Rối loạn lipid máu ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2 điều trị ngoại trú tại phòng khám Nội A- Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Nam - Pdf 25

RỐI LOẠN LIPID MÁU Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYP 2
ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI PHÒNG KHÁM NỘI A- BỆNH VIỆN ĐA
KHOA TỈNH QUẢNG NAM.
Ths Trình Trung Phong
Bs Nguyễn Đức Kỳ
Khoa Nội Tổng hợp BVĐK QUẢNG NAM
ĐẶT VẤN ĐỀ
“ Thế kỷ 21 là thế kỷ của các bệnh nội tiết có rối loạn chuyển hóa” Dự báo của các
chuyên gia y tế từ những năm 90 của thế kỷ trước đã và đang trở thành hiện thực.
Bệnh Đái tháo đường đã, đang và sẽ là gánh nặng cho nền kinh tế, xã hội của cả
thế giới và mỗi quốc gia vào thế kỷ 21.
Đái tháo đường (ĐTĐ) là một trong những bệnh không lây nhiễm phổ biến nhất
hiện nay trên toàn thế giới.Theo hiệp hội đái tháo đường quốc tế (IDF) năm 2004 có
khoảng 171 triệu người mắc bệnh ĐTĐ trên toàn thế giới và con số này có thể gấp đôi
vào năm 2030.Hàng năm nhân loại tiêu tốn hàng ngàn tỷ USD chi phí trực tiếp cho bệnh
nhân ĐTĐ.[5]
ĐTĐ là một bệnh nguy hiểm đe dọa đến tính mạng và gây ra nhiều biến chứng
mạn tính. ĐTĐ không chỉ do rối loạn chuyển hóa carbohyđrat mạn tinh làm cho Glucose
máu luôn tăng cao mà còn gây ra các rối loạn chuyển hóa lipid, protide…
Tại hội nghị lần 6 của Hiệp hội ĐTĐ quốc tế khu vực Tây Thái Bình Dương, thánh
10 năm 2005, bệnh ĐTĐ được xem là “kẻ giết người thầm lặng- the silent killer”[2]
Rối loạn lipid máu là tình trạng rối loạn và/ hoặc tăng nồng độ các thành phần
lipid, hậu quả là sự tạo thành các mảng xơ vữa gây tắc mạch, làm gia tăng nguy cơ biến
chứng tim mạch và đột quỵ, tăng các biến chứng mạch máu khác. Hậu quả nặng nề nhất
là gây tử vong hoặc tàn phế.[2]
Biến chứng mạch máu lớn là một trong những tổn thương phổ biến ở bệnh nhân
ĐTĐ typ 2, trong đó rối loạn chuyển hóa lipid đóng vai trò quan trọng trong cơ chế bệnh
sinh, cũng là nguyên nhân sâu xa gây tử vong ở bệnh nhân ĐTĐ typ 2[11][13][14].Điều
trị ĐTĐ phải đồng thời khống chế được các chỉ số lipid thì mới cải thiện được sức khỏe
cho người bệnh.Tuy vậy phần lớn các bác sĩ điều trị chỉ quan tâm đến glucose máu mà ít
chú ý đến rối loạn lipid máu ở bệnh nhân ĐTĐ.

2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU :
Phương pháp mô tả cắt ngang.
3 CÁCH TIẾN HÀNH:
Các bệnh nhân được chẩn đoán ĐTĐ theo tiêu chuẩn được theo dõi, điều trị ngoại
trú tại phòng khám Nội A được khám bao gồm: đo các chỉ số nhân trắc như: chiều cao,
cân nặng, vòng bụng, vòng mông sau đó đo huyết áp.
Xác định tăng huyết áp theo qui định của Hội Tim Mạch Viêt nam, phân loại tăng
huyết áp dựa theo JNC VII( Báo cáo liên ủy ban quốc gia về phòng ngừa biến chứng,
đánh giá, điều trị tăng huyết áp lần thứ VII) với bảng phân loại huyết áp dành cho người
lớn.
Phân loại huyết áp Huyết áp tâm thu
(mmHg)
Huyết áp tâm trương
(mmHg)
Bình thường < 120 Và < 80
Tiền tăng huyết áp 120- 139 Hoặc 80-89
Tăng huyết áp giai đoạn I 140-159 Hoặc 90-99
Tăng huyết áp giai đoạn II ≥ 160 ≥ 100
2
Xác định béo phì dựa vào tiêu chuẩn của người Châu Á :
Béo phì dạng nam nếu vòng bụng / vòng mông ≥ 0,9 đối với nam
≥ 0,85 đối với nữ.
* Chỉ số khối cơ thể hay chỉ số Quételet:
BMI ( Body Mass Index ) = Cân nặng (kg)/ Chiều cao (m)2
Kết quả bình thường :( theo hội đái đường ASEAN)
Phân loại BMI ( Kg/ m2)
Gầy < 18,5
Bình thường 18,5- 22,9
Béo
● Dư cân

