1. MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài.
Hiện nay nhu cầu của xã hội ngày càng cao đặc biệt là trong xu thế toàn
cầu hóa kinh tế Thế giới, quá trình dạy học không chỉ trang bị cho học sinh kiến
thức mà quan trọng hơn là phải hình thành và rèn luyện cho học sinh các kĩ
năng. Đối với môn học Địa lí trong nhà trường phổ thông cần cung cấp cho học
sinh kiến thức cơ bản, rèn luyện cho học sinh các kĩ năng cần thiết.
Tuy nhiên hiện nay việc dạy và học môn Địa lí nói chung và môn Địa lí ở
THPT nói riêng còn gặp phải những khó khăn như sau:
- Thứ nhất, do điều kiện số tiết học và thời gian một tiết học trên lớp còn
hạn chế, nội dung kiến thức của bài còn nhiều và trong bài còn nhiều thuật ngữ
khó hiểu, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học chưa phổ biến nhất
là ở các trường miền núi, vùng sâu, vùng xa.
- Thứ hai, giáo viên hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức và rèn luyện kĩ
năng địa lí chưa thật đầy đủ và hệ thống vì chưa có các tài liệu chuyên hướng
dẫn học sinh rèn các luyện kĩ năng.
- Thứ ba, hiện nay việc dạy và học bộ môn Địa lí trong nhà trường phổ
thông vẫn còn bị coi nhẹ. Đối với môn Địa lí, các em vẫn quan niệm đây là môn
phụ nên không say mê, chú ý học và không ghi chép bài đầy đủ. Môn Địa lí chỉ
được quan tâm khi học sinh phải thi tốt nghiệp, đại học. Vì vậy, cả giáo viên và
học sinh đều chưa thực sự chú ý đến việc dạy và học môn Địa lí.
Thực tế trong kì thi THPT quốc gia của những năm gần đây, Địa lý lại là bộ
môn có kết quả tương đối cao trong các bộ, học sinh chọn thi tổ hợp khoa học xã
hội trong đó có môn Địa lí có xu hướng tăng.Trong đó theo cấu trúc đề thi hiện
nay: Phần thực hành kĩ năng địa lí thường chiếm 50% tổng số điểm của bài
thi(trong đó phần sử dụng Atlat 2,75 điểm(27,5 % tổng điểm bài thi), nhiều câu
hỏi không yêu cầu sử dụng Atlat nhưng vẫn có thể sử dụng để trả lời. Như vậy,
phần điểm sử dụng các kĩ năng trong bài thi là hơn 50% ,đồng thời sẽ hạn chế
được việc học sinh phải học thuộc kiến thức lí thuyết.
Trường THPT Thường Xuân 3, huyện Thường Xuân đặt trên địa bàn 5 xã:
Vạn Xuân, Xuân Lộc, Xuân Thắng, Xuân Chinh, Xuân Lẹ, được gọi là khu vực
tôi củng cố thêm kiến thức chuyên môn.
1.3. Đối tượng nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu là học sinh khối 12 trường THPT Thường Xuân 3
- Phạm vi của đề tài: Căn cứ vào nội dung chương trình sách giáo khoa và
trình độ nhận thức của học sinh, cùng với kinh nghiệm của bản thân, đề tài chỉ
tập trung đi sâu vào hướng dẫn học sinh sử dụng cụ thể từng trang Atlat để trả
lời một số câu hỏi phần Atlat địa lí .
1.4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí luận:
+ Nghiên cứu các tài liệu có liên quan rèn luyện các kĩ năng sử dụng Atlat
địa lí và trả lời câu hỏi trắc nghiệm.
+ Các phương pháp: Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa và khái quát hóa
được sử dụng để xây dựng hệ thống nội dung của đề tài.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
+ Phương pháp khảo sát bằng phiếu điều tra.
+ Phương pháp điều tra xã hội như phỏng vấn.
+ Phương pháp thống kê toán học.
