Thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao khu vực công tại thành phố đà nẵng - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ HỒNG ĐÀO

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO
KHU VỰC CÔNG TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

Hà Nội, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ HỒNG ĐÀO

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO
KHU VỰC CÔNG TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Ngành: Chính sách công
Mã số: 8 34 04 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. VŨ TUẤN HƯNG

Hà Nội, năm 2019


NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO KHU VỰC CÔNG TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ
NẴNG ........................................................................................................................... 34
2.1. Khái quát về thành phố Đà Nẵng và các nhân tố tác động đến phát triển nguồn
nhân lực chất lượng cao khu vực công ..........................................................................34
2.2. Thực trạng thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao khu vực
công tại thành phố Đà Nẵng ..........................................................................................38
2.3. Đánh giá việc thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao khu
vực công thành phố Đà Nẵng ........................................................................................47
Chương 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN
NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO KHU VỰC CÔNG TẠI THÀNH
PHỐ ĐÀ NẴNG ...........................................................................................................61
3.1. Quan điểm, phương hướng và mục tiêu .................................................................61
3.2. Một số giải pháp .....................................................................................................68
3.3. Đề xuất, kiến nghị ...................................................................................................75
KẾT LUẬN ..................................................................................................................78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCH

Ban chấp hành

CBCCVC

Cán bộ, công chức, viên chức

CNH, HĐH

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa


Thành phố

UBND

Ủy ban nhân dân

GRDP

Gross Regional Domestic Product

Tổng sản phẩm trên địa bàn

PCI

Provincial Competitiveness Index

Chỉ số đánh giá và xếp hạng chính
quyền các tỉnh, thành của Việt
Nam về chất lượng điều hành
kinh tế và xây dựng môi trường
kinh doanh thuận lợi cho việc
phát triển doanh nghiệp dân
doanh

WTO

World Trade Organization

Tổ chức Thương mại thế giới


58

Bảng 2.5

Đánh giá cơ hội thăng tiến

59

Bảng 3.1

Nhu cầu nhân lực trình độ cao của các cơ quan hành chính

64

Bảng 3.2

Nhu cầu nhân lực trình độ cao của các đơn vị thuộc lĩnh vực
y tế

65

Bảng 3.3

Nhu cầu nhân lực trình độ cao thuộc lĩnh vực xây dựng, tài
nguyên - môi trường

66

Bảng 3.4

50

Hình 2.4.

Bố trí công tác của học viên Đề án

51


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Con người được xem là nguồn lực quan trọng nhất, chi phối các nguồn lực khác
và có vai trò quyết định sự phát triển KT-XH của mỗi quốc gia. Do đó, trong tác
phẩm “Sửa đổi lối làm việc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1947, Bác Hồ đã viết
“Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “công việc thành công hoặc thất bại đều do
cán bộ tốt hay kém”, đó là lời dạy của Bác cho cán bộ chúng ta. Đúng vậy, trong suốt
quá trình phát triển của lịch sử nhân loại, yếu tố con người và nhất là trọng dụng
những nhân tài được các thế hệ cha ông quan tâm thì có những cách thức thể hiện
khác nhau. Điều đó càng thấy rõ hơn các quốc gia có nguồn lực tài nguyên thiên
nhiên khan hiếm thì yếu tố con người, sự sáng tạo của con người trở thành nguồn lực
cơ bản để phát triển đất nước.
Đất nước ta, kể từ ĐH đại biểu toàn quốc lần thứ VI năm 1986 đến nay, Đảng ta
đã nhận thức ngày càng đầy đủ về vị trí, vai trò, động lực của nguồn lực con người
đối với sự nghiệp đổi mới, CNH, HĐH đất nước cho nên các chủ trương, CS phát huy
NNL ngày càng cụ thể, rõ ràng và thiết thực hơn. Định hướng phát triển trong thời kỳ
CNH, HĐH, Đảng ta khẳng định phải “Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm
yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững”[9, tr.85]. Bởi vì “Con người và
nguồn nhân lực, là yếu tố quyết định sự phát triển của đất nước trong thời kỳ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa” [12, tr.201]. Từ đó, Đảng ta xác định một trong những
nhiệm vụ chủ yếu để phát triển KT-XH ở nước ta hiện nay là “Nâng cao chất lượng

