Thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao khu vực công tại thành phố đà nẵng - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ HỒNG ĐÀO

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO

KHU VỰC CÔNG TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

Hà Nội, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ HỒNG ĐÀO

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO

KHU VỰC CÔNG TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Ngành: Chính sách công
Mã số: 8 34 04 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. VŨ TUẤN HƯNG


1.2. Kinh nghiệm thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao khu
vực công...................................................................................................................... 31
Chương 2. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGUỒN
NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO KHU VỰC CÔNG TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ
NẴNG......................................................................................................................... 34
2.1. Khái quát về thành phố Đà Nẵng và các nhân tố tác động đến phát triển nguồn
nhân lực chất lượng cao khu vực công........................................................................ 34
2.2. Thực trạng thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao khu vực
công tại thành phố Đà Nẵng........................................................................................ 38
2.3. Đánh giá việc thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao khu
vực công thành phố Đà Nẵng...................................................................................... 47
Chương 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN
NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO KHU VỰC CÔNG TẠI THÀNH
PHỐ ĐÀ NẴNG......................................................................................................... 61
3.1. Quan điểm, phương hướng và mục tiêu................................................................ 61
3.2. Một số giải pháp................................................................................................... 68
3.3. Đề xuất, kiến nghị................................................................................................. 75
KẾT LUẬN................................................................................................................ 78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


BCH
CBCCVC
CNH, HĐH
CS
ĐH
HĐND
KT-XH
KVC
NNL


Bảng 3.4 Nh
ngh


DANH MỤC HÌNH
Số hiệu
Hình 2.1.
Hình 2.2.
Hình 2.3.
Hình 2.4.


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Con người được xem là nguồn lực quan trọng nhất, chi phối các nguồn lực
khác và có vai trò quyết định sự phát triển KT-XH của mỗi quốc gia. Do đó, trong
tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1947, Bác Hồ đã
viết “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “công việc thành công hoặc thất bại đều
do cán bộ tốt hay kém”, đó là lời dạy của Bác cho cán bộ chúng ta. Đúng vậy, trong
suốt quá trình phát triển của lịch sử nhân loại, yếu tố con người và nhất là trọng
dụng những nhân tài được các thế hệ cha ông quan tâm thì có những cách thức thể
hiện khác nhau. Điều đó càng thấy rõ hơn các quốc gia có nguồn lực tài nguyên
thiên nhiên khan hiếm thì yếu tố con người, sự sáng tạo của con người trở thành
nguồn lực cơ bản để phát triển đất nước.
Đất nước ta, kể từ ĐH đại biểu toàn quốc lần thứ VI năm 1986 đến nay, Đảng ta
đã nhận thức ngày càng đầy đủ về vị trí, vai trò, động lực của nguồn lực con người đối
với sự nghiệp đổi mới, CNH, HĐH đất nước cho nên các chủ trương, CS phát huy NNL
ngày càng cụ thể, rõ ràng và thiết thực hơn. Định hướng phát triển trong thời kỳ CNH,
HĐH, Đảng ta khẳng định phải “Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ

vị trí chiến lược quan trọng về quốc phòng, an ninh của khu vực miền Trung và cả
nước. Đà Nẵng phải phấn đấu để trở thành một trong những địa phương đi đầu trong
sự nghiệp CNH, HĐH và cơ bản trở thành TP công nghiệp trước năm 2020.
Để thực hiện được những mục tiêu trên, Nghị quyết ĐH Đại biểu Đảng bộ TP
Đà Nẵng lần thứ XX (2010-2015) và lần thứ XXI (2015-2020) tiếp tục khẳng định
nhiệm vụ “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, chú trọng xây dựng đội ngũ
cán bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới” là một trong ba đột phá về
phát triển KT-XH của TP nhiệm kỳ 2015-2020. Để thực hiện chủ trương trên, ngày
07/7/2004, UBND TP Đà Nẵng ban hành Quyết định số 117/2004/QĐ-UB phê
duyệt chương trình phát triển đào tạo nguồn lực có trình độ cao, đáp ứng yêu cầu
của thời kỳ CNH, HĐH, trong đó nhấn mạnh nội dung “Chú trọng đào tạo nguồn
lực có chất lượng, có tay nghề cao cho các ngành kinh tế trọng điểm của TP, đặc
biệt là các chuyên gia giỏi về quản lý và chuyển giao công nghệ”. Nhận thức tầm
quan trọng NNL chất lượng cao trong KVC cũng như đối với sự phát triển KT-XH
của TP, những năm qua Đà Nẵng ban hành nhiều CS khuyến khích về vật chất lẫn
tinh thần để thu hút nhân tài, NNL chất lượng cao về làm việc trong KVC của TP.
Sau khi Đà Nẵng trở thành TP trực thuộc Trung ương thì có nguy cơ thiếu hụt