2. NỘI DUNG
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
2
1) Học Địa lí ở THPT, HS cần phải củng cố và phát triển các kĩ năng:
- Quan sát, nhận xét, phân tích, tổng hợp, so sánh, đánh giá các sự vật, hiện
tượng địa lí; sử dụng bản đồ, biểu đồ, đồ thị, lát cắt, số liệu thống kê,...
- Thu thập, xử lí, trình bày các thông tin địa lí.
2) Kĩ năng địa lí trong nhà trường phổ thông được chia ra 5 mức độ:
- Bắt chước: Quan sát và cố gắng lặp lại một kĩ năng nào đó.
- Thao tác: Hoàn thành một kĩ năng nào đó theo chỉ dẫn hơn là bắt chước máy
móc.
4.Kĩ năng nhận biết biểu đồ, nhận xét biểu đồ.
Tốt
Bình thường
5.Kĩ năng tính toán trong địa lí
Tốt
Không tốt
Bình thường
Không tốt
Bảng 1. Các kĩ năng địa lí của học sinh
3
Kĩ năng
Lớp ( SS)
12A1 (45HS)
12A2 (45HS)
Tốt
HS
6
9
%
13,3%
20,0%
Bình thường
HS
- Kĩ năng phân tích và nhận xét bảng số liệu thống kê, lát cắt... trong Atlat.
Kĩ năng làm việc với Atlát Địa lí Việt Nam
Quan trọng và không thể thiếu trong quá trình ôn tập môn địa lí là phải rèn
luyện cho học sinh kĩ năng phân tích và xử lí thông tin dựa vào Atlat địa lí Việt
Nam. Atlat được coi là “cuốn sách giáo khoa thứ hai” có rất nhiều các bản đồ,
biểu đồ, các số liệu thống kê… Việc sử dụng Atlat và vận dụng các kĩ năng địa lí
sẽ giúp các em giảm được 50% việc học thuộc lòng bài học một cách máy móc,
không có hiệu quả. Việc sử dụng Atlat thường xuyên không chỉ giúp ghi nhớ,
khắc sâu kiến thức mà còn củng cố kĩ năng sử dụng Atlat để tập trung kiến thức
làm tốt bài thi.
- Câu hỏi yêu cầu sử dụng Atlát Địa lí Việt Nam trở thành phổ biến trong
tất cả các đề thi môn Địa lí. Để khai thác kiến thức từ Atlát, yêu cầu học sinh
phải sử dụng tổng hợp cả kiến thức và kĩ năng địa lí. Do vậy, trong nhiều đề thi
có đến 11 câu hỏi yêu cầu làm việc với Atlát Địa lí Việt nam
4
- Thông thường câu hỏi gắn với Atlát có dạng "Dựa vào Atlát Địa lí Việt
Nam ...".
Với những câu hỏi kiểu này, nhiều thí sinh dựa vào cơ sở trên ( là riêng
Atlát) để làm bài. Việc làm đó không cho phép trình bày kiến thức một cách đầy
đủ. Dựa vào kiến thức đã học, nhiều kiến thức từ Atlát bị bỏ sót, đặc biệt là các
kiến thức về sự phân bố cụ thể, mối quan hệ về mặt không gian lãnh thổ của các
sự vật, hiện tượng địa lí...Dựa vào Atlát địa lí, nhiều kiến thức như tình hình
phát triển, nguyên nhân phát triển, về đường lối, chính sách, kinh nghiệm và
truyền thống sản xuất của dân cư... không được đề cập đến một cách đầy đủ và
hợp lí. Cần tổng hợp cả kiến thức học và khai thác Atlat để làm bài thi đạt kết
quả.
Kinh nghiệm ôn thi tốt nghiệp cho thấy, cần phải chú ý phân biệt các loại
+ Đọc quy mô hiện tượng được biểu hiện thông qua biểu đồ (biểu đồ cột, biểu
đồ tròn, biểu đồ miền…) đặt tại vị trí cụ thể hay đặt trong lãnh thổ.