nhiệm vụ “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, chú trọng xây dựng đội ngũ
cán bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới” là một trong ba đột phá về
phát triển KT-XH của TP nhiệm kỳ 2015-2020. Để thực hiện chủ trương trên, ngày
07/7/2004, UBND TP Đà Nẵng ban hành Quyết định số 117/2004/QĐ-UB phê
duyệt chương trình phát triển đào tạo nguồn lực có trình độ cao, đáp ứng yêu cầu
của thời kỳ CNH, HĐH, trong đó nhấn mạnh nội dung “Chú trọng đào tạo nguồn
lực có chất lượng, có tay nghề cao cho các ngành kinh tế trọng điểm của TP, đặc
biệt là các chuyên gia giỏi về quản lý và chuyển giao công nghệ”. Nhận thức tầm
quan trọng NNL chất lượng cao trong KVC cũng như đối với sự phát triển KT-XH
của TP, những năm qua Đà Nẵng ban hành nhiều CS khuyến khích về vật chất lẫn
tinh thần để thu hút nhân tài, NNL chất lượng cao về làm việc trong KVC của TP.
Sau khi Đà Nẵng trở thành TP trực thuộc Trung ương thì có nguy cơ thiếu hụt

2


nguồn lực, nhất là nguồn lực trong KVC. Để giải quyết tình trạng trên, TP Đà Nẵng
đã ban hành và triển khai kịp thời các CS phát triển NNL, đặc biệt là CS thu hút
NNL và đào tạo NNL chất lượng cao. Ngày 17/01/1998, UBND TP Đà Nẵng có
Công văn số 93/CV-UB về tiếp nhận, bố trí công tác đối với những người tốt nghiệp
đại học loại giỏi, khá chưa có việc làm. Đây là cơ sở pháp lý đầu tiên về CS thu hút
NNL đến công tác tại cơ quan, đơn vị của TP. Cùng với CS thu hút NNL, ngày
06/9/2004, UBND TP Đà Nẵng có Quyết định số 151/2004/QĐ-UB về triển khai
“Dự án đào tạo bậc đại học tại các cơ sở trong và ngoài nước cho học sinh Trường
trung học phổ thông (THPT) chuyên Lê Qúy Đôn”.
Nhìn chung, các CS thu hút và đào tạo NNL chất lượng cao của TP là một chủ
trương đúng đắn, phù hợp với quan điểm chỉ đạo của cấp trên và yêu cầu phát triển
của TP, vai trò phát triển NNL thể hiện tầm chiến lược của TP, nhất là NNL chất
lượng cao trong KVC. NNL này đã đáp ứng được một phần về số lượng lẫn chất
lượng và đóng góp rất lớn vào sự phát triển chung của TP. Bên cạnh những kết quả

hóa” do NXB Chính trị quốc gia Hà Nội phát hành năm 2001. Theo đó, đề tài đã
nghiên cứu các vấn đề về cơ sở lý luận, khoa học của chiến lược phát triển thể chất,
đạo đức, trí tuệ, năng lực nghề nghiệp của con người Việt Nam.
- PGS. Mai Quốc Chánh (1999), Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng
yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Từ việc phân tích vai trò của NNL, tác giả chỉ ra sự cần thiết và đề xuất giải pháp
nhằm nâng cao chất lượng NNL.
- TS. Nguyễn Thanh (2002), Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. Tác giả chỉ ra vai trò
quan trọng của NNL và khẳng định NNL là yếu tố quyết định sự thắng lợi của sự
nghiệp CNH, HĐH đất nước.
Ngoài ra, vấn đề phát triển NNL ở nước ta còn được nhiều tác giả đề cập đến
thông qua bài viết trên các tạp chí, đề tài khoa học và trên các phương tiện thông tin
đại chúng như: “Mối quan hệ giữa phát triển nguồn nhân lực và đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa” của TS. Nguyễn Đình Hòa, Tạp chí Triết học, số 1/2004;
Đặc biệt các công trình khoa học về “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt
Nam trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế” của Phạm Văn Sơn, Tạp
chí Nhân lực khoa học xã hội, số 2/2017; “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở
Việt Nam trong điều kiện của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0” của Nguyễn Thị
Tùng Lâm, Tạp chí Nhân lực khoa học xã hội, số 9/2017.

