ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ GIẢM ĐAU TRONG CHUYỂN dạ của gây tê NGOÀI MÀNG CỨNG BẰNG ROPIVACAIN 0,1% PHỐI hợp với FENTANYL ở các NỒNG độ KHÁC NHAU - Pdf 55

B Y T
TRNG I HC Y H NI

O TRNG QUNH

ĐáNH GIá HIệU QUả GIảM ĐAU TRONG CHUYểN
Dạ
CủA GÂY TÊ NGOàI MàNG CứNG BằNG
ROPIVACAIN 0,1% PHốI HợP VớI FENTANYL ở CáC
NồNG Độ KHáC NHAU

CNG LUN VN BC S CHUYấN KHOA CP II


HÀ NỘI - 2017


B Y T
TRNG I HC Y H NI

O TRNG QUNH

ĐáNH GIá HIệU QUả GIảM ĐAU TRONG CHUYểN
Dạ
CủA GÂY TÊ NGOàI MàNG CứNG BằNG
ROPIVACAIN 0,1% PHốI HợP VớI FENTANYL ở CáC
NồNG Độ KHáC NHAU
Chuyờn ngnh : Gõy mờ hi sc
Mó s

: CK 62.72.33.01

1.3.4. Gây tê NMC giảm đau trong chuyển dạ đẻ.........................................................19
1.4. DƯỢC LÝ HỌC CỦA ROPIVACAIN VÀ FENTANYL.........................................22
1.4.1. Dược lý thuốc tê Ropivacain [30],[31],[32]........................................................22

Chương 2........................................................................................................29
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.................................29
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU...................................................................................29
2.1.1. Các tiêu chuẩn lựa chọn......................................................................................29
2.1.2. Các tiêu chuẩn loại trừ........................................................................................29
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.............................................................................30
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu.............................................................................................30
2.2.2. Cỡ mẫu................................................................................................................30
2.2.3. Phương tiện nghiên cứu......................................................................................30
2.2.4. Tiến hành nghiên cứu..........................................................................................32
2.3. CÁC BIẾN SỐ NGHIÊN CỨU VA KĨ THUẬT THU THẬP SỐ LIỆU..................36
2.3.1. Các biến số về đặc điểm của đối tượng nghiên cứu và kỹ thật gây tê NMC......36
2.3.2. Các biến số về hiệu quả của gây tê NMC...........................................................36


2.3.3. Các biến số đánh giá sự thay đổi về huyết động của sản phụ:............................36
2.3.4. Các thông số đánh giá về hô hấp.........................................................................37
2.3.5. Các thông số theo dõi về sản khoa......................................................................37
2.3.6. Các biến số về tác dụng không mong muốn và tai biến của gây tê NMC..........38
2.4. THỜI ĐIỂM ĐÁNH GIÁ..........................................................................................39
2.5. PHƯƠNG PHAP XỬ LI SỐ LIỆU...........................................................................40
2.6. ĐẠO ĐỨC NGHIÊN CỨU.......................................................................................40

Chương 3........................................................................................................41
DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.........................................................41
3.1. ĐẶC ĐIỂM CÁC ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU.....................................................41