+ Đọc quá trình phát triển hiện tượng thông qua biểu đồ lồng vào nhau, biểu đồ
diễn giải hiện tượng biến đổi theo thời gian đặt trên bản đồ
+ Đọc các yếu tố cơ sở địa lí, xác định mối quan hệ giữa nội dung chuyên đề với
cớ sở địa lí.
+ Đọc các yếu tố bổ sung như các tranh ảnh, bảng số liệu, biểu đồ đặt ngoài bản
đồ. Những yếu tố này có nhiệm vụ hỗ trợ đọc bản đồ, giải thích thêm nội dung
biểu hiện trên bản đồ.
*) Hiểu bản đồ
- Hiểu mỗi nội dung địa lí được lựa chọn một phương pháp biểu hiện bản đồ cụ
thể, nghĩa là hiểu đằng sau các kí hiệu, đường nét, màu sắc, chữ viết…nói lên
điều gì.
- Hiểu các mối quan hệ địa lí trình bày trên bản đồ (tự nhiên-tự nhiên, nhiên
nhiên -kinh tế, tự nhiên-xã hội…)
- Những kí hiệu điểm, đường, diện. Ví dụ: kí hiệu hình học, kí hiệu biểu đồ, kí
hiệu cây, con, kí hiệu biểu hiện bằng nền màu, kẻ vạch,…nằm trong phương
pháp biểu hiện bản đồ nào, nó biểu hiện quy luật phân bố hiện tượng địa lí nào.
-Xác định mối quan hệ giữa các đối tượng có trên bản đồ tự nhiên, công nghiệp,
nông nghiệp, du lịch, môi trường,…
*) Sử dụng bản đồ
Sử dụng bản đồ là sử dụng ngôn ngữ bản đồ giải quyết các nhiệm vụ:
- Mô tả lãnh thổ địa lí, đo tính trên bản đồ tìm cứ liệu khoa học, viết báo cáo
- Tìm nguyên nhân, lí giải sự phân bố, sự phát triển của các hiện tượng.
- Xác lập các mối quan hệ địa lí trên một bản đồ, trên xêri bản đồ hoặc Atlát để
hiểu các quy luật địa lí.
- So sánh, phân tích, tổng hợp các hiện tượng, các mối quan hệ địa lí để phát
hiện các quy luật địa lí tự nhiên, kinh tế, xã hội.
- Chồng xếp bản đồ, xác định các vùng địa lí tổng hợp.
a) Kĩ năng khai thác kiến thức lí thuyết trong Atlats địa lí Việt Nam.
D. Sơn La.
Dựa vào Atlat Địa lí Việt Nam trang 4 -5, tỉnh nào nước ta tiếp giáp cả Lào và
Cam pu chia?
A. Quảng Nam
B. Kon Tum
C. Pleiku
D. Đắc Lắk
Bản đồ Hình thể (trang 6, 7)
Trên bản đồ hình thể, các nội dung được tập trung thể hiện là những nét khái
quát về hình thể lãnh thổ Việt Nam:
Với phần lãnh thổ, đất liền nằm trong hệ tọa độ địa lí: điểm cực Bắc ở vĩ độ
23023’B tại xã Lũng Cú, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang; điểm cực Nam ở vĩ
độ 8037’B tại xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau; điểm cực Tây ở kinh
độ 102010’Đ tại xã Sín Thầu, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên và điểm cực
Đông nằm ở kinh độ 109024’Đ tại xã Vạn Thạnh, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh
Hòa. Trên vùng biển, hệ tọa độ địa lí của nước ta còn kéo dài tới khoảng vĩ độ
6050’B và từ khoảng kinh độ 1010Đ đến trên 117020’Đ tại Biển Đông.
Lãnh thổ Việt Nam là một khối thống nhất và toàn vẹn bao gồm vùng đất, vùng
biển và vùng trời.
