cứu của Luận án, ta thấy được những giải pháp để hoàn thiện
cơ chế thu BHXH ở Việt Nam hợp lý và khoa học.
Luận văn thạc sỹ “Quản lý thu BHXH đối với khu vực kinh tế tư nhân tại Hà
Nội” của tác giả Đặng Ngọc Liên ( 2004). Luận văn nghiên cứu BHXH dưới góc độ
nguồn thu trên địa bàn Hà nội 1997-2004 và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả
quản lý thu với đối tượng này. Từ những kết quả nghiên cứu của Luận văn, ta thấy
được Luận văn đã đưa ra được những giải pháp, nhưng kiến nghị nhằm quản lý thu
BHXH đối với khu vực kinh tế tư nhân tại Hà Nội. Tuy nhiên, Luận văn nghiên cứu
giai đoạn từ năm 1997 đến năm 2004 nên những giải pháp và kiến nghị của tác giả
không còn phù hợp; Hiện nay, Luật BHXH số 58/2014/QH13 ban hành ngày
học BHXH Việt Nam bảo vệ năm 1999. Qua những kết quả nghiên cứu của Đề tài,
trên cơ sở nghiên cứu 5 mô hình quản lý thu BHXH của các nước trong khu vực và
trên thế giới, tác giả đã làm rõ một số khái niệm xung quanh vấn đề thu BHXH,
thực trạng quản lý thu BHXH phù hợp với từng loại đối tượng tại Việt Nam.
Tạp chí báo bảo hiểm xã hội kỳ 03, tháng 5/2017 (số 325) – năm thứ 19 với
bài “Không ngừng đổi mới, đẩy mạnh công tác tuyên truyền” của TS. Phạm Lương
Sơn – Phó Tổng giám đốc BHXH Việt Nam. Tác giả đã nêu lên những kết quả đạt
được trong thời gian qua và khẳng định công tác tuyên truyền đem lại hiệu quả cao,
tạo được chuyển biến quan trọng làm tiền đề cho những hoạt động của ngành
BHXH trong thời gian đến. Bên cạnh đó, tác giả cũng nêu lên được những tồn tại,
hạn chế trong công tác tuyên truyền và đưa ra những định hướng về nội dung, đối
tượng, hình thức và một số giải pháp chủ yếu để thực hiện tốt công tác tuyên truyền
như: tăng cường công tác phối hợp với cơ quan chức năng để tuyên tuyền đến mọi
đối tượng tham gia BHXH, BHYT; mở rộng phạm vi triển khai đến xã, phường;
phân nhóm đối tượng có tỷ lệ tham gia BHXH, BHYT còn thấp như nông dân,
người lao động tự do, xã viên hợp tác xã,....
Tạp chí báo bảo hiểm xã hội kỳ 02, tháng 02/2017 (số 318) – năm thứ 19 với
bài “Nổ lực thực hiện mục tiêu BHXH cho mọi người lao động và BHYT toàn dân”
của Ths. Nguyễn Trí Đại - Trưởng Ban Thu, BHXH Việt Nam. Trong bài viết, tác
giả đã nêu ra công tác phối hợp với các Bộ, ngành; nổ lực và chủ động phối hợp với
4
các cơ quan chức năng từ Trung Ương đến địa phương tăng cường công tác thanh
tra, kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật BHXH, BHYT, BHTN. Tác giả
cũng nêu lên được những khó khăn, vướng mắc về công tác thu, mở rộng đối tượng
trong thời gian đầu triển khai Luật BHXH. Đồng thời, đưa ra những thành tựu đã
đạt được trong công tác thu năm 2016 toàn ngành đạt 100,4% so với Kế hoạch Thủ
tướng Chính phủ giao, tăng 38.341 tỷ đồng (17,7%) so với năm 2015, tình hình nợ
quản lý trên địa bàn huyện; và đồng thời cũng có thể là những gợi ý cho một số địa
phương khác có thể vận dụng cho phù hợp.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Để chính sách BHXH đi vào đời sống xã hội, ổn định và phát triển, dòi hỏi
phải có một nguồn tài chính đủ lớn và được quản lý có hiệu quả, đảm bảo cân đối
thu – chi, bảo toàn và tăng trưởng. Trong hoạt động tài chính BHXH thì thu BHXH
giữ vai trò cốt lõi nhằm tạo ra một quỹ BHXH độc lập, tập trung, đáp ứng việc chi
trả các chế độ BHXH cho đối tượng tham gia BHXH.