Bảng 3.1. Tuổi, chiều cao, cân nặng và độ mở CTC khi gây tê...........................41
Bảng 3.2. Phân độ ASA giữa các nhóm nghiên cứu.............................................41
Bảng 3.3. Nghề nghiệp của sản phụ trong các nhóm nghiên cứu........................41
Bảng 3.4. Tuổi thai và trọng lượng thai................................................................42
Bảng 3.5. Tỷ lệ con so, con rạ giữa các nhóm nghiên cứu...................................43
Bảng 3.6. Vị trí gây tê trong các nhóm nghiên cứu..............................................43
Bảng 3.7. Thời gian khởi tê trung bình giữa các nhóm nghiên cứu.....................43
Bảng 3.8. Phân bố Thời gian khởi tê trong các nhóm nghiên cứu.......................44
Bảng 3.9. Thay đổi điểm VAS trong chuyển dạ...................................................44
Bảng 3.10. Tỷ lệ sản phụ có ít nhất một lần VAS > 4 trong chuyển dạ...............45
Bảng 3.13. Tỷ lệ sản phụ cần can thiệp................................................................45
Bảng 3.14. Số lần trung bình, thời gian giảm đau sau đẻ, và tổng liều thuốc giảm
đau........................................................................................................................45
Bảng 3.15. Sự hài lòng của sản phụ.....................................................................45
Bảng 3.16: Tỷ lệ ức chế vận động........................................................................46
Bảng 3.19. Cảm giác mót rặn...............................................................................47
Bảng 3.20. Khả năng rặn......................................................................................48
Bảng 3.23. Nguyên nhân chỉ định mổ..................................................................48
Bảng 3.24. Tỷ lệ forceps giữa ba nhóm nghiên cứu.............................................48
Bảng 3.25. Lý do sinh forcep...............................................................................48
Bảng 3.27. Thay đổi nhịp tim trong chuyển dạ (nhịp/phút).................................49
Bảng 3.28. Thay đổi huyết áp trung bình trong chuyển dạ (mmHg)...................50
Bảng 3.29. Thay đổi tần số thở trong chuyển dạ (nhịp/phút)...............................50
Bảng 3.30. Thay đổi SpO2 trong chuyển dạ (%).................................................50
Bảng 3.31. Mức độ phong bế vận động theo phân độ Bromage..........................51
Bảng 3.33. Thay đổi tim thai trong chuyển dạ (nhịp/phút)..................................52
Bảng 3.34. Tỷ lệ chậm nhịp tim thai sau gây tê...................................................53
Bảng 3.35: Chỉ số Apgar < 7 ở phút 1..................................................................53
Bảng 3.36: Chỉ số Apgar < 7 ở phút 5..................................................................54
Bảng 3.37. Chỉ số Apga trung bình ở phút thứ nhất và phút thứ 5.......................54

phụ thuộc nhiều yếu tố như nồng độ thuốc, loại thuốc, cách phối hợp thuốc,
phương thức cho thuốc.


2

Ropivacain là một thuốc tê mới được nhập về việt nam với các đặc tính
ít độc với tim mạch và ít ức chế vận động, được cho là loại thuốc phù hợp cho
gây tê NMC giảm đau trong chuyển dạ đẻ [6],[7].
Phối hợp Fentanyl trong dung dịch thuốc tê để giảm đau ngoài màng
cứng trong chuyển dạ làm giảm thời gian chờ tác dụng của thuốc, kéo dài thời
gian giảm đau, cải thiện chất lượng giảm đau và làm giảm tổng liều thuốc tê.
Việc xác định nồng độ của Fentanyl khi phối hợp với thuốc tê để phát huy tối
đa tác dụng và hạn chế các tác dụng không mong muốn của nhóm thuốc
opioid luôn là vấn đề quan tâm của các bác sỹ gây mê.[34]
Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Đánh giá hiệu quả giảm đau
trong chuyển dạ của gây tê ngoài màng cứng bằng Ropivacain 0,1% phối
hợp với Fentanyl ở các nồng độ khác nhau” nhằm mục đích:
1. Đánh giá hiệu quả giảm đau trong chuyển dạ của gây tê ngoài màng
cứng bằng Ropivacain nồng độ 0,1 % phối hợp với Fentanyl các
nồng độ 0,5 µg/ ml, 1 µg/ ml, 2 µg/ ml.
2. So sánh ảnh hưởng trên quá trình chuyển dạ và các tác dụng không
mong muốn của các nồng độ thuốc tê trên sản phụ và trẻ sơ sinh.