4


Hai là, nhóm các công trình nghiên cứu về đào tạo và phát triển NNL:
- Lê Thị Ái Lâm (2003), Phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục và đào
tạo. Kinh nghiệm Đông Á, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội. Tập sách phân tích một
số luận giải về phát triển NNL thông qua giáo dục và đào tạo ở Đông Á; đồng thời
nêu lên các vấn đề, các giải pháp, kinh nghiệm và một số lưu ý cho Việt Nam trong
phát triển NNL thông qua giáo dục và đào tạo từ bài học Đông Á.

cao trong quá trình hội nhập quốc tế.
2.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Trên thế giới, từ những năm của thập niên 90 trở lại đây có nhiều nghiên cứu
về phát triển NNL một cách có hệ thống, nhất là ở một số nước phát triển như Mỹ,
Đức, Nhật, Anh,… Tiêu biểu nhất là các nghiên cứu của các tác giả sau đây:
- Priyanka Rani và M.S.Khan trong “Impact of Human Resource Development
on Organisational Performance”-“Tác động của phát triển nguồn nhân lực lên hiệu
năng của tổ chức” [32]. Nhóm nghiên cứu đưa ra kết quả sự phát triển NNL là tích
cực, tác động lên kỹ năng, thái độ và hành vi mà còn cải thiện đến hiệu năng tổ chức.
- Adeyemi O. Ogunade (2011) trong “Human capital investment in the
developing world: an analysis of praxis” - “Đầu tư vào vốn nhân lực ở các nước
đang phát triển: một phân tích của tập quán” đã khẳng định vai trò quan trọng của
vốn nguồn lực trong tăng trưởng kinh tế đối với các nước đang phát triển.
- KellyD.J., nhóm nghiên cứu thuộc Tổ chức Hợp tác kinh tế Thái Bình
Dương công bố năm 2001, đưa ra khái niệm về phát triển NNL đăng trên tạp chí
Human Resource Development Outlook cho rằng phát triển NNL là một phạm trù
trong tổng thể quá trình thuộc về sự nghiệp phát triển con người, phát triển NNL sẽ
giúp tổ chức tạo ra lợi thế cạnh tranh và đạt hiệu quả cao hơn.
Tóm lại, đến nay đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu và đóng góp về ý nghĩa
khoa học, làm sáng tỏ nhiều vấn đề về NNL, NNL chất lượng cao cũng như vị trí,
vai trò của nó trong sự phát triển của đất nước. Các công trình trên ở mức độ khác
nhau đã cung cấp tư liệu, lý luận và thực tiễn về xây dựng và phát triển NNL chất
lượng cao ở KVC. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại trên địa bàn TP Đà Nẵng chưa
có công trình nào nghiên cứu toàn diện và có hệ thống về CS phát triển NNL chất
lượng cao KVC, trong đó liên quan đến vấn đề về xây dựng, phát triển NNL chất
lượng cao đáp ứng yêu cầu cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 trong KVC trên địa
bàn TP. Do vậy, việc nghiên cứu đánh giá quá trình triển khai thực hiện CS phát
triển NNL chất lượng cao KVC tại TP Đà Nẵng hiện nay là rất cần thiết.

6

cách khoa học.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

7


Góp phần làm sáng tỏ thêm một số vấn đề lý luận về NNL, NNL chất lượng
cao và thực hiện CS phát triển NNL chất lượng cao KVC.
Đánh giá một cách khách quan về kết quả đạt được, hạn chế, từ đó đề xuất một
số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng NNL chất lượng cao KVC tại TP Đà Nẵng.
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích giúp cho TP
hoàn thiện hơn trong thực hiện CS phát triển NNL chất lượng cao KVC. Luận văn
cũng có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo, nghiên cứu liên quan đến vấn đề này.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết
cấu thành 3 chương, gồm:
Chương 1. Cơ sở lý luận về chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng
cao khu vực công.
Chương 2. Thực trạng thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực chất
lượng cao khu vực công tại thành phố Đà Nẵng.
Chương 3. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện trong thực hiện chính sách phát
triển nguồn nhân lực chất lượng cao khu vực công tại thành phố Đà Nẵng.