- Vùng đất: Vùng đất là toàn bộ phần đất liền và các hải đảo ở nước ta với tổng
diện tích là 331. 212 km 2 (Niên giám Thống kê 2006). Nước ta có hơn 4600 km
đường biên giới trên đất liền, trong đó đường biên giới Việt Nam – Trung Quốc
dài hơn 1400km, đường biên giới Việt Nam – Lào dài gần 2100 km và đương
biên giới Việt Nam – Campuchia dài hơn 1100 km. Đường bờ biển nước ta
cong như hình chữ S, dài 3260 km, chạy từ Móng Cái (Quảng Ninh) đến Hà
Tiên (Kiên Giang). Đường bờ biển chạy dài theo đất nước đã tạo điều kiện cho
28 trong số 63 tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương ở nước ta có điều kiện
7
A. Tam Điệp B. Hoành Sơn
C. Bạch Mã
D. Sông Thu Bồn
Câu 8: Dựa vào Atlat Địa lí Việt Nam trang 6 -7, sông Hồng đổ ra biển thông
qua của biển nào?
A. cửa Nam Triệu
B. cửa Thái Bình
C. cửa Ba Lạt D. cửa Đáy
Bản đồ Địa chất khoáng sản (trang 8)
- Nội dung của bản đồ là thể hiện các thành tạo địa chất bao gồm: các loại đá
theo tuổi, các đứt gãy kiến tạo, các thể xâm nhập macma, điều kiện địa chất
8
- Các loại đá theo tuổi dựa theo thang địa tầng phản ánh tính liên tục của các
giai đoạn phát triển lớp vỏ Trái Đất của nước ta.
- Các mỏ khoáng sản trên bản đồ được thể hiện bằng phương pháp kí hiệu với
các kí hiệu có hình dạng khác nhau, màu sắc khác nhau và kí hiệu chữ khác
nhau. Các mỏ khoáng sản được phân loại theo ba nhóm chính: năng lượng, kim
loại và các nhóm phi kim loại. Các mỏ chỉ được thể hiện sự phân bố mà không
thể hiện trữ lượng.
Ví dụ:
Bản đồ Khí hậu (trang 9)
Bản đồ khí hậu trong tập Atlat Địa lí Việt Nam được thiết kế với 7 bản đồ có
thể sử dụng phối hợp với nhau.
- Trên bản đồ khí hậu chung thể hiện các yếu tố khí tượng và các miền khí hậu.
Miền khí hậu được kí hiệu bằng phương pháp nền chất lượng. Mỗi miền khí hậu
gắn với một màu với ba đặc điểm khác nhau:
+ Miền khí hậu phía Bắc có ranh giới phía Nam là dãy Hoành Sơn (18 0B) có
mùa đông lạnh, tương đối ít mưa, nửa cuối mùa đông ẩm ướt, mùa hè nóng và
B. Bắc Trung Bộ C. Nam Trung Bộ
D. miền Nam
Bản đồ Các hệ thống sông (trang 10)
- Mạng lưới sông ngòi.
- Đặc điểm chính của sông ngòi: mật độ dòng chảy, tính chất song ngòi (hình
dạng, ghềnh thác, độ uốn khúc, hướng dòng chảy, độ dốc lòng sông…), chế độ
nước, môđun lưu lượng (lít/s/km2), hàm lượng phù sa.
- Các sông lớn trên lãnh thổ (nơi bắt nguồn, nơi chảy qua, hướng chảy, chiều
dài, các phụ lưu, chi lưu, diện tích lưu vực, độ dốc lòng sông, nham gốc chảy
qua, chế độ nước, hàm lượng phù sa).
- Giá trị kinh tế (giao thông, thủy lợi, thủy sản, công nghiệp…). Các vấn đề khai
thác, cải tạo, bảo vệ sông ngòi.
Ví dụ:
Dựa vào Atlat trang 10, hệ thống sông nào có lưu vực lớn nhất cả nước?
A. sông Hồng.
B. sông Mê công.
C. s. Đồng Nai.
D. s. Cả.
Dựa vào Atlat trang 10, lưu lượng nước sông Cửu Long (tại trạm Mỹ Thuận)
đạt đỉnh vào tháng mấy?