3

Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. SINH LÝ CHUYỂN DẠ ĐẺ

đau nhiều hoặc đau rất nhiều.
- Giai đoạn III: Giai đoạn sổ rau, được tính từ khi sổ thai đến khi rau sổ
ra ngoài, giai đoạn này thường < 30 phút và không gây đau.
1.1.2. Cơn co tử cung
Trong quá trình mang thai, cho đến tuần thứ 30, tử cung hầu như
không co bóp. Từ tuần 31 đến tuần 37 có thể có những cơn co thưa, nhẹ với
áp lực 3-5mmHg và dưới 1cơn /giờ. Những cơn co này không gây đau.
- Khi chuyển dạ, cơn co tử cung mạnh dần, điểm khởi phát của cơn
co nằm ở một trong hai sừng tử cung. Cơn co tử cung có tính chất chu kỳ
và đều đặn, sau một cơn co là khoảng thời gian nghỉ, rồi lại tiếp tục với
một chu kỳ khác.
- Cường độ cơn co: Là áp lực buồng tử cung được tính bằng mmHg. Áp
lực này khi mới chuyển dạ từ 30 - 35 mmHg và tăng dần, cuối giai đoạn I đạt
đến 60 - 70 mmHg và trong giai đoạn sổ thai có thể lên đến 90 - 100mmHg.
Ngoài cơn co tử cung vẫn duy trì một áp lực nền vào khoảng 10-20 mmHg
gọi là trương lực cơ bản.
- Tần số cơn co: là số cơn co trong 10 phút. Nó tăng dần lên trong quá
trình chuyển dạ. Khi mới chuyển dạ 10 - 15 phút mới có một cơn co, sau đó
khoảng cách giữa các cơn co ngắn lại. Khi cổ tử cung mở hết cứ 2 phút có
một cơn co (tần số 4 - 5).
- Theo dõi tần số và cường độ cơn co tử cung giúp cho việc đánh giá và
tiên lượng cuộc đẻ, đảm bảo an toàn cho mẹ và con. Ngày nay việc theo dõi
này được thực hiện nhờ monitor sản khoa.


5

- Cơn co tử cung gây đau, ngưỡng đau tuỳ thuộc từng thai phụ. Khi cơn
co đạt tới áp lực 25-30 mmHg thai phụ cảm thấy đau, cơn đau xuất hiện sau
cơn co tử cung và mất đi trước cơn co tử cung.

làm tăng cảm giác đau, tăng tốc độ dẫn truyền đau dưới sự kiểm soát của hệ
thần kinh tự động.
Đau là một cung phản xạ hoàn chỉnh không điều kiện bao gồm cơ quan thụ
cảm, đường truyền về, cơ quan phân tích, đường truyền ra và cơ quan đáp ứng.
- Thụ thể và sợi thần kinh hướng tâm:
+ Thụ thể cơ học.
+ Thụ thể cơ nhiệt.
+ Thụ thể đa năng C.
- Các sợi dẫn truyền thần kinh:
+ Sợi dẫn truyền nhanh (Aα Aβ)
+ Sợi dẫn truyền trung bình (Aδ: dẫn truyền những thông tin đau chủ
yếu là loại cơ học và nhiệt độ.
+ Sợi dẫn truyền chậm (C): dẫn truyền đau chậm.
- Dẫn truyền hướng tâm tiên phát
+ Các sợi nhỏ (Aδ, C).
+ Các sợi lớn (Aα, Aβ): Đóng một vai trò chủ yếu trong kiểm soát đau
- Sừng sau tủy sống: Kiểm soát đau bằng cách “kiểm soát cổng” (gate
control) bởi các sợi lớn (Aα Aβ), chúng có tác dụng chặn các thông tin đau
của các sợi (Aδ, C), kiểm soát bằng con đường xuống (từ não xuống tủy).
1.2.1.2. Lượng giá đau.
Đau là cảm giác chủ quan, nó bị chi phối bởi rất nhiều yếu tố như loại
tổn thương, mức độ tổn thương, trạng thái thể chất tâm lí nên nó khác nhau trên
từng cá thể vì vậy phương pháp lượng giá tốt nhất là để bệnh nhân tự đánh giá
mức đau của mình dựa theo một thang bảng thống nhất. Việc quan sát các biểu
hiện của đau và lượng giá đau thông qua các dấu hiệu sống như mạch, nhịp thở
hay huyết áp là những biện pháp không khách quan và không đáng tin cậy.


