Thực hiện chính sách bảo tồn di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn (LV thạc sĩ) - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HOÀNG THANH TÙNG

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN DI SẢN
VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LẠNG SƠN

Ngành: Chính sách công
Mã số: 8340402

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS VÕ QUANG TRỌNG

HÀ NỘI, 2019


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng:
Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung
thực và chưa từng được sử dụng hoặc công bố trong bất kỳ công trình nào
khác.
Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn và các
thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc.
Nếu không đúng như đã nêu trên, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về
đề tài của mình.
Người cam đoan

Hoàng Thanh Tùng

KẾT LUẬN .................................................................................................... 74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 77
PHỤ LỤC ....................................................................................................... 81


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DSVH

Di sản văn hóa

HĐND

Hội đồng nhân dân

NXB

Nhà xuất bản

NVH

Nhà văn hóa

UBND

Ủy ban nhân dân


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài

trị DSVH của địa phương.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Việc triển khai thực hiện chính sách bảo tồn DSVH trên địa bàn tỉnh
Lạng Sơn đã được nghiên cứu trong môt số công trình, bài viết hoặc đề án xếp
hạng di tích. Các công trình cụ thể như sau:
Những công trình nghiên cứu liên quan đến bảo tồn di sản văn hóa:
Bộ Văn hoá - Thông tin (2006), “Một con đường tiếp cận di sản văn
hoá”, đã tập hợp nhiều bài nghiên cứu về lý luận DSVH cũng như thực tiễn,
có thể làm tư liệu nghiên cứu tốt cho đề tài. Trong đó tiêu biểu nhất là các bài:
“Khảo cổ học với công tác bảo vệ và phát huy di sản văn hoá” (Vũ Quốc
Hiền), “Bảo tồn di tích, nhân tố quan trọng của phát triển bền vững” (Lê
Thành Vinh); “Di tích lịch sử và văn hoá đồng bằng sông Hồng” (Đặng văn
Bài); “Bảo tồn, tôn tạo và xây dựng khu di tích lịch sử - văn hoá Đường Lâm”
(Phan Huy Lê).
Tác giả Lã Đăng Bật (2010), cuốn sách “Việt Nam - DSVH Cố Đô Hoa
Lư”. Cố đô Hoa Lư - đất cũ người xưa, sách giới thiệu về kinh đô Hoa Lư xưa
và sự nghiệp của các anh hùng thuộc ba triều đại nhà Đinh, Tiền Lê và nhà Lý
tính từ Đinh Tiên Hoàng đến Lý Thái Tổ. Sách được trình bày rõ ràng và
minh hoạ hình ảnh đẹp giúp truyền đạt một bề dày lịch sử ở Hoa Lư theo cách
gãy gọn, dễ hiểu nhưng vẫn sâu sắc và đầy đủ.
Tác giả Vũ Trường Thành (2014), với luận văn “Bảo tồn DSVH gắn
với phát triển kinh tế du lịch trên địa bàn tỉnh Phú Thọ”, làm rõ mối quan hệ
hữu cơ giữa bảo tồn các DSVH và việc khai thác phục vụ mục đích phát triển
2


kinh tế du lịch. Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của công tác bảo tồn DSVH
gắn với phát triển kinh tế du lịch; Đánh giá thực trạng về tình hình bảo tồn
DSVH gắn với phát triển kinh tế du lịch trên địa bàn tỉnh Phú Thọ; Đề xuất
các nhiệm vụ, giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị DSVH nhằm phát triển