8


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT
TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO KHU VỰC CÔNG
1.1. Cơ sở lý luận

kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển
của mỗi cá nhân và của đất nước” [30]. Còn GS.VS Phạm Minh Hạc cho rằng:
“Nguồn nhân lực cần phải hiểu là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước,
một địa phương sẵn sàng tham gia vào một công việc nào đó”[20]. Nguồn lực con
người được coi là nguồn lực quan trọng nhất “quý báu nhất, có vai trò quyết định,
đặc biệt đối với nước ta, khi nguồn lực tài chính và nguồn lực vật chất còn hạn hẹp”
[11, tr.9].
Dù có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng có thể hiểu nguồn nhân lực là những
người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động cùng các tiêu chí về trí lực, thể
lực và nhân cách con người mà được quốc gia hay địa phương huy động vào quá
trình lao động nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội.
1.1.1.2. Nguồn nhân lực chất lượng cao
Ngày nay các quốc gia trên thế giới rất quan tâm đến chất lượng NNL do xã
hội ngày càng phát triển. Đối với nước ta để đáp ứng yêu cầu sự nghiệp đổi mới,
đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế thì đòi hỏi đội ngũ NNL có chất lượng,
năng động, sáng tạo, có khả năng thích ứng nhanh với khoa học, kỹ thuật, công
nghệ hiện đại. Do vậy, hình thành nên thuật ngữ NNL chất lượng cao nhưng đến
nay thì thuật ngữ NNL chất lượng cao được các nhà nghiên cứu quan niệm và hiểu
theo nhiều cách khác nhau như:
Theo GS.VS. Phạm Minh Hạc: “Nguồn nhân lực chất lượng cao là đội ngũ
nhân lực có trình độ và năng lực cao, là lực lượng xung kích tiếp nhận chuyển giao
công nghệ tiên tiến, thực hiện có kết quả việc ứng dụng vào điều kiện nước ta, là hạt
nhân đưa lĩnh vực của mình đi vào công nghiệp hóa - hiện đại hóa” [21, tr.147-148].
Tại ĐH Đảng toàn quốc lần thứ XI cũng đưa ra quan niệm NNL chất lượng
cao là bộ phận ưu tú nhất của NNL đất nước, đó là những “cán bộ lãnh đạo, quản lý
giỏi, đội ngũ chuyên gia, quản trị doanh nghiệp giỏi, lao động lành nghề và cán bộ
khoa học công nghệ đầu đàn” [14, tr.130].

10


1.1.1.3. Nguồn nhân lực chất lượng cao khu vực công

11


Đến nay, chưa có nghiên cứu cụ thể về khái niệm KVC, do vậy có thể hiểu
thuật ngữ “khu vực công” là “khu vực nhà nước”. Theo đó, khu vực nhà nước là
khu vực thuộc sở hữu nhà nước, thực hiện các hoạt động của xã hội, trong đó nhà
nước giữ vai trò quyết định và chi phối như đất đai, sông ngòi, khoáng sản,… thuộc
sở hữu nhà nước. Ngoài ra, nhà nước còn sở hữu nhiều cơ sở sản xuất, kinh doanh
và cung cấp dịch vụ; hệ thống các trường công lập; hệ thống các bệnh viện công;…
Hay phân biệt KVC và khu vực tư theo nguồn tài chính, theo đó KVC được nhà
nước cấp ngân sách để hoạt động. Các nguồn thu của KVC chủ yếu từ thuế, phí và
lệ phí dùng để chi tiêu cho các hoạt động của các cơ quan nhà nước như lương,
thưởng, chi phí cho các hoạt động cung cấp dịch vụ công,... Tóm lại, KVC là khu
vực tạo ra các sản phẩm và dịch vụ phục vụ các nhu cầu phát triển chung của xã
hội. KVC có chức năng chủ yếu là bảo đảm trật tự xã hội thông qua hoạt động quản
lý nhà nước và hoạt động cung cấp dịch vụ công ích cho xã hội.
Như vậy, có thể hiểu KVC là khu vực hoạt động do nhà nước làm chủ sở hữu,
được nhà nước trao quyền lực để thực hiện việc quản lý xã hội bằng các văn bản
luật và văn bản dưới luật, nhằm đảm bảo trật tự xã hội thông qua hoạt động quản lý
nhà nước và hoạt động cung cấp dịch vụ công để hướng đến lợi ích chung cho cộng
đồng xã hội.
NNL chất lượng cao KVC được coi là đội ngũ CBCCVC đang làm việc trong
các cơ quan nhà nước có phẩm chất và sức khỏe tốt, có trình độ chuyên môn kỹ
thuật cao, có khả năng thích ứng nhanh với những thay đổi của công nghệ, biết sáng
tạo, vận dụng kiến thức đã được đào tạo vào quá trình thực hiện nhiệm vụ nhằm góp
phần hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao của cơ quan, đơn vị công tác đem lại
năng suất, chất lượng và hiệu quả cao. NNL chất lượng cao KVC là những cán bộ
lãnh đạo, quản lý giỏi, những chuyên gia, nhà nghiên cứu khoa học, công nghệ hay

