THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT ĐƯỜNG HUYẾT và các yếu tố NGUY cơ TRÊN BỆNH NHÂN đái THÁO ĐƯỜNG TYP 2 điều TRỊ NGOẠI TRÚ tại BỆNH VIỆN GANG THÉP THÁI NGUYÊN - Pdf 55

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

NGUYỄN VĂN TUYẾN

THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT ĐƯỜNG
HUYẾT VÀ CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ TRÊN
BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYP 2
ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN
GANG THÉP THÁI NGUYÊN

ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC

HÀ NỘI - 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

NGUYỄN VĂN TUYẾN

THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT ĐƯỜNG
HUYẾT VÀ CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ TRÊN
BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYP 2
ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN


Cholesterol tỷ trọng cao
(High Density Lipoprotein - Cholesterol)

IDF

Hiệp hội Đái tháo đường Quốc tế (International
Diabetes Federation)

JNC

Liên ủy ban Quốc gia Hoa Kỳ
(United States Joint National Committee)

LDL- C

Cholesterol tỷ trọng thấp
(Low Density Lipoprotein - Cholesterol)

TC

Cholesterol toàn phần (Total Cholesterol )

TG

Triglycerid

THA

Tăng huyết áp

Việt Nam không xếp vào 10 nước có tỷ lệ mắc đái tháo đường cao
nhưng lại là quốc gia có tốc độ phát triển bệnh nhanh. Một nghiên cứu của
Bệnh viện Nội tiết Trung ương vào cuối tháng 10 - 2008 cho thấy, tỷ lệ mắc
đái tháo đường ở Việt Nam tăng nhanh từ 2,7% (năm 2001) lên 5% (năm
2008), trong đó có tới 65% người bệnh không biết mình mắc bệnh [5].
Bệnh ĐTĐ typ 2 tiến triển âm thầm,từ từ gây ra nhiều biến chứng mạn
tính nguy hiểm để lại di chứng nặng nề thậm chí tử vong.Nhiều nghiên cứu cho
thấy có tới 50% bệnh nhân ĐTĐ typ 2 khi được phát hiện đã có biến
chứng.Trong những năm đầu của thế kỷ 21, ĐTĐ được coi là nguyên nhân hàng
đầu gây suy thận giai đoạn cuối. Năm 2007 tại Mỹ đã chi ước tính 174 tỷ đôla


3

cho bệnh ĐTĐ. Tại Việt Nam ước tính hiện nay chi phí cho ĐTĐ là 606.251.000
đôla cho bệnh nhân ĐTĐ, dự kiến 2025 con số sẽ là 1.114.430.000 đôla.
Hàng năm việc chăm sóc và điều trị cho bệnh nhân ĐTĐ tiêu tốn 1
lượng ngân sách rất lớn tại nhiều quốc gia trên thế giới vì vậy bệnh ĐTĐ hiện
đang là mối quan tâm của y học.
Vì vậy vấn đề được đặt ra là làm như thế nào nhằm giảm thiểu tỷ lệ
biến chứng và tử vong do bệnh ĐTĐ, đặc biệt là việc quản lý các bệnh nhân
ĐTĐ ngoại trú để có thể ngăn chặn sự tiến triển của các biến chứng mạn tính.
Quản lý bệnh nhân ĐTĐ co kiểm soát bao gồm : kiểm soát chặt glucose
huyết, HbA1C, kiểm soát chặt các yếu tố nguy cơ đặc biệt là huyết áp và rối
loạn chuyển hóa lipid.
Trên thế giới có nhiều công trình nghiên cứu mối liên quan chặt chẽ
giữa việc kiểm soát glucose huyết và giảm tần suất biến chứng mạn tính của
bệnh ĐTĐ. Kết quả nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng về kiểm soát bệnh và
biến chứng ĐTĐ( DCCT- Diabetes Control and Complication Trial, 1993) cho
thấy điều trị tích cực làm giảm được 65% nguy cơ phát triển biến chứng vi