● Bệnh nhân đang được điều trị bằng thuốc hạ mỡ máu.
● Bệnh nhân đang mắc một số bệnh gây rối loạn chuyển hóa lipid,suy thận, suy
gan,basedow, suy giáp, bệnh tuyến yên…

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
A .ĐẶC ĐIỂM ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
1. Giới :
Bảng 1: Phân bố giới:
Phân bố giới Nam Nữ
N 45 55
% 45% 55%
Biểu đồ 1:

2. Tuổi :
Tuổi trung bình: 61,61 ± 10,06 (38- 84) tuổi.
3. Phân bố độ tuổi:
Tuổi bệnh nhân nhóm nghiên cứu chủ yếu tập trung ở độ tuổi từ 50 tuổi đến 70
tuổi.
4. Chiều cao trung bình : 1,59 ± 0,05 ( 1,48- 1,72)m.
5. Cân nặng trung bình : 63,36 ± 7,84 (45- 78) kg
6. Béo phì dạng nam :
Bảng 2:
Béo phì Nam Nữ Chung
n % n % n %
Có 14 30 19 35 33 33
Không 31 70 36 65 67 67
Nhận xét: Số bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi có tỷ lệ béo bụng
dạng nam chiếm 33% tổng số bệnh nhân nghiên cứu.
7.Phân bố theo chỉ số khối cơ thể ( BMI):
Bảng 3:

Triglycerid 22%.
2: Rối loạn lipid máu hỗn hợp:
Bảng 6 :
5
Loại rối loạn Nam Nữ Chung
n % n % n %
TăngC+T 7 16 8 15 15 15
Tăng C+LDL-C 0 5 9 5 5
Tăng
C+T+LDL-C
15 33 16 30 31 31
Nhận xét:
Trong số bệnh nhân có tăng lipid máu hỗn hợp thì nhóm bệnh nhân có tăng cholesterol
toàn phần kèm tăng triglycerid và LDL- Cholesterol chiếm số lượng lớn 31%, tăng
cholesterol toàn phần kèm tăng triglycerid chiếm 5%.
BÀN LUẬN
- Về giới : trong nhóm bệnh nhân nghiên cứu nữ gặp nhiều hơn nam.Kết quả này
phù hợp với các kết quả nghiên cứu khác trong và ngoài nước.
- Về tuổi : trong nhóm bệnh nhân nghiên cứu của chúng tôi chủ yếu là từ 50-70
tuổi, đây cũng là độ tuổi thường gặp nhất ở ĐTĐ typ 2.Kết quả này cũng phù hợp với
nghiên cứu của Đỗ trung Quân,Đào Thị Dừa và cộng sự, Trần Vĩnh Thủy [1][3][4][7][10]
[12].Do tuổi thọ ngày càng tăng cao nên độ tuổi này cũng còn là lực lượng lao động đáng
kể đóng góp còn nhiều cho xã hội.Vì vậy người thầy thuốc cần phải điều trị tích cực tránh
các biến chứng cho người bệnh.
-Về béo phì : trong số bệnh nhân nghiên cứu có 33% bệnh nhân có béo phì dạng
nam và 60% có béo độ 1.Điều đó cho thấy bệnh nhân ĐTĐ typ 2 của chúng ta không gầy
như quan niệm trước đây.Kết quả này phù hợp với nhiều nghiên cứu của các tác giả như
Đỗ trung Quân, Trần Đức Thọ…[10]
Như vậy, tình trạng béo phì ở bệnh nhân ĐTĐ typ 2 chúng tôi gặp đã ở mức báo động
trong khi đó vấn đề này trước đây chúng ta thường cho rằng người Việt nam thường