7



sự kích thích các sợi giao cảm này gây co thắt cổ tử cung. Khi tử cung mang
thai xuất hiện cơn co tạo áp lực trong buồng ối tác động lên cổ và đoạn dưới
làm cơ trơn căng lên, giãn ra. Có sự tương quan giữa mức độ giãn và cường
độ đau. Cảm giác đau xuất hiện khi cơn co tử cung tao áp lực buồng đạt tới
25mmHg, là áp lực tối thiểu để làm căng đoạn dưới và cổ tử cung. Có sự
tương quan giữa mức độ giãn và cường độ đau. Mặt khác đồng thời với sự
căng giãn là sự co thắt khiến cho tiến triển của cổ tử cung chậm lại vì vậy một
số tác giả nhận thấy việc giảm đau đã làm rút ngắn thời gian chuyển dạ.
- Co thắt cơ tử cung: Trong chuyển dạ tử cung co bóp từng cơn với tần
số và cường độ tăng dần. Trong cơn co, toàn bộ cơ tử cung co thắt đồng thời
tạo một áp lực lên buồng ối và thành tử cung. Áp lực này tác động lên các thụ
cảm đau nằm ở giữa các sợi cơ của tử cung tạo cảm giác đau tức mỗi khi có
cơn co.
- Dẫn truyền cảm giác đau trong giai đoạn này chủ yếu do sợi thần
kinh C. Khoanh tủy chi phối cảm giác đau trong giai đoạn này chủ yếu là T 10
đến L1 [9].
* Giai đoạn II của chuyển dạ
- Đau là do sự giãn của toàn khung chậu, âm đạo, tầng sinh môn. Ngoài
ra cổ tử cung cũng giãn mở tối đa cộng thêm cơn co tử cung với cường độ
mạnh và tần số mau phối hợp với phản xạ mót rặn và sức rặn của sản phụ tạo
một áp lực lớn lên vùng khung chậu, tầng sinh môn. Vì vậy trong giai đoạn
này sản phụ đau nhiều nhất. Cảm giác đau này thay đổi theo kích thước của
thai, cường độ và thời gian các cơn co, các yếu tố tâm lý tinh thần.
- Dẫn truyền cảm giác đau trong giai đoạn này là do sợi thần kinh loại
Aδ, ngoài ra dẫn truyền cảm giác trong giai đoạn này còn có sợi Aβ - là sợi
thần kinh dẫn truyền cảm giác về áp lực. Khoanh tủy chi phối cảm giác đau
trong giai đoạn này còn có các đốt sống tủy cùng từ S2 đến S4.



• Các cơn co bóp tử cung gây tăng thông khí ở người mẹ, tăng tần số
hô hấp và thể tích khí lưu thông, tỉ lệ thuận với cảm giác đau.
Thông khí phút từ 10 lít/ phút có thể tăng lên đến 35 lít/phút. Tăng
thông khí có thể gây giảm CO 2 ở người mẹ nặng nề (≤ 20 mmHg),
gây kiềm hô hấp (pH = 7,55 - 7,60) [13],[14].
• Tăng thông khí, trong giai đoạn tử cung dãn, kèm theo giảm thông khí
phế nang tương đối kéo dài, có thể gây thiếu oxy cho mẹ, hậu quả dẫn
đến thiếu oxy máu và nhịp tim chậm cho thai nhi.
• Để bù trừ cho nhiễm kiềm hô hấp, hệ thống đệm do thận đào thải
Bicarbonate. Phối hợp với nhịn đói và một phần với chuyển hóa yếm
khí, sẽ dẫn đến nhiễm toan chuyển hóa, có thể ảnh hưởng đến thai nhi.
• Trong lúc chuyển dạ, lưu lượng tim tăng 30% khi cổ tử cung dãn và
45% trong giai đoạn sổ. Ngoài ra, trong mỗi lần tử cung co bóp, lưu
lượng này còn tăng 20 - 25%. Sở dĩ tăng như thế là do có 250 - 300 ml
máu từ tử cung được đưa vào tuần hoàn chung cơ thể.
• Hoạt động của hệ giao cảm bị kích thích do đau và tâm trạng lo âu.
• Huyết áp động mạch tâm thu và tâm trương cũng tăng song song trong
khi tử cung co bóp. Hiện tượng tăng đồng thời của lưu lượng tim và
huyết áp làm tăng đáng kể công của tim trái, thông thường có thể chịu
đựng được nếu không có bệnh lý tim mạch.