A. I.
B. VIII.
C. VIIII.
- Động vật: các loại động vật hoang dã và giá trị của chúng, các vườn quốc gia
(khu bảo tồn thiên nhiên hoặc khu dự trữ sinh quyển…), mức độ khai thác và
các biện pháp bảo vệ.
Bản đồ Các miền tự nhiên (trang 13 và trang 14)
Các miền tự nhiên được biểu hiện trên bản đồ là: miền Bắc và Đông Bắc Bộ,
miền Tây bắc và Bắc Trung bộ, miền Nam Trung Bộ và Nam Bộ.
Nội dung được thể hiện trong bản đồ các miền tự nhiên là địa hình (bao gồm
các yếu tố: hướng, độ cao) và yếu tố có liên quan chặt chẽ với địa hình là sông
ngòi. Địa hình trên bản đồ được thể hiện bằng phương pháp đường bình độ kết
hợp với phương pháp phân tầng độ cao nhằm làm nổi bật sự khác nhau của các
miền địa hình. Trên bản đồ còn thể hiện rõ phần bờ biển, phần thềm lục địa và
các đảo, quần đảo ven bờ thuộc các miền tự nhiên này. Ngoài ra trên bản đồ các
miền tự nhiên còn thể hiện các ngọn núi bằng phương pháp điểm độ cao với các
kí hiệu hình tam giác và trị số độ cao bên cạnh.
Ví dụ:
Dựa vào Atlat Địa lí Việt Nam trang 13, hướng cánh cung không phải là hướng
của dãy núi nào ?
A. Sông Gâm
B. Ngân Sơn
C. Tam Điệp
D. Bắc Sơn.
Dựa vào Atlat Địa lí Việt Nam trang14, trong hệ thống các cao nguyên badan
xếp tầng ở Tây Nguyên, cao nguyên nào có độ cao trung bình cao nhất ?
A. CN Kon tum
B. Pleiku
Bản đồ Nông nghiệp chung (trang 18)
Nội dung trên bản đồ thể hiện bao gồm các yếu tố hiện trạng sử dụng đất, các
vùng nông nghiệp, các cây trồng và vật nuôi chính; cùng các biểu đồ phụ thể
hiện giá trị sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản.
- Hiện trạng sử dụng đất trên bản đồ nông nghiệp chung được thể một cách khá
nổi bật thông qua phương pháp vùng phân bố với nền màu khác nhau. Mỗi nền
màu thể hiện một loại đất khác nhau bao gồm đất trồng cây lương thực, thực
phẩm và cây công nghiệp hàng năm; đất trồng cây công nghiệp lâu năm; đất lâm
nghiệp có rừng; mặt nước nuôi trồng thủy sản; đất nông lâm kết hợp.
- Cây trồng vật nuôi được thể hiện trực quan bằng phương pháp vùng phân bố
với các kí hiệu cây con được khái quát hoá cao theo 7 vùng.
- Bảy vùng nông nghiệp có ranh giới xác định với kí hiệu chữ số La-mã lần
lượt từ I đến VII bao gồm: I – Trung du và miền núi Bắc Bộ; II – Đồng bằng
sông Hồng; III – Bắc Trung Bộ; IV – Duyên hải Nam Trung Bộ; V – Tây
Nguyên; VI – Đông Nam Bộ; VII – Đồng bằng sông Cửu Long.
Bản đồ Một số phân ngành nông nghiệp (trang 19)
Nội dung thể hiện trên các bản đồ một số phân ngành nông nghiệp trang 14
đề cập tới hai nhóm ngành chính là trồng trọt (lúa, hoa màu và cây công nghiệp)
và chăn nuôi.