2


nguồn lực, nhất là nguồn lực trong KVC. Để giải quyết tình trạng trên, TP Đà Nẵng
đã ban hành và triển khai kịp thời các CS phát triển NNL, đặc biệt là CS thu hút
NNL và đào tạo NNL chất lượng cao. Ngày 17/01/1998, UBND TP Đà Nẵng có
Công văn số 93/CV-UB về tiếp nhận, bố trí công tác đối với những người tốt nghiệp
đại học loại giỏi, khá chưa có việc làm. Đây là cơ sở pháp lý đầu tiên về CS thu hút
NNL đến công tác tại cơ quan, đơn vị của TP. Cùng với CS thu hút NNL, ngày
06/9/2004, UBND TP Đà Nẵng có Quyết định số 151/2004/QĐ-UB về triển khai
“Dự án đào tạo bậc đại học tại các cơ sở trong và ngoài nước cho học sinh Trường
trung học phổ thông (THPT) chuyên Lê Qúy Đôn”.

CNH, HĐH đất nước:
- Giáo sư-Viện sĩ Phạm Minh Hạc cùng cộng sự thuộc Viện Nghiên cứu Giáo

dục đã thực hiện đề tài khoa học cấp nhà nước thuộc chương trình KHXH-04 trong
cuốn sách “Về phát triển toàn diện con người thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại
hóa” do NXB Chính trị quốc gia Hà Nội phát hành năm 2001. Theo đó, đề tài đã
nghiên cứu các vấn đề về cơ sở lý luận, khoa học của chiến lược phát triển thể chất,
đạo đức, trí tuệ, năng lực nghề nghiệp của con người Việt Nam.
- PGS. Mai Quốc Chánh (1999), Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng
yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Từ việc phân tích vai trò của NNL, tác giả chỉ ra sự cần thiết và đề xuất giải pháp
nhằm nâng cao chất lượng NNL.
- TS. Nguyễn Thanh (2002), Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp

hóa, hiện đại hóa đất nước, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. Tác giả chỉ ra vai trò
quan trọng của NNL và khẳng định NNL là yếu tố quyết định sự thắng lợi của sự
nghiệp CNH, HĐH đất nước.
Ngoài ra, vấn đề phát triển NNL ở nước ta còn được nhiều tác giả đề cập đến
thông qua bài viết trên các tạp chí, đề tài khoa học và trên các phương tiện thông tin
đại chúng như: “Mối quan hệ giữa phát triển nguồn nhân lực và đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa” của TS. Nguyễn Đình Hòa, Tạp chí Triết học, số 1/2004;
Đặc biệt các công trình khoa học về “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở
Việt Nam trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế” của Phạm Văn
Sơn, Tạp chí Nhân lực khoa học xã hội, số 2/2017; “Phát triển nguồn nhân lực chất
lượng cao ở Việt Nam trong điều kiện của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0” của
Nguyễn Thị Tùng Lâm, Tạp chí Nhân lực khoa học xã hội, số 9/2017.

4



Xuân Tiến trường Đại học Kinh tế Đà Nẵng. Bài báo đã nêu bật mối quan hệ gắn bó
mật thiết giữa đào tạo và sử dụng NNL, làm rõ nội dung để phát triển NNL thì
không thể bỏ qua đào tạo NNL và sau khi đào tạo thì phải sử dụng NNL đó một
cách hợp lý hơn để không lãng phí nguồn tài nguyên to lớn đó.
- Luận án “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong quá trình Việt Nam