rộng, kỹ năng chuyên nghiệp nhưng thái độ bàng quan với cuộc sống, không có
trách nhiệm trong công việc và xã hội thì chưa chắc đã làm tốt công việc [25].
1.1.1.4. Chính sách và chính sách công
Trước khi tìm hiểu thực hiện CS phát triển NNL chất lượng cao KVC, cần
phải tìm hiểu qua các quan niệm về CS, CS công:
- Chính sách: Thuật ngữ CS được sử dụng rộng rãi trên sách, báo, phương tiện
thông tin đại chúng và trong đời sống xã hội. Hiểu một cách đơn giản, CS là tập hợp
các chủ trương và hành động về phương diện nào đó của Chính phủ, nó bao gồm
các mục tiêu mà Chính phủ muốn đạt được và cách làm để thực hiện được các mục

13


tiêu đó. Những mục tiêu này bao gồm sự phát triển toàn diện trên các lĩnh vực kinh
tế, văn hóa, xã hội,... James Anderson cho rằng “CS là một quá trình hành động có
mục đích theo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải quyết các vấn đề mà
họ quan tâm” [34].
Như vậy, CS có thể đề ra và thực hiện ở những tầng nấc khác nhau như CS
của Liên Hiệp Quốc, CS của Đảng, CS của Chính phủ, CS của chính quyền địa
phương, CS của một tổ chức, đoàn thể, hiệp hội doanh nghiệp,…
- Chính sách công: CS công là khâu quan trọng trong hoạt động chính trị của
nhà nước, là yếu tố quyết định tính chính đáng của quyền lực chính trị, quyền lực nhà
nước. Do đó, nó luôn nhận được sự quan tâm của các chủ thể chính trị cũng như các
nhà khoa học chính trị. Mặt khác, xuất phát từ vai trò và chức năng xã hội của nhà
nước ngày càng cao, để nâng cao hiệu quả hoạt động của nhà nước thì cần phải
nghiên cứu về CS công một cách khoa học.
Đến nay, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về CS công bởi mỗi người có cách
tiếp cận, cách hiểu không giống nhau như: Nhà khoa học của Học viện Chính trị Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh cho rằng CS công là “Chương trình hành động
của nhà nước nhằm giải quyết các vấn đề cụ thể” [32, tr.114]. Còn Thomas Dye lại
đưa ra định nghĩa: “Là cái Chính phủ lựa chọn làm hay không làm” [36]. Tuy có