- Bản đồ lúa thể hiện các nội dung về diện tích và sản lượng lúa của các tỉnh,
diện tích trồng lúa so với diện tích trồng cây lương thực. Diện tích và sản lượng
lúa của các tỉnh được thể hiện bằng phương pháp bản đồ - biểu đồ với biểu đồ
cột. Trong đó, biểu đồ cột màu xanh thể hiện diện tích, mỗi milimét tương ứng
với 50.000 ha; cột màu cam thể hiện sản lượng lúa, mỗi milimét tương ứng với
1000.000 tấn. Thông qua đó có thể tích được diện tích và sản lượng lúa của từng
tỉnh. Diện tích trồng lúa so với diện tích cây lương thực được thể hiện bằng
phương pháp đồ giải. Từ bản đồ này có thể nhận định được các vùng trọng điểm
12
các tỉnh, sản lượng thuỷ sản đánh bắt và nuôi trồng của các tỉnh và thành phố,
các bãi cá tôm và sản lượng thuỷ sản của cả nước qua các năm.
- Tỉ lệ diện tích rừng so với diện tích toàn tỉnh được thể hiện bằng phương pháp
đồ giải với 4 cấp độ màu khác nhau tính theo đơn vị %. Màu càng đậm tỉ lệ diện
tích càng cao. Giá trị sản xuất lâm nghiệp của các tỉnh và thành phố được thể
hiện bằng phương pháp bản đồ - biểu đồ với các thang quy ước từ dưới 25 tỉ
đồng đến trên 200 tỉ đồng.
- Sản lượng thuỷ sản đánh bắt và nuôi trồng được thể hiện bằng phương pháp
bản đồ - biểu đồ với biểu đồ cột. Cột cột màu xanh thể hiện sản lượng thuỷ sản
13
nuôi trồng, cột màu đỏ là sản lượng thuỷ sản đánh bắt. Dựa vào các đơn vị quy
ước, có thể tính được giá trị sản lượng đánh bắt của từng tỉnh (với quy ước 1mm
chiều cao ứng với 2000 tấn) . Trên bản đồ này sản lượng thuỷ sản đánh bắt và
nuôi trồng của các tỉnh, thành phố quá chênh lệch nên ở một số địa phương sản
lượng không thể hiện theo đúng tỉ lệ mà có sự phi tỉ lệ hoặc ngắt quãng với giá
trị được biểu hiện trên đầu cột. Các bãi cá, bãi tôm được biểu hiện bằng phương
pháp vùng phân bố.
Bản đồ Công nghiệp chung (trang 21)
Nội dung chủ yếu của trang bản đồ thể hiện những đặc điểm chung của công
nghiệp Việt Nam và sự phân hoá lãnh thổ công nghiệp.
- Các trung tâm công nghiệp, các điểm công nghiệp theo giá trị sản xuất được biểu
hiện bằng phương pháp kí hiệu, phương pháp này cho phép định vị chính xác vị
trí địa lí của các trung tâm và điểm công nghiệp, đồng thời thể hiện được cả quy
mô và cơ cấu ngành của từng trung tâm công nghiệp. Quy mô của các trung tâm
công nghiệp được tính theo giá trị sản xuất thông qua bốn bậc quy ước dưới 9
nghìn tỉ đồng, 9– 40 nghìn tỉ đồng; 40 – 120 nghìn tỉ đồng; và trên 120 nghìn tỉ
đồng. Trong các vòng tròn còn có kí hiệu các ngành công nghiệp được biểu hiện
bằng các kí hiệu hình học và kí hiệu trực quan. Thông qua các bậc và kí hiệu
nhằm thể hiện rõ thêm sự phát triển của ngành công nghiệp năng lượng Việt
Nam.
- Bản đồ công nghiệp luyện kim, cơ khí, điện tử - tin học, hoá chất thể hiện quy
mô giá trị sản xuất công nghiệp của ngành. Quy mô giá trị sản xuất. Các ngành
công nghiệp trong mỗi trung tâm được thể hiện bằng phương pháp kí hiệu trực
quan.
- Bản đồ công nghiệp hàng tiêu dùng, công nghiệp thực phẩm thể hiện các
trung tâm công nghiệp của ngành theo quy mô giá trị sản xuất. Các ngành công
nghiệp trên bản đồ được biểu diễn bằng các kí hiệu trực quan.