5


hội nhập quốc tế” của Tiến sĩ Chính trị học Phạm Đức Tiến năm 2016, Đại học khoa
học và xã hội, Hà Nội. Tác giả nghiên cứu sâu việc phát triển NNL chất lượng cao
trong quá trình hội nhập quốc tế.
2.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Trên thế giới, từ những năm của thập niên 90 trở lại đây có nhiều nghiên cứu
về phát triển NNL một cách có hệ thống, nhất là ở một số nước phát triển như Mỹ,
Đức, Nhật, Anh,… Tiêu biểu nhất là các nghiên cứu của các tác giả sau đây:
- Priyanka Rani và M.S.Khan trong “Impact of Human Resource Development

on Organisational Performance”-“Tác động của phát triển nguồn nhân lực lên hiệu
năng của tổ chức” [32]. Nhóm nghiên cứu đưa ra kết quả sự phát triển NNL là tích cực,
tác động lên kỹ năng, thái độ và hành vi mà còn cải thiện đến hiệu năng tổ chức.
- Adeyemi O. Ogunade (2011) trong “Human capital investment in the

developing world: an analysis of praxis” - “Đầu tư vào vốn nhân lực ở các nước
đang phát triển: một phân tích của tập quán” đã khẳng định vai trò quan trọng của
vốn nguồn lực trong tăng trưởng kinh tế đối với các nước đang phát triển.
- KellyD.J., nhóm nghiên cứu thuộc Tổ chức Hợp tác kinh tế Thái Bình

Dương công bố năm 2001, đưa ra khái niệm về phát triển NNL đăng trên tạp chí
Human Resource Development Outlook cho rằng phát triển NNL là một phạm trù

4.1. Đối tượng nghiên cứu
Việc thực hiện CS phát triển NNL chất lượng cao trong KVC tại TP Đà Nẵng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: TP Đà Nẵng.
- Thời gian: Luận văn nghiên cứu vấn đề thực hiện CS phát triển NNL chất

lượng cao KVC giai đoạn từ năm 1998 đến năm 2016.
- Nội dung: Thực hiện CS phát triển NNL chất lượng cao KVC có rất nhiều

vấn đề, nhưng luận văn chỉ tập trung phân tích việc thực hiện một số CS cơ bản
trong đào tạo, bồi dưỡng và thu hút nhân tài, nhằm nâng cao chất lượng NNL trong
KVC tại TP Đà Nẵng.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở tiếp cận các phương pháp luận, quan
điểm Chủ nghĩa Mác-Lê Nin, Tư tưởng Hồ Chí Minh,…
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp như nghiên cứu tài liệu, phân tích, tổng
hợp, thu thập thông tin, thống kê, đánh giá… để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu một
cách khoa học.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

7


Góp phần làm sáng tỏ thêm một số vấn đề lý luận về NNL, NNL chất lượng
cao và thực hiện CS phát triển NNL chất lượng cao KVC.
Đánh giá một cách khách quan về kết quả đạt được, hạn chế, từ đó đề xuất một
số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng NNL chất lượng cao KVC tại TP Đà Nẵng.
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích giúp cho TP

lực của con người, nằm trong mỗi người và làm cho con người hoạt động. Sức lực
đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể và đến một mức nào đó,
con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động và có sức lao động [7].
Như vậy, có nhiều cách hiểu khác nhau về nhân lực, nên có thể khái niệm nhân
lực tổng hợp tất cả sức lực cơ thể con người, làm cho con người có thể tham gia vào
các hoạt động văn hóa, xã hội, kinh tế, chính trị, sản xuất, kinh doanh...
Nguồn nhân lực: NNL là một yếu tố cấu thành của lực lượng sản xuất, là
nguồn lực con người nên có nhiều yếu tố khác với nguồn lực khác. Bởi con người là
một thực thể sinh vật xã hội trong quá trình vận động, NNL chịu tác động của các
yếu tố tự nhiên, xã hội tâm lý,… NNL một mặt là động lực thúc đẩy sự phát triển
của tổ chức, mặt khác NNL là mục tiêu của chính sự phát triển của tổ chức. NNL
gồm số lượng và chất lượng; số lượng là lực lượng lao động và khả năng cung cấp
lực lượng lao động cho sự phát triển KT-XH, còn chất lượng thể hiện ở thể lực, trí