phát huy giá trị di sản văn hóa từ thực tiễn quận Thanh Xuân, thành phố Hà
Nội, luận văn Thạc sĩ Chính sách công, Học viện Khoa học xã hội Việt Nam.
Đề tài tập trung nghiên cứu hoạt động triển khai chính sách bảo tồn và phát
huy giá trị DSVH trên địa bàn quận Thanh Xuân thông qua việc hệ thống hóa
các vấn đề lý luận, nghiên cứu các hoạt động quản lý nhà nước đối với các di
tích văn hóa của UBND quận Thanh Xuân, qua đó đề xuất các giải pháp hoàn
thiện việc thực hiện chính sách nêu trên.
Cuốn Một số vấn đề về du lịch Việt Nam của Đinh Trung Kiên, đã đi
sâu phân tích cụ thể những giá trị của di sản văn hóa truyền thống Việt Nam
trong phát triển du lịch nhƣ: Sức hấp dẫn khách du lịch từ các giá trị văn hóa
của lễ hội, làng nghề truyền thống; Hoạt động lữ hành với việc khai thác và
bảo tồn di sản văn hoá.
Trên Tạp chí Cộng sản số 20, năm 2003, PGS, TS. Nguyễn Văn Huy đã
có nhiều cố gắng nghiên cứu Một số vấn đề bảo tồn và phát huy những di sản
văn hoá các dân tộc hiện nay. Tác giả bài báo đã đề cập đến những vấn đề lý
luận và thực tiễn của công tác bảo tồn phát huy DSVH trên phạm vi cả nước.
Bên cạnh đó, tác giả tìm đọc các tài liệu như: Đề tài “Nghiên cứu bảo
tồn giá trị tín ngưỡng dân gian trong các di tích lịch sử văn hóa vùng cao
Mẫu Sơn” của tác giả Bế Cao Chuyển. Đề tài “Nghiên cứu đề xuất giải pháp
thích hợp để bảo tồn, phát huy dân ca các dân tộc tỉnh Lạng Sơn trong thời kỳ
hội nhập và phát triển” của Hội Bảo tồn dân ca các dân tộc tỉnh Lạng Sơn;
Đề án Bảo tồn tiếng nói, chữ viết, trang phục của đồng bào các dân tộc thiểu

4


số tỉnh Lạng Sơn; DSVH múa sư tử Tày, Nùng Lạng Sơn. Đề án Phục dựng
các lễ hội truyền thống: Lồng tồng Bản Chu, xã Hưng Đạo, huyện Bình Gia;
Lễ hội tình yêu huyện Tràng Định; lễ hội Ná nhèm huyện Bắc Sơn; lễ hội đền
Kỳ Cùng - tả phủ, thành phố Lạng Sơn. Dự án Bảo tồn DSVH phi vật thể: Hát

4.1. Đối tượng nghiên cứu: Việc thực hiện chính sách bảo tồn DSVH
trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn.
4.2. Phạm vi nghiên cứu: Việc tổ chức thực hiện chính sách bảo tồn
DSVH trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn. Trọng tâm là giai đoạn 2011 - 2017 (Lạng
Sơn thực hiện Đề tài bảo tồn DSVH).
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Trong quá trình nghiên cứu luận văn đã sử dụng phương pháp luận của
chủ nghĩa duy vật biện chứng, tư tưởng Hồ Chí Minh và các chủ trương,
chính sách của Đảng và Nhà nước về thực hiện chính sách bảo tồn DSVH,
những lý luận của khoa học chính sách công cũng như cơ sở thực tiễn về
chính sách bảo tồn DSVH.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập thông tin: Được sử dụng để thu thập và khai thác
thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan đến đề tài nghiên cứu, bao gồm các
văn kiện, tài liệu, nghị quyết, quyết định của Đảng, Nhà nước, bộ, ban, ngành
ở Trung ương và địa phương; các công trình nghiên cứu, các báo cáo, tài liệu
thống kê của chính quyền, ban, ngành, đoàn thể, các tổ chức, cá nhân liên
quan trực tiếp, gián tiếp tới vấn đề chính sách bảo tồn DSVH ở nước ta nói
chung và chính sách bảo tồn DSVH trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn nói riêng.
6


Phương pháp thống kê: Sử dụng nhiều các số liệu thống kê trong luận
văn, đó thực chất là việc liệt kê, tính toán đối tượng để có kết quả biểu thị
bằng con số nhằm làm nổi bật đối tượng nghiên cứu, cũng như sự cần thiết và
tính thực tiễn cao của đề tài nghiên cứu.
Phương pháp đánh giá chính sách công: Luận văn sử dụng và thực hiện
một số phương pháp nghiên cứu chính sách công theo chu trình chính sách so
sánh dựa trên kết quả thực tế, từ đó dự báo xu hướng phát triển đề ra chính

Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH CÔNG
VÀ CHÍNH SÁCH BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA
1.1. Lý luận về chính sách bảo tồn di sản văn hóa
1.1.1. Di sản văn hóa
Theo quan niệm của UNESCO, DSVH bao gồm hai loại:
DSVH vật thể:
Di sản “văn hóa vật thể” (tangible culture) được hiểu là những sản
phẩm văn hóa có thể “sờ thấy được”. DSVH vật thể luôn đứng trước nguy cơ
biến dạng hoặc thay đổi rất nhiều so với nguyên gốc. Theo đó: DSVH vật thể
được xem là những di tích của văn hóa còn sót lại, đó là những công trình
kiến trúc, di tích mà hiện tại vẫn còn tồn tại để chúng ta có thể nhìn thấy
được, sờ thấy được.
DSVH phi vật thể: Văn hóa phi vật thể là các sản phẩm tinh thần có giá
trị lịch sữ, văn hóa, khoa học được lưu giữu bằng trí nhớ, chữ viết và được lưu
truyền bằng miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu
truyền khác. Bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn hóa nghệ thuật, khoa
học, ngữ văn, truyền miệng diễn xướng, dân gian lối sống, nếp sống, lễ hội, bí
quyết về nghề thủ công, truyền thong tri thức về y, dược học cổ truyền, văn
hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những trí thức dân gian
khác.
1.1.2. Khái niệm chính sách công
Cuốn Từ điển Hán Việt dành cho học sinh đưa ra giải nghĩa phổ thông
về từ chính sách như sau: “Chính sách: Sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm
đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình

9


thực tế mà đề ra” [38, tr.112]. Tiếp cận dưới góc nhìn chính trị, Từ điển bách

giống như đóng vai trò chủ đạo đối với cách thức quản lý DSVH ở nhiều quốc
gia. Theo nhà nghiên cứu văn hóa Ashworth, quan điểm bảo tồn nguyên trạng
có những đặc điểm như sau [1, tr. 28]:
Về mục đích: Nguyên tắc là đơn giản, dễ hiểu và là một đòi hỏi về mặt
đạo đức; Mục đích tối tượng là bảo tồn toàn bộ những gì có thể bảo tồn được.
Về nguồn lực: Các nguồn di sản là căn cứ bất di bất dịch: các địa điểm
di tích có một căn cứ lịch sử nhất định của nó; Các sản phẩm được xác định
và tạo ra trên cơ sở nguồn gốc của di sản.
Về tiêu chí lựa chọn di sản: Tiêu chí lựa chọn phụ thuộc vào bản chất
của di sản (có ý nghĩa về lịch sử, vẻ đẹp kiến trúc…); Về nguyên tắc, tiêu chí
lựa chọn có thể quyết định một cách khách quan thông qua sự đồng thuận tập
thể; Tính chân thực của di sản là yếu tố quyết định tối cao của giá trị.
Về các sản phẩm thuyết minh cho di sản: Các địa điểm/đồ tạo tác được
bảo tồn có một thị trường và một ý nghĩa toàn cầu, ổn định và đơn nghĩa.
Về chiến lược bảo tồn: Có một sự mâu thuẫn cố hữu giữa bảo tồn và
phát triển; Những tác động của sự bảo tồn phản lại chức năng sẽ sinh ra
những vấn đề phát sinh thứ cấp; Tăng việc sử dụng các sản phẩm được bảo
tồn trong giai đoạn hiện thời phải phù hợp với công việc quản lý và nếu cần
thiết phải giới hạn nhu cầu.
Bảo tồn kế thừa: Các DSVH vật thể sẽ được bảo tồn trên tinh thần giữ
gìn những nét cơ bản của di tích, cố gắng phục chế lại nguyên trạng DSVH
vật thể bằng nhiều kỹ thuật công nghệ hiện đại. Đối với các DSVH phi vật
thể, bảo tồn trên cơ sở kế thừa là bảo tồn các hiện tượng văn hóa đó ngay
chính trong đời sống cộng đồng.
11


Quan điểm này cho rằng di sản ấy cần phải được phát huy giá trị phù
hợp với xã hội hiện nay, đồng thời phải loại bỏ những gì không phù hợp với
thời đại, không còn thích hợp với xã hội mới. Do vậy, bảo tồn kế thừa không

định số 581/QĐ-TTg ngày 06/5/2009 của thủ tướng Chính phủ): trong đó, coi
DSVH là nền tảng để hun đúc nên bản sắc văn hóa và hệ giá trị của văn hóa
dân tộc, là một nguồn lực cho phát triển; bảo tồn và phát huy DSVH là nhiệm
vụ then chốt.
Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2010 của Chính
phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật DSVH và Luật sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật DSVH.
Quyết định số 1211/2012/QĐ-TTg ngày 5 tháng 9 năm 2012 của Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt “Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa giai
đoan 2012 - 2015”.
Từ các hoạt động thực tiễn, các văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh
vực DSVH ngày càng hoàn thiện và chặt chẽ hơn, giúp các chính sách ngày
càng hoàn chỉnh, xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan nhà nước từ Trung
ương đến địa phương và góp phần thiết thực vào việc hoàn thiện chính sách
bảo tồn và phát huy giá trị các DSVH, phát huy tác dụng tích cực công tác
bảo tồn và phát huy giá trị các DSVH.
1.1.4. Quan niệm của Đảng và Nhà nước về chính sách bảo tồn và phát huy
giá trị văn hóa
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã nhận thức sâu sắc về vai
trò của di sản văn hóa trong phát triển kinh tế - xã hội. Di sản văn hóa được
coi là “cốt lõi của bản sắc dân tộc” bởi nó được coi là yếu tố cấu thành đặc
trưng của nền văn hóa. Việc đề cao vị trí của di sản văn hóa là đề cao những
13