- Nghiên cứu lý luận về công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội..
- Phân tích, đánh giá về thực tế công tác quản lý thu BHXH, tìm ra những
yếu kém, nguyên nhân tại BHXH huyện Thăng Bình.
- Từ những vấn đề lý luận và thực tiễn trên đề xuất những giải pháp nhằm
nâng cao được hiệu quả quản lý thu BHXH tại BHXH huyện Thăng Bình.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu những vấn đề chung về BHXH và
công tác quản lý nhà nước về thu BHXH, trên cơ sở thực trạng về công tác quản lý
thu BHXH tại BHXH huyện Thăng Bình, đề xuất các giải pháp và kiến nghị để
nâng cao được hiệu quả quản lý thu BHXH tại BHXH huyện Thăng Bình.
Phạm vi nghiên cứu:
Về nội dung: đề tài tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn
về quy trình thu BHXH, các nội dung thu BHXH, các yếu tố ảnh hưởng đến công
tác quản lý thu BHXH, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện trong thời gian đến.
Về thời gian: đề tài tập trung phân tích, nghiên cứu thực trạng giai đoạn
2015 đến năm 2017 và đề xuất các giải pháp định hướng trong thời gian đến. Trong
giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2017 thì công tác quản lý thu BHXH có nhiều sự
thay đổi, biến động và thực trạng thu BHXH tại BHXH huyện Thăng Bình cũng đạt
6
ngừa, giảm thiểu, khắc phục các rủi ro hoặc tác động bất thường của tự nhiên, xã
hội, nhằm đảm bảo cuộc sống cho mọi thành viên, nhất là người nghèo, người thu
nhập thấp, giúp họ ổn định cuộc sống và hòa nhập cộng đồng.
Ở nước ta, mặc dù nền kinh tế còn phát triển chậm, tụt hậu xa so với các
nước phát triển, nhưng Đảng và Nhà nước luôn luôn quan tâm đến chính sách
ASXH. Chọn phát triển mô hình ASXH dựa trên quan điểm của Tổ chức Lao động
thế giới (ILO) với các bộ phận cấu thành là BHXH, BHYT, BHTN; ưu đãi xã hội và
bảo trợ xã hội. Đây là mô hình phù hợp với chủ trương, đường lối phát triển của
Đảng và Nhà nước ta coi con người là động lực, mục tiêu chính của sự phát triển.
Phát triển BHXH, BHYT thực hiện mục tiêu bao phủ BHXH cho mọi người lao
động và BHYT toàn dân tạo nên một hệ thống ASXH chủ động, tích cực, hiệu quả
và vững chắc hơn. Nhóm trợ giúp xã hội sẽ giảm dần để giảm gánh nợ cho ngân
sách nếu như thực hiện tốt nhóm trụ cột BHXH, BHYT.
Năm 1995, Chính phủ ban hành Điều lệ BHXH; ngày 26/6/2006 Quốc hội
khóa 11 đã thông qua Luật bảo hiểm xã hội số 71/2006/QH11, có hiệu lực từ ngày
01/01/2007 và ngày 20/11/2014 Quốc hội khóa 13 thông qua Luật số
58/2014/QH13 có hiệu lực từ ngày 01/01/2016 thay thế Luật bảo hiểm xã hội số
71/2006/QH11 đã khẳng định rõ quan điểm an sinh xã hội đối với mọi người dân
thông qua chính sách, pháp luật của Nhà nước.
8
Vậy, Bảo hiểm xã hội là gì?
- Theo Tổ chức lao động thế giới (ILO):“BHXH là sự bảo vệ của xã hội đối
với tất cả các thành viên của mình thông qua một loạt biện pháp công cộng để đối
phó với những khó khăn về kinh tế xã hội do bị ngừng việc hoặc giảm bớt nhiều về
thu nhập, gây ra bởi ốm đau, gây mất khả năng lao động, tuổi già và chết, việc cung
cấp chăm sóc y tế và tự cấp cho các gia đình đông con”.
Tại điều 3, Luật BHXH số 71/QH11 ngày 29 tháng 06 năm 2006 và Điều 3,
tuổi trở lên và không thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc.