9


lực và phẩm chất tâm lý xã hội của nguồn lực con người. Do vậy, thuật ngữ NNL
được định nghĩa khác nhau như:
Theo Liên Hiệp Quốc, “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng,
kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển
của mỗi cá nhân và của đất nước” [30]. Còn GS.VS Phạm Minh Hạc cho rằng:
“Nguồn nhân lực cần phải hiểu là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước,
một địa phương sẵn sàng tham gia vào một công việc nào đó”[20]. Nguồn lực con
người được coi là nguồn lực quan trọng nhất “quý báu nhất, có vai trò quyết định,
đặc biệt đối với nước ta, khi nguồn lực tài chính và nguồn lực vật chất còn hạn hẹp”
[11, tr.9].
Dù có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng có thể hiểu nguồn nhân lực là những
người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động cùng các tiêu chí về trí lực, thể
lực và nhân cách con người mà được quốc gia hay địa phương huy động vào quá

lượng cao là những lao động được đào tạo có bằng cấp đầy đủ.
Theo TS. Nguyễn Hữu Dũng: “Nguồn nhân lực chất lượng cao là khái niệm để
chỉ một con người, một người lao động cụ thể có trình độ lành nghề về chuyên môn
kỹ thuật ứng với một ngành nghề cụ thể theo tiêu thức phân loại lao động về chuyên
môn kỹ thuật nhất định như trên đại học, đại học, công nhân kỹ thuật lành nghề”
[8].
Như vậy, khái niệm NNL chất lượng cao mang tính chất tương đối, một người
có thể có tài năng trên lĩnh vực này nhưng lại bình thường trên các lĩnh vực khác. Vì
thế, khi xem xét một người có thuộc NNL chất lượng cao hay không phải xác định
tài năng của người đó trên một ngành, lĩnh vực, phạm vi nhất định.
Ngoài những quan niệm trên, thuật ngữ NNL chất lượng cao có nội hàm cụ thể
hơn để chỉ những người lao động có trình độ, năng lực trong các lĩnh vực sản xuất
vật chất mang lại hiệu quả cao như nghệ nhân, chuyên gia, công nhân lành nghề hay
trong lĩnh vực sản xuất tinh thần có những thuật ngữ như nhà chuyên môn, bác học,
nhà khoa học, chuyên gia, nhân tài,... để tôn vinh NNL chất lượng cao.
Từ các quan niệm nêu trên, có thể khái quát: NNL chất lượng cao là bộ phận
tinh túy của NNL, gồm những người đã qua đào tạo bài bản, có khả năng sáng tạo,
thích ứng nhanh với khoa học, công nghệ hiện đại. Đây là lực lượng nòng cốt trong
quá trình lao động đem lại năng suất, chất lượng, hiệu quả cao nhằm góp phần cho
sự phát triển chung của đất nước.
1.1.1.3. Nguồn nhân lực chất lượng cao khu vực công

11


Đến nay, chưa có nghiên cứu cụ thể về khái niệm KVC, do vậy có thể hiểu
thuật ngữ “khu vực công” là “khu vực nhà nước”. Theo đó, khu vực nhà nước là
khu vực thuộc sở hữu nhà nước, thực hiện các hoạt động của xã hội, trong đó nhà
nước giữ vai trò quyết định và chi phối như đất đai, sông ngòi, khoáng sản,… thuộc
sở hữu nhà nước. Ngoài ra, nhà nước còn sở hữu nhiều cơ sở sản xuất, kinh doanh