Bản đồ Giao thông (trang 23)
Nội dung chủ yếu của bản đồ thể hiện các loại hình giao thông ở nước ta bao
gồm đường sắt, đường bộ, đường biển, đường hàng không... và các công trình
phục vụ giao thông như sân bay, bến cảng... Các loại hình giao thông được thể
hiện trên bản đồ theo phương pháp kí hiệu dạng đường (tuyến); còn các sân bay,
bến cảng được thể hiện theo phương pháp kí hiệu.
Thông qua bản đồ này, có thể thấy rằng ngành giao thông ở nước ta phát triển khá
toàn diện, với nhiều tuyến đường huyết mạch trên phạm vi cả nước như: Quốc lộ
1Achạy suốt từ cửa khẩu Hữu nghị quan (Lạng Sơn) đến Năm Căn (Cà Mau) dài
2300 km, là tuyến đường xương sống của cả hệ thống đường bộ nước ta, nối các
vùng kinh tế (trừ Tây Nguyên) và hầu hết các trung tâm kinh tế lớn của nước ta;
đường Hồ Chí Minh, Đường sắt Thống Nhất (Hà Nội – TP Hồ Chí Minh) dài
1726 km, chạy theo chiều dài đất nước, gần như song song với Quốc lộ 1A, tạo
nên một trục giao thông quan trọng theo hướng Bắc – Nam. Ngoài ra còn có thể
khai thác về sự phân bố của các cảng biển và cụm cảng quan trọng như: Hải
Phòng, Cái Lân, Đà Nẵng – Liên Chiểu – Chân Mây, Dung Quất, Nha Trang, Sài
Gòn – Vũng Tàu; hoặc các sân bay có ý nghĩa quốc tế (sân bay Nội Bài, Tân
Sơn Nhất, Đà Nẵng...) và các sân bay nội địa (Điện Biên, Cát Bi, Vinh...)
Bản đồ Thương mại (trang 24)
Trang 19 có 2 bản đồ là bản đồ thương mại tỉ lệ 1:9.000.000 và bản đồ ngoại
thương, tỉ lệ 1:180.000.000.
D. Nhật Bản, Xingapo.
Bản đồ Du lịch (trang 25)
Nội dung của bản đồ thể hiện các tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn của
nước ta trên nền của bản đồ địa hình. Các trung tâm du lịch được thể hiện bằng
phương pháp kí hiệu với các vòng tròn có kích thước lớn thể hiện trung tâm du
lịch quốc gia (Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh); còn các trung tâm du
lịch vùng được biểu hiện bằng các vòng tròn có bán kính nhỏ hơn (Hải Phòng,
Hạ Long, Vinh, Nha Trang, Đà Lạt, Vũng Tàu, Cần Thơ...). Các tài nguyên du
lịch (tự nhiên và nhân văn) với tư cách là điểm du lịch được biểu hiện bằng
phương pháp kí hiệu tượng trưng. Ngoài ra, trên bản đồ còn có các biểu đồ thể
hiện số lượng khách và doanh thu từ du lịch, cơ cấu nguồn khách du lịch quốc tế
nhằm làm rõ hơn thực trạng hoạt động của ngành du lịch nước ta.
Bản đồ Các vùng kinh tế (trang 26, 27, 28, 29)
Từ trang 26 đến trang 29, Atlat thể hiện bảy vùng kinh tế của nước ta với tỉ lệ
thống nhất là: 1:3.000.000. Cụ thể là:
- Trang 26: 2 vùng (Trung du và miền núi Bắc Bộ, Đồng bằng sông Hồng);
- Trang 27: 1 vùng (Bắc Trung Bộ);
- Trang 28: 2 vùng (Duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên);
- Trang 29: 2 vùng (Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long).
Đối với mỗi vùng đều có hai bản đồ: tự nhiên và kinh tế (năm 2007). Bản đồ tự
nhiên thể hiện các thành phần của tự nhiên trong đó chủ yếu là địa hình, thủy
văn, sinh vật (các bãi cá) và khoáng sản. Bản đồ kinh tế (năm 2007) phản ánh
hiện trạng sử dụng đất (nền bản đồ) và các ngành kinh tế chủ yếu. Ngoài ra còn
có nội dung phụ (biểu đồ tròn) thể hiện GDP của mỗi vùng so với cả nước ở thời
điểm năm 2007.