1.1.1.2. Vai trò của Bảo hiểm xã hội
BHXH là hoạt động sự nghiệp của toàn xã hội, không vì mục tiêu lợi nhuận.
Chính sách BHXH có vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội của một quốc
gia:
Thứ nhất, BHXH góp phần ổn định đời sống của người lao động nói riêng
và nền kinh tế nói chung. BHXH kịp thời hỗ trợ, tạo điều kiện để đảm bảo ổn định
cuộc sống và sản xuất khi người lao động hết tuổi lao động, suy giảm khả năng lao
động, hoặc quá trình làm việc không may gặp các rủi ro. Đây chính là mục đích lớn
nhất của BHXH. Người lao động tham gia BHXH sẽ được thay thế một phần thu nhập
bị mất hoặc bị giảm, nhờ đó người lao động yên tâm hơn trong công việc, giúp hăng
hái lao động sản xuất. Như vậy, nó như một đòn bẩy kinh tế kích thích, nâng cao năng
suất lao động cá nhân, năng suất xã hội, nhờ đó nó góp phần vào ổn định kinh tế, xã hội
nói chung.
Thứ hai, BHXH làm gắn bó lợi ích giữa người lao động, người sử dụng lao
động và Nhà nước.
Người lao động, người sử dụng lao động, Nhà nước đều đóng góp vào quỹ
BHXH và có vai trò trong việc giúp ổn định cho người lao động khi gặp những rủi
ro. Người sử dụng lao động đã thể hiện trách nhiệm đối với người lao động thông
qua đóng góp phần của mình vào quỹ BHXH; người lao động nhận thức được vấn
để này cũng sẽ có trách nhiệm hơn trong công việc; Nhà nước vừa tham gia đóng
góp, vừa quản lý hoạt động của BHXH nhằm đảm bảo sự công bằng, bình đẳng cho
tất cả đối tượng. Do vậy, BHXH đã làm tăng thêm sự gắn bó giữa cá nhân người lao
động, người sử dụng lao động và Nhà nước.
Thứ ba, BHXH thực hiện phân phối lại thu nhập và góp phần thực hiện công
10
bằng xã hội.
gian đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được hưởng chế độ hưu trí và chế độ tử tuất
dựa trên cơ sở thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội. Thời gian đóng bảo hiểm xã hội
đã được tính hưởng bảo hiểm xã hội một lần thì không được tính vào thời gian làm
cơ sở tính hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội.
- Quỹ BHXH được quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh bạch;
được sử dụng đúng mục đích và được hạch toán độc lập theo các quỹ thành phần,
các nhóm đối tượng thực hiện theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định và chế
độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định.
- Việc thực hiện bảo hiểm xã hội phải đơn giản, dễ dàng, thuận tiện, kịp thời
và đầy đủ quyền lợi của người tham gia bảo hiểm xã hội.
1.1.1.4. Quỹ bảo hiểm xã hội và các chế độ bảo hiểm xã hội
Quỹ bảo hiểm xã hội
Quỹ BHXH là nguồn quỹ độc lập với NSNN, quỹ hoạt động theo cơ chế
quản lý tài chính do Chính phủ ban hành và được quản lý tập trung thống nhất trong
hệ thống BHXH Việt Nam, được thực hiện hạch toán riêng và cân đối thu chi theo
từng quỹ thành phần.
Theo quy định tại Luật BHXH số 58/2014/QH13 thì các nguồn hình thành
quỹ BHXH gồm:
- “Người sử dụng lao động đóng theo quy định tại Điều 86 của Luật này
- Người lao động đóng theo quy định tại Điều 85 và Điều 87 của Luật này
- Tiền sinh lời của hoạt động đầu tư từ quỹ
- Hỗ trợ của Nhà nước
- Các nguồn thu hợp pháp khác”.
Các quỹ thành phần của quỹ bảo hiểm xã hội gồm: Quỹ ốm đau thai sản, quỹ
tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; và quỹ hưu trí tử tuất, được quy định cụ thể như
sau:
- Quỹ ốm đau, thai sản do người sử dụng lao động đóng bằng 3% quỹ tiền
lương, tiền công đóng BHXH của người lao động
và có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền”.