thủ nguyên tắc thống nhất, liên tục theo trình tự, thứ bậc hành chính. Do vậy, để có
NNL chất lượng cao KVC ngoài việc thu hút những người có trình độ cao từ các cơ
sở đào tạo có uy tín thì cần chú trọng đào tạo, bồi dưỡng nâng cao về chuyên môn,
lý luận chính trị, quản lý nhà nước, kỹ năng làm việc,… cho đội ngũ NNL hiện có
cũng như có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cho NNL thu hút được.
Trên phương diện tiếp cận NNL chất lượng cao đối với sự phát triển của xã
hội, các nhà khoa học quan niệm “Nguồn nhân lực chất lượng cao trong khu vực
công là những người có sức khỏe, có trình độ học vấn và trình độ chuyên môn cao,
có năng lực công tác tốt, có phẩm chất đạo đức công vụ, luôn chủ động học tập
nâng cao trình độ chuyên môn, chủ động trong hội nhập...”[6].
Tóm lại, NNL chất lượng cao KVC gồm những lao động qua đào tạo hoặc tự
tích lũy lại, những người có chức vụ trong các cơ quan nhà nước, sức khỏe tốt, có
chuyên môn, nghiệp vụ cao, có kỹ năng lao động giỏi, có khả năng thích ứng nhanh
với sự thay đổi của môi trường, khoa học, công nghệ, xã hội và đem lại hiệu quả,
năng suất hoạt động cao cho tổ chức, đơn vị và cho xã hội.
Để có được NNL chất lượng cao KVC thì người lao động phải có một thời
gian dài để đào tạo và tự tích lũy trong quá trình công tác. Khi nói đến năng lực
công tác của người lao động thì cần nói đến yếu tố về thái độ, kỹ năng và kiến thức.
Trong đó, yếu tố hàng đầu quyết định sự thành công của người lao động với công
việc cũng như với tổ chức đó là yếu tố thái độ. Một người có thể có kiến thức sâu
rộng, kỹ năng chuyên nghiệp nhưng thái độ bàng quan với cuộc sống, không có
trách nhiệm trong công việc và xã hội thì chưa chắc đã làm tốt công việc [25].
1.1.1.4. Chính sách và chính sách công
Trước khi tìm hiểu thực hiện CS phát triển NNL chất lượng cao KVC, cần
phải tìm hiểu qua các quan niệm về CS, CS công:
- Chính sách: Thuật ngữ CS được sử dụng rộng rãi trên sách, báo, phương tiện

thông tin đại chúng và trong đời sống xã hội. Hiểu một cách đơn giản, CS là tập hợp
các chủ trương và hành động về phương diện nào đó của Chính phủ, nó bao gồm
các mục tiêu mà Chính phủ muốn đạt được và cách làm để thực hiện được các mục

Từ các khái niệm về nhân lực, NNL, NNL chất lượng cao KVC, CS, CS công
thì khái niệm về phát triển NNL chất lượng cao KVC hiểu như thế nào. Trước hết có
thể hiểu phát triển là sự vận động theo chiều hướng đi lên, từ đơn giản đến phức tạp,
từ thấp đến cao, từ ít hoàn thiện đến hoàn thiện hơn.

14


Như vậy, phát triển NNL chất lượng cao là sự phát triển kỹ năng, năng lực và
sự đáp ứng yêu cầu về việc làm của tổ chức, hiểu một cách sâu hơn đó là phát triển
năng lực của con người để tiến tới việc làm hiệu quả, cũng như thoả mãn nghề
nghiệp và cuộc sống cá nhân. Phát triển NNL chất lượng cao là phát triển về quá
trình nâng cao kiến thức, kỹ năng và năng lực của tất cả mọi người trong tổ chức và
được thể hiện qua chuyên môn nghiệp vụ được đào tạo, kinh nghiệm công tác hoặc
vị trí việc làm; do vậy năng lực thường gắn với kiến thức, kỹ năng và thái độ. Kiến
thức là những hiểu biết chung và hiểu biết chuyên ngành về một lĩnh vực cụ thể.
Kiến thức có được thông qua các phương diện khác nhau trong quá trình đào tạo và
công tác. Còn kỹ năng là làm chủ khả năng áp dụng các kỹ thuật, phương pháp và
công cụ để giải quyết công việc.
Để đạt được kỹ năng thì phải áp dụng các phương pháp cụ thể qua một công
việc thực tế, thông qua tình huống hoặc mô phỏng thực tế. Đây là một trong những
tiêu chí để đánh giá mức độ thành thạo công việc. Ngoài kiến thức và kỹ năng thì
hành vi, thái độ của người lao động cũng rất quan trọng đối với NNL nói chung và
NNL chất lượng cao nói riêng. Nếu làm chủ thái độ, hành vi, trạng thái tinh thần của
bản thân thì đây là một điều kiện hình thành kỹ năng và ý thức đáp ứng yêu cầu của
vị trí làm việc.
Cũng có ý kiến cho rằng phát triển NNL chất lượng cao là quá trình tăng lên
về số lượng NNL và nâng cao về mặt chất lượng NNL, tạo ra cơ cấu NNL ngày
càng hợp lý. Cả ba mặt số lượng, chất lượng, cơ cấu trong phát triển NNL gắn chặt
với nhau, trong đó yếu tố quan trọng nhất của phát triển là chất lượng của NNL phải