16
Bản đồ Các vùng kinh tế trọng điểm (trang 30)
phải tính toán (mặc dù đề bài có thể không yêu cầu tính toán). Tuy nhiên, một số
bài tập, có yêu cầu phải tính toán trước khi nhận xét.
Tái hiện các kiến thức cơ bản đã học có liên quan đến yêu cầu của câu
hỏi và đến các số liệu đã cho.
- Việc phân tích và nhận xét bảng số liệu, thông thường được tiến hành
như sau:
17
Phát hiện các mối liên hệ giữa số liệu theo cột dọc và hàng ngang, chú ý
đến các giá trị nổi bật như giá trị lớn nhất, nhỏ nhất, giá trị trung bình, những
điểm đột biến (tăng, giảm đột ngột). Chú ý so sánh, đối chiếu cả giá trị tuyệt đối
lẫn tương đối.
Chú ý phân tích khái quát trước, sau đó mới đi sâu vào các thành phần
(hoặc yếu tố) cụ thể.
Khi nhận xét nên theo trình tự từ khái quát đến cụ thể, từ chung đến
riêng, từ cao xuống thấp,... bám sát các yêu cầu của câu hỏi và kết quả xử lí số
liệu.
Ví dụ:
Dựa vào Atlat Địa lí Việt Nam trang 20, tỉ lệ sản lượng thủy sản khai thác và
nuôi trồng năm 2007 tương ứng là (%)
A. 49, 4 và 50,6
B. 56,3 và 43,7
C. 50,6 và 49,4
D. 97,7 và 2,3.
- Đọc lát cắt: Trên bản đồ các miền tự nhiên, các lát cắt thể hiện các hướng
cắt địa hình, độ cao cũng như các dạng địa hình đặc trưng của từng miền.
Ví dụ:
Dựa vào Atlat Địa lí Việt Nam trang 14, theo lát cắt A – B, địa hình thấp dần
theo chiều nào ?
A. Tây bắc – Đông nam
B. Đông bắc – Tây nam
C. Đông nam – Tây bắc
D. Tây nam – Đông bắc
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
Sau khi áp dụng phương pháp này, tôi đã thu được kết quả như sau: Kì thi
THPTQG năm học 2017 – 2018: 100 % học sinh hai lớp tôi dạy không có điểm
liệt và còn đạt kết quả khá cao so với các môn còn lại, kết quả cụ thể như sau:
Bảng 1. Kết quả điểm môn Địa lí của học sinh trong kì thi THPTQG năm
học 2017- 2018.
Kĩ năng
Điểm khá, giỏi
Điểm trung
Điểm yếu
Lớp ( SS)
bình
HS
%
HS
%
HS
- Học sinh có hứng thú hơn trong học tập, hăng say, chủ động làm bài tập hơn,
Từ chỗ không
- Kiến thức được khắc sâu, khả năng ghi nhớ được lâu hơn, tự tin, chủ động
khi làm việc với Atlat.
19
3.2. Kiến nghị
Với các cấp giáo dục cần quan tâm hơn nữa đến việc cung cấp tài liệu
hướng dẫn ôn thi cho học sinh có hướng dẫn cách học, cách làm bài, nhất là rèn
luyện kĩ năng địa lí. Bộ giáo dục cần xuất bản những tài liệu hướng dẫn các kĩ
năng thực hành trong đó có kĩ năng sử dụng Atlat. Đầu tư cho cơ sở vật chất
trường học nhất là các trường vùng sâu, vùng xa.
Thanh Hóa, ngày 18 tháng 05 năm 2019
XÁC NHẬN CỦA
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác.
Người viết
Lê Thị Hà
20
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] . Atlat Địa lí Việt Nam
[2] . Sách giáo khoa Địa Lí 12
Cấp Ngành
C
2.
Cấp Ngành
C
Năm học
đánh giá xếp
loại
22