2. Nhận xét một số yếu tố liên quan đến kiểm soát đường huyết ở
nhóm bệnh nhân nghiên cứu trên


5

Chương 1

TỔNG QUAN
1.1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu bệnh đái tháo đường
Trong các bệnh chuyển hoá, đái tháo đường là bệnh lý thường gặp nhất
và có lịch sử nghiên cứu rất lâu năm nhưng những thành tựu nghiên cứu về
bệnh chỉ có được trong vài thập kỷ gần đây.
Thế kỷ thứ nhất sau công nguyên, Aretaeus đã bắt đầu mô tả về những
người mắc bệnh đái nhiều. Dobson (1775) lần đầu tiên hiểu được vị ngọt của
nước tiểu ở những bệnh nhân đái tháo đường là do sự có mặt glucose [5].
Năm 1869, Langerhans tìm ra tổ chức tiểu đảo, gồm 2 loại tế bào bài
tiết ra insulin và glucagon không nối với đường dẫn tụy. Năm 1889,
Minkowski và Von Mering gây đái tháo đường thực nghiệm ở chó bị cắt bỏ
tụy, đặt cơ sở cho học thuyết đái tháo đường do tụy [43].
Năm 1921, Banting và Best cùng các cộng sự đã thành công trong việc
phân lập insulin từ tụy [5]. Vào các năm 1936, 1976 và 1977 các tác giả
Himsworth, Gudworth và Jeytt phân loại đái tháo đường thành hai týp là đái
tháo đường týp 1 và týp 2 [43].
Nghiên cứu DDCT (Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng về kiểm soát
bệnh và biến chứng đái tháo đường, được công bố năm 1993) và nghiên cứu
UKPDS (được công bố năm 1998) đã mở ra một kỷ nguyên mới cho điều trị
bệnh đái tháo đường, đó là kỷ nguyên của sự kết hợp y tế chuyên sâu và y học
dự phòng, dự phòng cả về lĩnh vực hạn chế sự xuất hiện và phát triển bệnh [5].
Đáng lưu ý là trong nghiên cứu UKPDS, có tới 50% bệnh nhân khi phát hiện

chứng. Khi có biểu hiện lâm sàng thường kèm theo các rối loạn khác về


8

chuyển hoá lipid, các biểu hiện bệnh lý về tim mạch, thần kinh, thận…, nhiều
khi các biến chứng này đã ở mức độ rất nặng.
Đặc điểm lớn nhất trong sinh lý bệnh của đái tháo đường týp 2 là có sự
tương tác giữa yếu tố gen và yếu tố môi trường trong cơ chế bệnh sinh. Người
mắc bệnh đái tháo đường týp 2 có thể điều trị bằng cách thay đổi thói quen, kết
hợp dùng thuốc để kiểm soát glucose máu, tuy nhiên nếu quá trình này thực
hiện không tốt thì bệnh nhân cũng sẽ phải điều trị bằng cách dùng insulin.
1.3.2.3. Đái tháo đường thainghén
Đái đường thai nghén thường gặp ở phụ nữ có thai, có glucose máu tăng,
gặp khi có thai lần đầu. Sự tiến triển của đái tháo đường thai nghén sau đẻ theo 3
khả năng: Bị đái tháo đường, giảm dung nạp glucose, bình thường [7].
1.3.2.4. Các thể đái tháo đường khác (hiếmgặp)
Nguyên nhân liên quan đến một số bệnh, thuốc, hoá chất.
- Khiếm khuyết chức năng tế bào bê -ta.
- Khiếm khuyết gen hoạt động của insulin.
- Bệnh tụy ngoại tiết: Viêm tụy, chấn thương, carcinoma tụy…
- Các bệnh nội tiết: Hội chứng Cushing, cường năng tuyến giáp…
- Thuốc hoặc hóa chất.
- Các thể ít gặp qua trung gian miễn dịch.
1.4. Biến chứng bệnh đái tháo đường
Đái tháo đường nếu không được phát hiện sớm và điều trị kịp thời bệnh
sẽ tiến triển nhanh chóng và xuất hiện các biến chứng cấp và mạn tính. Bệnh
nhân có thể tử vong do các biến chứng này.
1.4.1. Biến chứng cấp tính
Biến chứng cấp tính thường là hậu quả của chẩn đoán muộn, nhiễm