CS là trung tâm kết nối các bước trong chu trình CS thành một hệ thống, nhất là với
giai đoạn hoạch định CS có vị trí đặc biệt quan trọng.
Thực hiện CS công là giai đoạn đưa CS vào thực hiện trong đời sống. Đây là
giai đoạn tổ chức thực hiện các giải pháp CS đã lựa chọn và kiểm tra việc thực hiện.
Có thể nói giai đoạn này có ý nghĩa quyết định đến sự thành công hay thất bại của
một CS công, thực hiện CS là một khâu hợp thành của chu trình CS nếu không có
công đoạn này thì CS không thể tồn tại. Thực hiện CS chính là giai đoạn biến ý đồ,
mục tiêu CS thành hiện thực, từng bước thực hiện các mục tiêu CS, qua đó khẳng
định tính đúng đắn của CS và giúp CS ngày một hoàn thiện hơn. CS sau khi ban
hành phải được triển khai thực hiện trong đời sống xã hội, CS là một dạng vật chất
đặc biệt nên nó cũng cần thực hiện những chức năng để tồn tại. Song muốn thực
hiện được chức năng đó phải có sự tham gia phối hợp giữa các bên thì mới tồn tại.

16


Thực hiện CS công được hiểu là quá trình đưa CS đó vào thực tiễn đời sống xã
hội thông qua việc ban hành các quy định, quyết định, dự án, chương trình nhằm
hiện thực hóa mục tiêu của CS. Nói cách khác là toàn bộ quá trình chuyển ý chí của
chủ thể trong CS thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu.
Từ quan niệm trên, có thể hiểu thực hiện CS phát triển NNL chất lượng cao
KVC là toàn bộ quá trình đưa CS phát triển NNL chất lượng cao KVC vào thực tiễn
cuộc sống xã hội, thông qua việc thể chế hóa các văn bản pháp luật, chủ trương của
Nhà nước nhằm chăm lo, tạo điều kiện giáo dục công dân thúc đẩy sự phát triển của
NNL chất lượng cao KVC, đáp ứng thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, xây
dựng và bảo vệ tổ quốc.
1.1.2. Đặc điểm, vai trò, tiêu chí và ý nghĩa của chính sách phát triển nguồn
nhân lực chất lượng cao khu vực công
1.1.2.1. Đặc điểm
NNL chất lượng cao KVC được hiểu là NNL có trình độ cao làm việc trong

thực thi công vụ và các kỹ năng giao tiếp, ứng xử trong quá trình giải quyết các yêu
cầu của công dân. Bên cạnh đó, NNL chất lượng cao thể hiện được tinh thần sẵn
sàng hội nhập để nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan, tổ chức; theo đó, ngoài
kiến thức chuyên môn nghiệp vụ, họ phải có những kỹ năng nhất định như sử dụng
ngoại ngữ, giao tiếp và ứng dụng công nghệ thông tin trong công việc chuyên môn.
1.1.2.2. Vai trò của việc thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực chất
lượng cao khu vực công
Ngày nay, trong xu thế toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế, khi nền kinh tế chủ yếu
dựa trên tri thức thì NNL, đặc biệt là NNL chất lượng cao ngày càng thể hiện vai trò
quyết định. Việt Nam đang trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế
nên vai trò của NNL chất lượng cao KVC càng thể hiện rõ nét hơn.
CS phát triển NNL chất lượng cao cho thấy sự quan tâm của Đảng và Nhà
nước về thu hút, đào tạo và phát triển NNL chất lượng cao để góp phần nâng cao
hiệu quả hoạt động KVC. Là cơ sở cải cách nền hành chính nhà nước ngày càng trở
nên khoa học, nhờ những kiến thức, kỹ năng của NNL chất lượng cao và nắm bắt
kịp thời với sự phát triển của khoa học và công nghệ hiện đại. Nâng cao về chất
lượng NNL, giảm về số lượng trong KVC, đây cũng là biện pháp phù hợp với quan
điểm tinh giản bộ máy hành chính của nhà nước. Bổ sung một lực lượng NNL có
chất lượng cho KVC, khắc phục tình trạng thiếu hụt NNL có trình độ cao trong
KVC hiện nay. Đảm bảo đầy đủ cả về số lượng và chất lượng NNL cho KVC.

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status