hành vi, thái độ của người lao động cũng rất quan trọng đối với NNL nói chung và
NNL chất lượng cao nói riêng. Nếu làm chủ thái độ, hành vi, trạng thái tinh thần
của bản thân thì đây là một điều kiện hình thành kỹ năng và ý thức đáp ứng yêu cầu
của vị trí làm việc.
Cũng có ý kiến cho rằng phát triển NNL chất lượng cao là quá trình tăng lên
về số lượng NNL và nâng cao về mặt chất lượng NNL, tạo ra cơ cấu NNL ngày
càng hợp lý. Cả ba mặt số lượng, chất lượng, cơ cấu trong phát triển NNL gắn chặt
với nhau, trong đó yếu tố quan trọng nhất của phát triển là chất lượng của NNL phải
được nâng cao. Phát triển NNL chất lượng cao thực chất là nâng cao giá trị NNL
con người để phát huy tối đa hiệu quả sử dụng chúng trong thực tiễn phát triển, để
đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của tổ chức và nhu cầu của người lao động.
Từ các vấn đề trên, phát triển NNL chất lượng cao là quá trình phát triển về số
lượng, chất lượng và cân đối về cơ cấu những người lao động có trình độ chuyên
môn cao, có kỹ năng làm việc tốt đang làm việc trong các ngành, lĩnh vực, các
thành phần kinh tế. Đó là quá trình phát triển về trí lực, thể lực, đạo đức, lối sống
nhằm nâng cao năng lực chuyên môn cho người lao động mà họ có thể đảm nhiệm

15


công việc đạt được mục tiêu đặt ra, góp phần phát triển bền vững KT-XH quốc gia.
CS phát triển NNL chất lượng cao KVC là một bộ phận của CS phát triển
NNL. CS này là để phát triển một lực lượng NNL có chất lượng cho KVC, do các
cơ quan có thẩm quyền ở Trung ương và địa phương ban hành. CS phát triển NNL
chất lượng cao KVC là một loại chính sánh cụ thể của CS công. CS ban hành nhằm
mục đích thu hút được một lượng NNL có trình độ, năng lực chuyên môn vào KVC
để làm việc, đem lại hiệu quả hoạt động cho KVC.
Từ những phân tích trên, có thể khái quát CS phát NNL chất lượng cao KVC
như sau: CS phát triển NNL chất lượng cao KVC là tổng thể các quan điểm và biện
pháp của nhà nước về thu hút và sử dụng NNL chất lượng cao vào làm việc trong

cuộc sống xã hội, thông qua việc thể chế hóa các văn bản pháp luật, chủ trương của
Nhà nước nhằm chăm lo, tạo điều kiện giáo dục công dân thúc đẩy sự phát triển của
NNL chất lượng cao KVC, đáp ứng thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, xây
dựng và bảo vệ tổ quốc.
1.1.2. Đặc điểm, vai trò, tiêu chí và ý nghĩa của chính sách phát triển nguồn
nhân lực chất lượng cao khu vực công
1.1.2.1. Đặc điểm
NNL chất lượng cao KVC được hiểu là NNL có trình độ cao làm việc trong
các cơ quan nhà nước. Các cơ quan nhà nước được tổ chức theo hệ thống thứ bậc
hành chính từ Trung ương đến địa phương. Nguồn nhân lực chính trong KVC là đội
ngũ CBCCVC được hình thành từ tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc bầu cử vào cơ quan
nhà nước theo bậc, ngạch theo quy định của Luật Cán bộ, công chức.
Quá trình hình thành và phát triển NNL trong các cơ quan nhà nước cũng tuân
thủ và chịu ảnh hưởng của cơ chế thị trường lao động và đặc thù riêng của tổ chức
nhà nước như trình độ học vấn, chuyên môn được đào tạo, kiến thức về quản lý nhà
nước, chính trị, kỹ năng hành chính, trách nhiệm, đạo đức công vụ.
Là những người thực thi công vụ và cung ứng dịch vụ cho KVC, là đội ngũ
nhân lực chuyên nghiệp và được Nhà nước đảm bảo lợi ích khi thực thi công vụ. Là
một bộ phận trong NNL có trình độ chuyên môn, tay nghề cao. Kết quả hoạt động
của NNL chất lượng cao không chỉ phụ thuộc vào bản thân mà còn phụ thuộc vào
môi trường xã hội. Chất lượng NNL phụ thuộc vào chất lượng đào tạo, giáo dục của
mỗi quốc gia.
Bộ máy các cơ quan nhà nước được thành lập theo chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn và cơ cấu tổ chức do Chính phủ quy định, tạo thành một chỉnh thể thống

17


nhất, có mối quan hệ chặt chẽ nhằm thực thi quyền quản lý hành chính nhà nước.
Những người làm việc trong các cơ quan nhà nước chỉ làm những việc mà




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status