chung của tăng huyết áp ở bệnh nhân đái tháo đường gấp đôi so với người


10

bình thường. Trong đái tháo đường týp 2, 50% đái tháo đường mới được
chẩnđoán có tăng huyết áp. Tăng huyết áp ở người đái tháo đường týp 2
thường kèm theo các rối loạn chuyển hoá và tăng lipid máu [4],[54].
Ngoài ra, tỷ lệ biến chứng mạch não ở bệnh nhân đái tháo đường gấp
1,5-2 lần, viêm động mạch chi dưới gấp 5 - 10 lần so với người bình thường.
Ở Việt Nam, theo nghiên cứu của Tạ Văn Bình, khoảng 80% bệnh nhân
đái tháo đường mắc thêm các bệnh liên quan đến tim mạch [5].
1.4.2.2. Biến chứngthận
Biến chứng thận do đái tháo đường là một trong những biến chứng
thường gặp, tỷ lệ biến chứng tăng theo thời gian. Bệnh thận do đái tháo đường
khởi phát bằng protein niệu; sau đó khi chức năng thận giảm xuống, ure và
creatinin sẽ tích tụ trong máu.
Bệnh thận do đái tháo đường là nguyên nhân thường gặp nhất gây suy
thận giai đoạn cuối. Với người đái tháo đường týp 1, mười năm sau khi biểu
hiện bệnh thận rõ ràng, khoảng 50% tiến triển đến suy thận giai đoạn cuối và
sau 20 năm sẽ có khoảng 75% số bệnh nhân trên cần chạy thận lọc máu chu
kỳ. Khả năng diễn biến đến suy thận giai đoạn cuối của bệnh nhân đái tháo
đường týp 2 ít hơn so với bệnh nhân đái tháo đường týp 1, song số lượng bệnh
nhân đái tháo đường týp 2 chiếm tỷ lệ rất lớn nên thực sự số bệnh nhân suy
thận giai đoạn cuối chủ yếu là bệnh nhân đái tháo đường týp 2.
Để theo dõi bệnh thận đái tháo đường có thể định lượng microalbumin
niệu, đo mức lọc cầu thận, định lượng protein niệu/ 24 giờ. Ngày nay, nhiều
phòng xét nghiệm chọn phương pháp định lượng protein niệu trong mẫu nước
tiểu qua đêm.
Tại Việt Nam, theo một điều tra năm 1998, tỷ lệ có microalbumin niệu

1.4.3.1. Bệnh lý bàn chân do đái tháo đường
Bệnh lý bàn chân đái tháo đường ngày càng được quan tâm do tính phổ
biến của bệnh. Bệnh lý bàn chân đái tháo đường do sự phối hợp của tổn


12

thương mạch máu, thần kinh ngoại vi và cơ địa dễ nhiễm khuẩn do glucose
máu tăng cao.
Một thông báo của WHO tháng 3 - 2005 cho thấy có tới 15% số người
mắc bệnh đái tháo đường có liên quan đến bệnh lý bàn chân, 20% số người
phải nhập viện do nguyên nhân bị loét chân. Bệnh nhân đái tháo đường phải
cắt cụt chi dưới nhiều gấp 15 lần so với người không bị đái tháo đường, chiếm
45 - 70% tổng số các trường hợp cắt cụt chân [13].
Tỷ lệ cắt cụt của người bị biến chứng bàn chân đái tháo đường của Việt
Nam cũng khá cao, khoảng 40% tổng số người có bệnh lý bàn chân đái tháo
đường [40].
1.4.3.2. Nhiễm khuẩn ở bệnh nhân đái tháođường
Bệnh nhân bị đái tháo đường thường nhạy cảm với tất cả các loại nhiễm
khuẩn do có nhiều yếu tố thuận lợi. Có thể gặp nhiễm khuẩn ở nhiều cơ quan
như: viêm đường tiết niệu, viêm răng lợi, viêm tủy xương, viêm túi mật sinh
hơi, nhiễm nấm … [6].
1.5. Rối loạn chuyển hóa lipid máu ở bệnh nhân đái tháo đường
Rối loạn lipid máu là tình trạng rối loạn và hoặc tăng nồng độ các thành
phần lipid trong máu, hậu quả là sự tạo thành các mảng xơ vữa gây tắc mạch,
làm gia tăng nguy cơ biến chứng tim mạch và đột quỵ, tăng các biến chứng
mạch máu khác. Ngày nay, người ta xem đã có rối loạn lipid máu ngay từ khi
tỷ lệ các thành phần của lipid trong máu có sự thay đổi [5], [54].
Rối loạn lipid máu chủ yếu ở người đái tháo đường týp 1 là lượng
lipoprotein huyết tương thấp, tăng mức LDC - C hạt nhỏ, đậm đặc. Các bất