11

• Tăng hoạt động giao cảm và đau làm cho vận động tiết niệu và tiêu hóa
giảm, dễ dẫn đến nôn, buồn nôn.
• Sự giải phóng nhiều nội tiết tố như: Cortisol, ACTH và Catecholamine
do đáp ứng với stress cũng tham gia một phần vào các hiện tượng trên.
* Đối với thai nhi:
• Khi tử cung co bóp làm giảm tạm thời dòng máu giữa các nhung mao,

dây thần kinh này.
1.3. PHƯƠNG PHÁP GÂY TÊ NMC
1.3.1. Lịch sử phát triển
* Trên thế giới
Năm 1885, J. Leonard Corning chuyên gia thần kinh, cho rằng có thể
bơm thuốc tê vào khoang ngoài màng cứng, tác giả nghĩ rằng từ đó thuốc
ngấm dần vào tủy sống gây ra tác dụng tê.
Năm 1890, tác giả người Pháp áp dụng phương pháp gây tê dưới màng
nhện, đã nghĩ tới việc thay đổi phương pháp vô cảm bằng cách đưa thuốc tê
vào khoang NMC mà vẫn đạt được tác dụng giảm đau trong phẫu thuật.
Năm 1901, Sicard và Cathelin thực nghiệm gây tê NMC trên chó qua
đường cùng cụt, đây cũng là báo cáo đầu tiên về gây tê NMC. Cũng năm đó
có Kappis, Bleeck và Strauss thực nghiệm trên người.
Năm 1921, Dogliotti và Aburl nghiên cứu chi tiết về giải phẫu sinh lý
vùng ngoài màng cứng. Cũng năm này, Fidel Pages, phẫu thuật viên người
Tây Ban Nha, là người đầu tiên đưa thuốc tê vào khoang ngoài màng cứng
qua vùng cột sống thắt lưng, Ông gọi đó là gây tê phân đốt.
Năm 1925, Bilger đưa ra chỉ định cụ thể rõ ràng cho phương pháp
GTNMC như ở bệnh nhân cao tuổi, bệnh nhân có tổn thương chức năng trong
cơ thể, các trường hợp chống chỉ định gây mê do nhiều nguyên nhân.
Trong những năm của thập kỷ 30, thế kỷ XX, phương pháp tê NMC được
hoàn thiện, nâng cao và phổ biến rộng rãi nhờ các tác giả: Dogliotti, Hess,
Odem, Alejar, Bromage,… với kỹ thuật mất sức cản để xác định khoang NMC.


13

Năm 1949, Curbelo ở Cuba thực hiện công trình nghiên cứu đầu tiên về
luồn catheter vào khoang NMC để gây tê NMC liên tục. Trong cùng năm đó,
do sự ra đời của kim Tuohy cùng với kỹ thuật luồn catheter để bơm thuốc liên

Tại TP Hồ Chí Minh, Bệnh viện Hùng Vương đã thực hiện giảm đau
trong chuyển dạ từ năm 1988 với 30 bệnh nhân, trong nghiên cứu này đã sử
dụng kim gây tê Tuohy 16, catheter thì sử dụng dây catheter tĩnh mạch và
thuốc tê là Lidocain sản xuất trong nước. Năm 1999, BV Từ Dũ thực hiện
phương pháp GTNMC trong chuyển dạ đẻ. Năm 2001, Nguyễn Duy Tài và
Nguyễn Thị Hồng Vân thực hiện nghiên cứu: Nhận định về phương pháp
GTNMC trong chuyển dạ đẻ cho 45 sản phụ tại BV Hùng Vương thì tỉ lệ
giảm đau đạt 91%, kết thúc chuyển dạ với một liều duy nhất và chưa ghi nhận
tai biến nào trên mẹ và con. Từ năm 1988 đến tháng 08/2005 tại BV Hùng
Vương có 16.841 sản phụ được giảm đau bằng GTNMC.
Tại Hà Nội, năm 1997 bệnh viện Việt Pháp và bệnh viện Phụ sản Hà
Nội đã thực hiện kỹ thuật GTNMC trong chuyển dạ. Năm 2003, Trần Văn
Cường đã thực hiện trên 61 sản phụ con so giảm đau bằng GTNMC tại bệnh
viện Phụ sản Hà Nội kết quả là 100% sản phụ đều có mức điểm đau ở mức
nhẹ và vừa [13].
Các nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước đều cho thấy
phương pháp giảm đau bằng bơm thuốc qua catheter ngoài màng cứng dùng
trong chuyên ngành ngoại khoa cũng như sản khoa đều cho kết quả tốt và
hiệu quả cao.
1.3.2. Một số vấn đề về giải phẫu ứng dụng trong gây tê NMC [17],[18]
1.3.2.1. Cột sống
Cột sống người gồm có 33 đốt sống: 7 đốt sống cổ, 12 đốt sống ngực, 5
đốt sống thắt lưng, 5 đốt cùng và 4 đốt cụt.
Cấu tạo của mỗi đốt sống gồm có: Thân đốt sống, cung đốt sống, các
mỏm: mỏm gai, mỏm ngang, mỏm khớp và lỗ đốt sống.