mạch máu và các biến chứng mắt, thận, tim, tăng huyết áp, cơn đột quỵ, hoại tử bàn chân
là rất lớn nhưng ít được các bác sĩ quan tâm tới rối loạn này mà chỉ quan tâm đến mức độ
đường huyết cao hay thấp trong quá trình điều trị, nếu có phát hiện rối loạn lipid máu
cũng không điều trị tích cực.Do đó hiệu quả điều trị và ngăn chặn các biến chứng muộn
cũng rất hạn chế.Nhiều tác giả nghiên cứu về rối loạn chuyển hóa lipid máu trong đái
tháo đường typ 2 đã nhận xét: Rối loạn chuyển hóa lipid máu là thường gặp ở người đái
tháo đường và thường rối loạn kết hợp nhiều chỉ số lại với nhau.Vì vậy không nên chỉ
quan tâm khu trú đến xét nghiệm định lượng 1 hoặc 2 chỉ số về lipid máu mà phải đồng
thời định lượng nhiều chỉ số và phải theo dõi thường xuyên hoặc định kỳ có hệ thống.
Điều đó sẽ giúp choviệc phát hiện sớm những rối loạn lipid máu có ý nghĩa quan trọng
trong công tác dự phòng biến chứng ĐTĐ.[5] Vấn đề quản lý, hướng dẫn chế độ ăn,
luyện tập đặc biệt việc xử dụng các thực phẩm có chứa nhiều mỡ trong chế độ ăn hàng
ngày ở bệnh nhân ĐTĐ còn tùy tiện chưa có sự phối hợp chặt chẽ với các nhà dinh dưỡng
và bác sĩ điều trị dẫn đến hạn chế kết quả điều trị và phòng ngừa các biến chứng cho bệnh
nhân.Bên cạnh đó các yếu tố như tăng cân, béo phì, thói quen ăn nhiều, ít vận động cũng
hạn chế kết quả điều trị rối loạn lipid máu, các yếu tố như xơ vữa động mạch, tăng huyết
áp, tăng đường huyết kéo dài không kiểm soát cũng làm tăng nguy cơ kháng Insulin, làm
tăng mức độ rối loạn lipid máu càng trầm trọng hơn.Đây là vòng xoắn bệnh lý ở bệnh
nhân ĐTĐ, nếu không điều trị kịp thời sẽ làm tăng thêm các biến chứng cho bệnh nhân.
[9]
KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu 100 bệnh nhân đái tháo đường typ 2 điều trị ngoại trú tại phòng khám
Nội A Bệnh viện đa khoa Quảng nam chúng tôi rút ra kết luận sau:
7
1. Đặc điểm nhóm bệnh nhân: nữ chiếm tỷ lệ nhiều hơn nam,tuổi chủ yếu từ 50 đến
70 tuổi, cao trung bình 1,59 ± 0,05 m, cân nặng 63,36 ± 7,84 kg, có 33% béo phì
dạng nam, 60% béo phì độ I, 26% có cao huyết áp.
2. Có 83% có rối loạn ít nhất 1 thành phần lipid máu, trong đó rối loạn lipid máu đơn
thuần chiếm 32% chủ yếu là tăng Triglycerid 22%, rối loạn lipid máu hỗn hợp
chiếm 61% trong đó tăng Cholesterol toàn phần+ tăng LDL- cholesterol+ tăng

viện Nội tiết trung ương. Báo cáo toàn văn các đề tài khoa học.Hội nghị khoa học toàn
8
quốc chuyên nghành nội tiết và chuyển hóa lần thứ 3.Nhà xuất bản Y học, Hà nội
2007.661-669.
8. Nguyễn Kim Lương, Thái Hồng Quang ( 2000), Bệnh mạch máu và rối loạn
chuyển hóa lipid ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2, kỷ yếu công trình “ nội tiết và các rối
loạn chuyển hóa”.Nhà xuất bản Y học, trang 411-417.
9.Cao Mỹ Phượng và cộng sự ( 2007).Nghiên cứu rối loạn lipid máu ở bệnh nhân
tăng huyết áp trên 40 tuổi tại tỉnh Trà vinh. Báo cáo toàn văn các đề tài khoa học.Hội
nghị khoa học toàn quốc chuyên nghành nội tiết và chuyển hóa lần thứ 3.Nhà xuất bản Y
học,Hà nội 2007.88-98.
10. Đỗ Trung Quân ( 2009).Nhận xét về đái tháo đường typ 2 và rối loạn lipid
máu.Tạp chí Nội khoa 01/2009.460-464.
11. Nguyễn Hải Thủy ( 2001).Triglycerid và đái tháo đường.Kỷ yếu toàn văn các
đề tài khoa học Đại hội nội tiết và đái tháo đường Việt nam lần thứ 1 tháng 1/ 2001.
12.Trần Vĩnh Thủy ( 2007).Hiệu quả điều trị rối loạn lipid máu bằng Mediator ở
bệnh nhân đái tháo đừong typ 2 điều trị tại khoa nội bệnh viện đa khoa trung ương Thái
nguyên. Báo cáo toàn văn các đề tài khoa học.Hội nghị khoa học toàn quốc chuyên
nghành nội tiết và chuyển hóa lần thứ 3.Nhà xuất bản Y học, Hà nội 2007.871-878.
13. Trần Văn Trung, Phan Nam Hùng, Nguyễn Văn Tâm, Huỳnh thị Dung, Nguyễn
Bá Hảo.( 2004) Rối loạn lipid máu ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2 không béo phì tại
bệnh viện đa khoa tỉnh Bình định. .Kỷ yếu các đề tài nghiên cứu khoa học hội nghị nội
tiết đái tháo đường miền trung mở rộng lần thứ IV.291-295.
14.J. LARRY JAMESON, HENRY G. BURGER: Lipid abnormalities in diabetes
melitus. Endocrinology volume 1.Copyright 2001 by WB.Saunder Company.USA. 1544-
1550.
15. Reneth L.Becker: Lipoprotein Disorders.In Principles and practive of
Endoclinology and metabolism.Copright 2001 by Lippincott Williams and Wilkins,
Philadenphia.1513-1527.
16. World heath organization.Report of a WHO consultation.Part 1: Diagnossis and


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status