Béo bụng
Giảm hoạt động thể lực

Sơ đồ 1.1. Các yếu tố làm tăng tỷ lệ đái tháo đường ở người cao tuổi [32]
Sự gia tăng đái tháo đường týp 2 theo tuổi có nhiều yếu tố tham gia, các
thay đổi chuyển hóa hydrate liên quan đến tuổi, điều này giải thích tại sao
nhiều người mang gen di truyền đái tháo đường mà lại không bị đái tháo
đường từ lúc còn trẻ đến khi về già mới bị bệnh.
Tuy nhiên với tốc độ phát triển cuộc sống hiện nay, ngày càng có nhiều
người trẻ tuổi mắc đái tháo đường týp 2. Quan sát sự xuất hiện bệnh đái tháo


14

đường týp 2 trong gia đình có yếu tố di truyền rõ ràng, người ta thấy rằng ở
thế hệ thứ nhất mắc bệnh ở độ tuổi 60 - 70, ở thế hệ thứ 2 tuổi xuất hiện bệnh
giảm xuống còn 40 - 50 tuổi và ngày nay người được chẩn đoán đái tháo
đường týp 2 dưới 20 tuổi không còn là hiếm [43].
1.6.2. Giới tính
Tỷ lệ mắc đái tháo đường ở hai giới nam và nữ thay đổi tuỳ thuộc vào
các vùng dân cư khác nhau. Ảnh hưởng của giới tính đối với bệnh đái tháo
đường không theo quy luật, nó tuỳ thuộc vào chủng tộc, độ tuổi, điều kiện
sống, mức độ béo phì.
Ở các vùng đô thị Thái Bình Dương tỷ lệ nữ/nam là 3/1, trong khi ở
Trung Quốc, Malaysia, Ấn Độ, tỷ lệ mắc đái tháo đường ở cả hai giới tương
đương nhau.
Tại Việt Nam, theo nghiên cứu của Hoàng Kim Ước và cộng sự, tỷ lệ
mắc đái tháo đường ở nam là 3,5%; ở nữ là 5,3% [45]. Nghiên cứu về tình
hình đái tháo đường và yếu tố nguy cơ được tiến hành trên cả nước năm 2002

Béo bụng còn được gọi là béo dạng nam, là một thuật ngữ chỉ những
người mà phân bố mỡ ở bụng, nội tạng và phần trên cơ thể chiếm tỷ trọng
đáng kể. Béo bụng, ngay cả với những người cân nặng không thực sự xếp vào
loại béo phì hoặc chỉ béo vừa phải là một yếu tố nguy cơ độc lập gây ra rối
loạn mỡ máu, tăng huyết áp và rối loạn chuyển hóa đường.
Nhiều nghiên cứu đã kết luận rằng béo phì là nguyên nhân quan trọng
nhất dẫn đến sự kháng insulin [35], [49]. Nghiên cứu của Colditz G.A và cộng
sự kết luận béo phì và tăng cân đột ngột làm tăng nguy cơ của đái tháo đường
[48]. Kết quả nghiên cứu của Hoàng Kim Ước cho thấy những người có BMI
> 23 có nguy cơ đái tháo đường týp 2 gấp 2,89 lần so với người bình thường
[45].