15

Cột sống có 4 chỗ cong tạo đường cong sinh lý: cổ và thắt lưng cong ra


- Tại các lỗ gian đốt, khoang NMC có thể thông với khoang sau phúc mạc
và màng phổi, cấu trúc của màng não tủy ở đây bám sát vào dây thần kinh cũng là
nơi để cho thuốc tê dễ dàng phân bố vào thân thần kinh và vào dịch não tủy.
- Các đám rối tĩnh mạch dày đặc ở trong khoang NMC là thành phần
đóng vai trò quan trọng trong hấp thu và phân bố thuốc tê. Các tĩnh mạch này
chạy dọc ở hai bên của khoang NMC, nhưng chúng lại có vòng nối với nhau,
chúng không có van và đổ về tĩnh mạch chậu, xoang tĩnh mạch trong sọ và có
nối với tĩnh mạch đốt sống, tĩnh mạch Azygos, tĩnh mạch chậu. Do vậy nếu
tiêm thuốc tê trực tiếp vào các tĩnh mạch này có thể gây nguy hiểm, nên cần
tiêm liều thử trước khi gây tê.
- Các rễ trước và rễ sau của thần kinh tủy tạo thành các dây thần kinh
tủy sống chạy ra ngoài các lỗ gian đốt chi phối cho vùng thân và chi tương
ứng tạo nên các khoanh da chi phối - Dermatom mà dựa vào đó ta có thể đánh
giá được tác dụng vô cảm của kỹ thuật gây tê.

Hình 1.2. Sơ đồ gây tê ngoài màng cứng
1.
2.
3.
4.
5.

Màng nhện
Khoang dưới màng cứng
Màng cứng
Màng xương
Dây chằng vàng

6. Màng mềm

gian đốt sống, làm phong bế các dây thần kinh tuỷ sống chi phối khu vực
tương ứng. Thuốc tê tác dụng lên các bộ phận sau:
- Các dây thần kinh tuỷ sống hỗn hợp trong khoang cạnh cột sống.
- Các hạch rễ thần kinh.
- Các rễ thần kinh tuỷ sống.
- Tuỷ sống.


18

Mỗi khoanh tuỷ đảm nhận chi phối vận động, cảm giác và thực vật cho
một vùng nhất định của cơ thể. Đó chính là khả năng khoanh vùng tác dụng khi
gây tê ở các mức khoanh tủy khác nhau. Dựa vào đó ta có thể đánh giá mức độ
tê và tiên lượng các biến chứng có thể xảy ra do sự lan rộng quá mức của thuốc
tê. Mặt khác mức độ tác dụng của thuốc tê lên các rễ tuỷ sống còn phụ thuộc
vào cấu tạo rễ tuỷ được bao bọc Myelin hay không, kích thước to hay nhỏ.
* Các yếu tố ảnh hưởng tới phân bố thuốc tê trong khoang NMC
- Yếu tố kỹ thuật tiêm.
+ Vị trí để tiêm thuốc tê quyết định phạm vi phân đốt thần kinh bị ức chế.
+ Tư thế bệnh nhân khi tiêm thuốc tê hầu như không tác động tới sự
phân bố thuốc trong khoang NMC.
+ Tốc độ tiêm cũng có liên quan, với tốc độ 0,3 - 0,75 ml/s thì mức
phân bố thuốc tê rộng hơn khi tiêm nhanh.
- Yếu tố thuốc tê.
+ Thể tích: thể tích thuốc tê là yếu tố quan trọng nhất xác định số phân
đốt bị ức chế. Theo nghiên cứu của Tôn Đức Lang và CS, ở người Việt Nam
là cứ mỗi 1,5 ml thuốc tê có thể lan toả được một đốt sống.
+ Đậm độ thuốc tê: mức độ ức chế thần kinh hoàn toàn phụ thuộc vào
đậm độ của thuốc tê. Chỉ có đậm độ của thuốc tê đủ cao mới ức chế hoàn toàn
thần kinh.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status