thành quả lao động cũng như đời sống tinh thần của nhân dân trong suốt quá
trình lịch sử dựng nước và giữ nước. Hệ thống đình, chùa, lăng tẩm, thành
quách... không chỉ minh chứng cho sức lao động sáng tạo cần cù, mà còn cho
thấy khát vọng, ý chí và nghị lực của cha ông. Việc lưu giữ, tôn tạo các giá trị
di sản văn hóa không chỉ thể hiện đạo lí “uống nước nhớ nguồn”, mà còn góp

1.2.1. Thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa
Sau khi chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa được
hoạch định và các cơ quan quản lý nhà nước ban hành thì chính sách này cần
được thực thi trong cuộc sống. Các cơ quan quản lý nhà nước, trước hết là các
cơ quan quản lý DIVS là chủ thể hoạch định chính sách bảo tồn và phát huy
giá trị DSVH, cũng đồng thời là chủ thể tổ chức thực hiện chính sách bảo tồn
và phát huy giá trị DSVH.
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, khái niệm thực hiện chính
sách bảo tồn và phát huy giá trị DSVH được hiểu là quá trình tổ chức triển
khai các văn bản quản lý, chính sách bảo tồn và phát huy giá trị DSVH vào
thực tiễn thông qua 06 bước cơ bản của tổ chức thực hiện chính sách công.
Các bước thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị DSVH
Bước 1: Xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy
giá trị DSVH
Để đưa chính sách bảo tồn và phát huy giá trị DSVH vào thực tế cuộc
sống cần phải xây dựng Kế hoạch triển khai thực hiện chính sách bảo tồn và
phát huy giá trị DSVH một cách chi tiết, hiệu quả và phù hợp với thực tiễn
của từng ngành, từng địa phương. Hiệu quả thực hiện chính sách bảo tồn và
phát huy giá trị DSVH phụ thuộc rất nhiều vào những yêu cầu của kế hoạch
khi được xây dựng. Kế hoạch thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị

15


DSVH phải bám sát theo các yêu cầu và nội dung của Chương trình mục tiêu
quốc gia về bảo tồn và phát huy giá trị DSVH.
Bước 2: Phổ biến, tuyên truyền chính sách bảo tồn và phát huy giá trị
DSVH
Phổ biến, tuyên truyền thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị
DSVH của chủ thể thực hiện chính sách đề ra là một nội dung hoạt động quan

phát huy giá trị di sản văn hóa có những biến động cần được điều chỉnh cho
phù hợp với thực tiễn.
Bước 5: Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra thực hiện chính sách bảo tồn và
phát huy giá trị DSVH
Thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị DSVH diễn ra trên
phạm vi rộng lớn, với nhiều vùng văn hóa khác nhau của nhiều địa phương,
dân tộc khác nhau trên đất nước và với nhiều thành phần và đối tượng tham
gia. Để thực hiện tốt chính sách bảo tồn và phát huy giá trị DSVH cần phải
theo dõi, đôn đốc quá trình thực hiện chính sách. Bên cạnh đó, các cơ quan
chuyên môn, các cơ quan quản lý nhà nước cần phối hợp với nhau trong quá
trình kiểm tra thực hiện chính sách nhằm tìm ra những bất cập, hạn chế và
những yếu tố có thể làm gián đoạn quá trình thực hiện chính sách.
Bước 6. Tổng kết, đánh giá thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy
giá trị DSVH
Tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm thực hiện chính sách bảo tồn và
phát huy giá trị DSVH là nội dung, nhiệm vụ quan trọng cuối cùng nhưng
không thể tách rời quá trình thực hiện chính sách. Qua tổ chức, đánh giá, rút
ra những kiến nghị, đề xuất thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị
DSVH, nêu bậc những hạn chế, tồn tại và thiếu sót, đưa ra bài học kinh
17


nghiệm và phương hướng, giải pháp trong chỉ đạo, điều hành và chấp hành
chính sách bảo tồn và phát huy giá trị DSVH trong thời gian tới.
1.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá
trị di sản văn hóa
Trước hết, về nhận thức, tâm lý phổ biến của các vị lãnh đạo chính
quyền địa phương khi đề đạt nguyện vọng nâng cấp di tích của địa phương
mình lên hạng di tích quốc gia đặc biệt hoặc di sản thế giới, ngoài mong muốn
nhận được sự quan tâm đầu tư lớn của Chính phủ vào công tác bảo quản, tu