16

Ngày nay, béo phì đang ngày càng gia tăng, kéo theo sự gia tăng của
bệnh đái tháo đường týp 2 và bệnh tim mạch.
1.6.5. Thuốc lá và bia rượu
Thuốc lá và bia rượu là những chất gây hại cho cơ thể, làm nặng thêm
các rối loạn chuyển hoá.
Một số nghiên cứu ở châu Âu cho thấy tỷ lệ hút thuốc lá ở bệnh nhân
đái tháo đường khá cao, có nhiều vùng trên 50% [52]. Trường đại học
Lausanne (Anh) đã tiến hành 25 cuộc nghiên cứu trên 1,2 triệu bệnh nhân và
nhận thấy những người hút thuốc có 44% nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường
týp 2 [5]. Những người hút thuốc có xu hướng hình thành những thói quen
không có lợi khác, chẳng hạn như không tập thể dục thể thao hoặc ăn những
thực phẩm không có lợi cho sức khỏe.
Rượu có tác động rất xấu đến sức khỏe con người, gây ảnh hưởng đến
toàn bộ các cơ quan trong cơ thể. Những người bệnh đái tháo đường nếu uống
nhiều rượu thì hậu quả thường nặng hơn so với người bình thường. Theo

Bệnh viện Nội tiết Trung ương, tỷ lệ mắc đái tháo đường chung cho cả nước
là 2,7%,ở các thành phố 4,4%, vùng đồng bằng ven biển 2,2% và miền núi
2,1% [5].
Một nghiên cứu được tiến hành trên 2394 đối tượng từ 30 - 64 tuổi
đang sinh sống tại 4 thành phố lớn là Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng và Thành
phố Hồ Chí Minh thấy rằng tỷ lệ mắc đái tháo đường là 4,6% - 4,9% [4]. Đa
số bệnh nhân đái tháo đường không được chẩn đoán và điềutrị.
Theo nghiên cứu của Đặng Thị Ngọc - Đỗ Trung Quân tại bệnh viện
Bạch Mai, tỷ lệ đái tháo đường týp 2 chiếm 81,5%; tỷ lệ đái tháo đường týp 1
chiếm 18,5%; tỷ lệ nữ chiếm 61,2%; tỷ lệ nam chiếm 38,8% [trích từ 17].
Nghiên cứu của Lê Minh Sứ tại Thanh Hóa; Vũ Huy Chiến tại Thái
Bình, Hồ Văn Hiệu tại Nghệ An cho tỷ lệ mắc đái tháo đường lần lượt là 4%;
4,3% và 3% [39],[10],[24].


18

Năm 2004, Tạ Văn Bình và cộng sự tiến hành nghiên cứu bệnh đái
tháo đường tại Cao Bằng thấy tỷ lệ mắc bệnh qua sàng lọc là 6,8% [3]. Cũng
trong năm đó Trần Thị Mai Hà nghiên cứu tại Yên Bái, Hoàng Kim Ước
nghiên cứu tại Phú Thọ, Sơn La kết luận đái tháo đường là bệnh gặp chủ
yếu ở người có thu nhập cao, có đời sống vật chất và địa vị trong xã hội
[17], [2]. Đó làmột thách thức lớn ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế xã hội
và sức khoẻ cộng đồng.
Nghiên cứu của Lê Cảnh Chiến tại Tuyên Quang; Hoàng Thị Đợi,
Nguyễn Kim Lương tại Thái Nguyên cũng cho thấy tỷ lệ mắc bệnh ở nữ cao
hơn nam, ở nhóm ít hoạt động thể lực cao hơn nhóm hoạt động thể lực nhiều
[9], [15].
Tại Thái Nguyên, số bệnh nhân đái tháo đường ngày một tăng nhưng
nhiều người khi được phát hiện bệnh đã ở giai đoạn muộn, có nhiều biến

- Bệnh nhân có biến chứng cấp tính: nhiễm khuẩn huyết, hôn mê toan
ceton, hôn mê tăng áp lực thẩm thấu.
- Những bệnh nhân mất máu cấp tính, xuất huyết tiêu hóa, thiếu sắt…
ảnh hưởng đến HbA1C
- Bệnh nhân không theo dõi đều