Chế độ thai sản:“Người lao động được hưởng chế độ thai sản khi thuộc một
trong các trường hợp sau đây: Lao động nữ mang thai; lao động nữ sinh con; lao
động nữ mang thai hộ, người mẹ nhờ mang thai hộ; người lao động nhận nuôi con
13
nuôi dưới 06 tháng tuổi; lao động nữ đặt vòng tránh thai, người lao động thực hiện
biện pháp triệt sản; lao động nam đang đóng bảo hiểm xã hội có vợ sinh con”.
Chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp:
“Người lao động được hưởng chế độ tai nạn lao động khi có đủ các điều kiện
sau đây:
Bị tai nạn thuộc một trong các trường hợp sau đây: Tại nơi làm việc và trong
giờ làm việc; ngoài nơi làm việc hoặc ngoài giờ làm việc khi thực hiện công việc
theo yêu cầu của người sử dụng lao động; trên tuyến đường đi và về từ nơi ở đến
nơi làm việc trong khoảng thời gian và tuyến đường hợp lý”;
Suy giảm khả năng lao động từ 05% trở lên do bị tai nạn quy định tại khoản
1 Điều 43, Luật BHXH số 58/2014/QH13 ngày 20 tháng 11 năm 2014.
“Người lao động được hưởng chế độ bệnh nghề nghiệp khi có đủ các điều
kiện sau đây: Bị bệnh thuộc danh mục bệnh nghề nghiệp do Bộ Y tế và Bộ Lao
động-Thương binh và Xã hội ban hành khi làm việc trong môi trường hoặc nghề có
yếu tố độc hại”;
Suy giảm khả năng lao động từ 05% trở lên do bị bệnh quy định tại khoản 1
Điều 44, Luật BHXH số 58/2014/QH13 ngày 20 tháng 11 năm 2014.
Chế độ hưu trí: Theo Điều 54, Luật BHXH số 58/2014/QH13 ngày 20 tháng
11 năm 2014 thì:
“1. Người lao động quy định tại các điểm a, b, c, d, g, h và i khoản 1 Điều 2
của Luật này,trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này, khi nghỉ việc có đủ 20
năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên thì được hưởng lương hưu nếu thuộc một trong
điểm c, d khoản 1, điểm c khoản 2 Điều này.”
Theo Điều 55. Điều kiện hưởng lương hưu khi suy giảm khả năng lao động
“1. Người lao động quy định tại các điểm a, b, c, d, g, h và i khoản 1 Điều 2
của Luật này khi nghỉ việc có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên được hưởng
lương hưu với mức thấp hơn so với người đủ điều kiện hưởng lương hưu quy định
tại điểm a, b khoản 1 Điều 54 của Luật này nếu thuộc một trong các trường hợp sau
đây:
a)Từ ngày 01 tháng 01 năm 2016, nam đủ 51 tuổi, nữ đủ 46 tuổi và bị suy
giảm khả năng lao động từ 61% trở lên thì đủ điều kiện hưởng lương hưu khi suy
giảm khả năng lao động. Sau đó mỗi năm tăng thêm một tuổi cho đến năm 2020 trở
15
đi, nam đủ 55 tuổi và nữ đủ 50 tuổi thì mới đủ điều kiện hưởng lương hưu khi suy
giảm khả năng lao động từ 61% trở lên.
b)Nam đủ 50 tuổi, nữ đủ 45 tuổi và bị suy giảm khả năng lao động từ 81%
trở lên;
c)Bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên và có đủ 15 năm trở lên làm
nghề hoặc công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ
Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế ban hành.
2. Người lao động quy định tại điểm đ, e khoản 1 Điều 2 của Luật này khi
nghỉ việc có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên, bị suy giảm khả năng lao
động từ 61% trở lên được hưởng lương hưu với mức thấp hơn so với người đủ điều
kiện hưởng lương hưu quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 54 của Luật này
khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a)Nam đủ 50 tuổi, nữ đủ 45 tuổi trở lên;
b)Có đủ 15 năm trở lên làm nghề hoặc công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại,
nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế ban
hành”.
động và cách thức trả lương của đơn vị), đảm bảo không để nợ, nợ đọng BHXH.
Nguyên tắc thứ hai: Tập trung, thống nhất, công bằng, công khai.