Thứ ba, về tổ chức bộ máy quản lý di sản, tuy mỗi di sản văn hóa đã có
một tổ chức quản lý riêng, song quy mô và cơ chế tổ chức của các cơ quan
giữa các di sản còn chưa thống nhất. Đội ngũ cán bộ chuyên môn nghiệp vụ ở
một số cơ quan quản lý di sản còn thiếu về số lượng và yếu về chất lượng,
nhất là trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam có nhiều di sản thế giới rất cần một
đội ngũ cán bộ thực sự có chuyên môn cao. Việc học tập chuyên môn, ngoại
ngữ của một số cán bộ, nhân viên thiếu bài bản, chỉ nhằm phục vụ những lợi
ích trước mắt, chứ không chú ý chuyên sâu, nâng cao thường xuyên để đáp
ứng những đòi hỏi chuyên môn cao của ngành. Sự thiếu đồng bộ trong tổ
chức và đội ngũ cán bộ ảnh hưởng rất rõ đến công tác bảo tồn và phát huy giá
trị di sản văn hóa cũng như tài nguyên du lịch. Sự chồng chéo về quản lý và
nhiệm vụ đã tạo nên những mâu thuẫn, gây bất lợi cho di sản cả trong công
tác bảo tồn di tích và phát triển du lịch. Chính vì thế, chất lượng công tác
quản lý di sản cũng còn rất khác nhau. Các di sản thế giới của nước ta được
ghi vào danh mục di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới rải ra trong nhiều
năm.
1.3. Một số kinh nghiệm về thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá
trị di sản văn hóa

19


1.3.1. Kinh nghiệm của Hàn Quốc: Xây dựng thương hiệu qua di sản quốc gia
Mỗi di sản đều được Chính phủ xác định là tài sản và báu vật của
quốc gia và địa phương. Chính phủ Hàn Quốc hiện đã và đang rất nỗ lực
nâng cao vị thế và hình ảnh của Hàn Quốc như một phần của “Sáng kiến xây
dựng thương hiệu quốc gia” thông qua việc phát huy các di sản vật thể và
phi vật thể.
Chính phủ Hàn Quốc luôn tổ chức định kỳ các sự kiện ở từng địa
phương nhằm xúc tiến chương trình nâng cao nhận thức của mọi tầng lớp xã

hữu được đảm bảo bằng một “Giấy chứng nhận” do Bộ trưởng Bộ Giáo dục
cấp. Bộ luật cũng quy định rõ, chính phủ và các cấp chính quyền địa phương
phải tôn trọng quyền của các chủ sở hữu và quyền sở hữu của những người
hữu quan.
Chính phủ Nhật Bản nghiêm cấm việc bán các tài sản văn hoá ra nước
ngoài dưới mọi hình thức. Nhà nước bỏ tiền mua lại các tài sản văn hoá quan
trọng, trợ cấp một phần kinh phí và phương tiện kỹ thuật cho việc bảo tồn tài
sản văn hoá thuộc tư nhân đối với các tài sản hữu hình. Nhà nước nắm giữ vai
trò điều tiết hoạt động bảo tồn và khai thác tài sản văn hoá trong tổng thể các
hoạt động chung của toàn xã hội. Do đó, các di sản văn hoá vật thể được giữ
gìn trong các dự án phát triển.
1.3.4. Chính sách văn hóa ở Trung Quốc
Bên cạnh việc hoàn thiện pháp chế về bảo vệ các DSVH lịch sử, thực
hiện phân cấp bảo vệ văn vật, nhà nước yêu cầu các cấp chính quyền đưa việc
bảo vệ văn vật vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, vào
quy hoạch xây dựng thành thị và nông thôn, vào ngân sách, vào cải cách thể
chế; đồng thời cũng nhấn mạnh nghĩa vụ bảo vệ của cộng đồng, huy động lực

21



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status