20

2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả, thiết kế nghiên cứu cắt ngang.
2.2.2. Phương pháp thu thập thông tin
Tất cả đối tượng nghiên cứu khi đi khám định kỳ được khám lâm sàng,
làm các xét nghiệm cần thiết và phỏng vấn khai thác kỹ các yếu tố liên quan
đến bệnh theo mẫu bệnh án đã được chuẩn bị trước. Các kết quả được ghi vào
phiếu bệnh án nghiên cứu thống nhất.
2.2.2.1. Khám lâm sàng
* Tính chỉ số khối cơthể:
- Cân bệnh nhân: Sử dụng bàn cân Trung Quốc có thước đo chiều cao.
Bệnh nhân chỉ mặc một bộ quần áo mỏng, không đi giầy dép, không đội mũ.
Kết quả được ghi bằng kg, sai số không quá 100g.
- Đo chiều cao: Được đo bằng thước đo chiều cao gắn liền với cân.
Bệnh nhân đứng thẳng đứng, 2 gót chân sát mặt sau của bàn cân, đầu thẳng,
mắt nhìn thẳng. Kéo thước đo thẳng đứng đến hết tầm, sau đó kéo từ từ xuống
đến khi chạm đứng đỉnh đầu, đọc kết quả trên vạch thước đo. Kết quả tính
bằng mét (m) và sai số không quá 0,5 cm.
- Tính chỉ số khối cơthể:
BMI =


23 - 24,9

Béo độ 2

25 - 29,9

* Đánh giá nguy cơ béo phì còn cần phải xem sự phân bố mỡ đặc biệt ở bụng
và nội tạng theo chỉ sốbụng/mông
- Đo vòng bụng, vòng mông: Sử dụng thước dây mềm, không co giãn.
Bệnh nhân đứng thẳng, hai chân cách nhau khoảng 10 cm. Đo khi bệnh nhân
thở ra nhẹ, tránh cocơ.
+ Vòng bụng: Đo ngang qua rốn và điểm cong nhất của cột sống thắt
lưng.
+ Vòng mông: Đo ngang qua 2 điểm nhô của hai mấu chuyển lớn.
- Tính chỉ sốB/M:
B/M =

Vòng bụng (cm)
Vòng mông (cm)

- Xác định chỉ số B/M bệnh lý theo tiêu chuẩn ở nam giới ≥ 0,9; ở nữ
giới ≥ 0,8 [5].
* Đo huyếtáp:
- Sử dụng ống nghe và huyết áp kế đồng hồ Nhật Bản. Bệnh nhân được
đo huyết áp động mạch cánh tay ở tư thế nằm. Trước khi đo bệnh nhân được
nghỉ 15 phút, không dùng thuốc ảnh hưởng huyết áp.
- Phân loại tăng huyết áp theo JNC VI -2003.


22

160 - 179

100 - 109

2 (độ II) Giai đoạn 3 (độ III)

≥ 180

≥ 110

* Chẩn đoán một số biếnchứng:
- Biến chứng tim mạch: Xác định thiếu máu cơ tim, nhồi máu cơ tim,
suy tim bằng lâm sàng và điện tâmđồ.
+ Thiếu máu cơ tim: Bệnh nhân đau ngực thường xuyên hoặc không
thường xuyên. Điện tâm đồ có hình ảnh tổn thương cơ tim: Đoạn ST chênh, T
dương cao đối xứng hoặc T dẹt/ âm.
+ Nhồi máu cơ tim: Bệnh nhân đau ngực, khó thở hoặc không có triệu
chứng. Điện tâm đồ có thể có dạng QS, ST chênh, sóng vòm Pardee.
+ Suy tim: Bệnh nhân khó thở khi gắng sức hoặc thường xuyên, có các
dấu hiệu biểu hiện tình trạng ứ trệ tuần hoàn ngoại biên. Điện tâm đồ có hình
ảnh dày thất trái.
+ Xác định tăng huyết áp dựa vào kết quả đo huyết áp và phân loại theo
JNC VI.
- Biến chứng thận: Chẩn đoán dựa vào lâm sàng, xét nghiệm creatinin
máu, xét nghiệm nước tiểu toàn phần (bệnh nhân có xét nghiệm protein niệu
dương tính được chẩn đoán có biến chứng thận).
- Biến chứng thần kinh: Xác định bằng khám lâm sàng.
- Biến chứng mắt: Được chẩn đoán bằng khám mắt, đo thị lực, soi đáy
mắt do bác sỹ chuyên khoa thực hiện.


tiết - ĐTĐ Việt Nam 2009



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status