Cơ chế thu BHXH được quy định thống nhất, nguồn thu BHXH được tập
trung, quản lý tại BHXH Việt Nam. Việc tham gia BHXH của người lao động,
người sử dụng lao động đảm bảo công khai, thực hiện công bằng trong các thành
phần kinh tế. Các đơn vị tham gia BHXH đều phải công khai minh bạch về số lao
động phải đóng BHXH và số tiền đóng theo mức quy định, có sự kiểm tra, thanh tra
của Nhà nước và giám sát của các cơ quan chức năng, các tổ chức chính trị- xã hội.
Tính công bằng được thể hiện ở tỷ lệ đóng BHXH như nhau giữa các thành phần
kinh tế, giữa các đối tượng tham gia.
Nguyên tắc thư ba: An toàn hiệu quả
Nguồn thu BHXH là sự đóng góp của các bên tham gia, và thường có khối
lượng tiền nhàn rỗi tương đối nhiều. Để tạo thêm nguồn thu cho hoạt động bảo hiểm
xã hội, nguồn vốn này cần được đầu tư để tăng trưởng. Tuy nhiên, đây là nguồn thu
từ đóng góp, là nguồn tiền dùng để chi các chế độ BHXH cho người tham gia, vì
vậy, cần phải có sự quản lý chặt chẽ theo chế độ quản lý tài chính để đảm bảo vừa
17
tăng trưởng, vừa đảm bảo an toàn quỹ.
Quản lý thu bảo hiểm xã hội là gì?
Trước hết, xuất phát từ khái niệm quản lý: Quản lý là sự tác động có tổ chức,
có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra.
Nói đến quản lý thu BHXH là nói đến mối quan hệ giữa Nhà nước, người sử
dụng lao động, người lao động, cơ quan BHXH. Trong đó, người lao động và người
sử dụng lao động là đối tượng quản lý; Nhà nước giao cho cơ quan BHXH là chủ
thể để quản lý trực tiếp. Nhà nước điều tiết và quản lý BHXH dưới hình thức: Một
là thông qua Quốc hội đề ra Luật BHXH, thông qua Chính phủ đề ra các quy định
về BHXH; Hai là thông qua các cơ quan Nhà nước để thực hiện nộp BHXH cho
Thứ hai: Đảm bảo hoạt động thu BHXH bền vững, hiệu quả
BHXH được xem là trụ cột chính trong hệ thống an sinh xã hội. Vì vậy, đảm
bảo tính ổn định, bền vững, hiệu quả của hoạt động thu BHXH là mục tiêu mà bất
kỳ một quốc gia nào cũng mong muốn đạt được. Muốn vậy, hoạt động thu BHXH
phải được định hướng một cách đúng đắn, phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của mỗi
quốc gia trong từng thời kỳ khác nhau; đồng thời, hoạt động thu phải được điều hòa, phối
hợp nhịp nhàng. Quá trình quản lý giúp định hướng công tác thu BHXH - cơ sở xác định
mục tiêu chung: thu đúng, thu đủ, không để thất thu; từ đó hướng mọi nỗ lực của cá
nhân, tổ chức vào mục tiêu chung đó. Việc quản lý thu tốt sẽ huy động được tối đa từ các
nguồn thu, đảm bảo cân đối nguồn quỹ BHXH. Đồng thời, công tác quản lý thu tốt,
nguồn quỹ BHXH sẽ tăng và nhờ đó có thể đảm bảo thực hiện tốt các quyền lợi cho
người lao động và có điều kiện để mở rộng các chế độ được hưởng.
Thứ ba: Quản lý thu giúp Nhà nước có thể kiểm tra, đánh giá hoạt động
thu BHXH
Thu BHXH là một nội dung tài chính BHXH và dễ gây thất thoát, vô ý hoặc
cố ý làm sai trái. Nhờ hoạt động quản lý, kiểm tra, các quy định về thu BHXH sẽ
được thực hiện nghiêm túc, đồng thời giúp đánh giá hoạt động một cách kịp thời,
toàn diện và gắn với thực tiễn thu BHXH.
1.2. Nội dung quản lý thu bảo hiểm xã hội
Quản lý thu BHXH bao gồm nhiều nội dung như: Tổ chức quản lý đối tượng
tham gia BHXH, quản lý tiền lương làm căn cứ đóng BHXH, quản lý về quy trình
thu, phương thức đóng cũng như quản lý về tiền thu BHXH.
19