BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
NGUYỄN HẢI KIM LONG
HỢP ĐỒNG THẾ CHẤP NHÀ Ở HÌNH
THÀNH TRONG TƢƠNG LAI THEO
PHÁP LUẬT VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
TP.Hồ Chí Minh – năm 2019
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
NGUYỄN HẢI KIM LONG
HỢP ĐỒNG THẾ CHẤP NHÀ Ở HÌNH
THÀNH TRONG TƢƠNG LAI THEO
PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số : 8380107
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :
TS.LÊ VĂN HƢNG
TP.Hồ Chí Minh - Năm 2019
4.3 Phạm vi nghiên cứu ............................................................................. 5
5. Các phương pháp tiến hành nghiên cứu .......................................................... 5
5.1. Phương pháp nghiên cứu .................................................................... 5
6. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài ............................................................................. 6
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÀI SẢN, TÀI SẢN HTTTL - NHÀ Ở
HTTTL ............................................................................................................... 7
1.1. KHÁI QUÁT TÀI SẢN VÀ TÀI SẢN HTTTL ....................................... 7
1.1.1. Khái niệm về tài sản: ................................................................................. 7
1.1.2. Đặc điểm cơ bản của tài sản: ................................................................... 10
1.1.3. Khái niệm tài sản HTTTL: ...................................................................... 11
1.1.4. Đặc điểm của tài sản HTTTL: ................................................................. 11
1.1.5.Thế chấp tài sản HTTTL: ......................................................................... 12
1.2. KHÁI QUÁT VỀ NHÀ Ở HTTTL: ........................................................ 15
1.2.1. Khái niệm nhà ở HTTTL: ....................................................................... 15
1.2.2. Đặc điểm của nhà ở HTTTL: .................................................................. 16
1.2.3. Pháp luật điều chỉnh giao dịch Nhà ở HTTTL:....................................... 16
1.2.3.1. Chủ thể tham gia giao dịch: ........................................................ 17
1.2.3.2. Đối tượng của giao dịch: ............................................................ 18
1.2.3.3. Hình thức của giao dịch .............................................................. 20
1.2.3.4. Giao dịch thế chấp Nhà ở HTTTL: ............................................ 21
CHƢƠNG 2: PHÁP LUẬT HỢP ĐỒNG THẾ CHẤP NHÀ Ở HTTTL
........................................................................................................................... 31
2.1. QUY ĐỊNH ĐIỀU CHỈNH HỢP ĐỒNG DÂN SỰ VỀ NHÀ Ở .......... 31
2.1.1. Hình thức của Hợp đồng: ....................................................................... 31
2.1.2. Nội dung của Hợp đồng: ......................................................................... 31
2.1.3. Hiệu lực của Hợp đồng dân sự về nhà ở: ................................................ 32
2.2. PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG THẾ CHẤP NHÀ Ở HTTTL ............. 33
2.2.1. Khái quát về Hợp đồng thế chấp Nhà ở HTTTL: ................................... 33
3.1.4.1. Nhà ở HTTTL bị thế chấp nhiều lần. ......................................... 60
3.1.4.2. Nhà ở HTTTL đã bán nhưng vẫn bị thế chấp ............................ 61
3.1.4.3.Trường hợp Hợp đồng mua bán nhà ở HTTTL bị chấm dứt ...... 63
3.2. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM TĂNG CƢỜNG HIỆU QUẢ THỰC HIỆN
PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG THẾ CHẤP NHÀ Ở HTTTL .................... 64
3.2.1. Ban hành văn bản hướng dẫn định giá Nhà ở HTTTL ........................... 64
3.2.2. Ban hành văn bản hướng dẫn và chế tài để xử lý hợp đồng thế chấp Nhà ở
HTTTL: ............................................................................................................. 64
3.2.3. Điều chỉnh các quy định của pháp luật: .................................................. 65
3.2.4. Xây dựng hệ thống thông tin công khai: ................................................. 66
KẾT LUẬN ............................................................................................ 68
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BLDS
BLDS
LNỞ
Luật Nhà Ở
Luật KDBĐS
Luật kinh doanh bất động sản
TSHTTTL
viết đã lựa chọn đề tài : “Hợp đồng thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai
theo pháp luật Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu với mong muốn tìm hiểu những
những nguyên nhân rủi ro, sai phạm trong quá trình thực hiện hợp đồng. Từ đó
đưa ra các giải pháp góp phần hoàn thiện các quy định pháp luật, bảo vệ tốt nhất
quyền lợi của người dân.
Luận văn sử dụng các phương pháp phân tích luật, so sánh pháp luật và
nghiên cứu tình huống (case studies) trong thực tiễn ký kết và áp dụng của HĐ
thế chấp Nhà ở HTTTL. Từ đó, người viết đã rút ra được kết luận về những
nguyên nhân rủi ro, sai phạm do những quy định pháp luật hiện hành và đề xuất
hướng giải quyết cho phù hợp. Điều này góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật
liên quan, bảo vệ tốt nhất quyền lợi của người dân.
TỪ KHÓA
Hợp đồng ; thế chấp nhà ở HTTTL; Pháp luật Việt Nam
2
ABSTRACT
There are numerous laws nowadays regulating the mortgage of off-plan
housing, which however have encountered many problems when implemented. This
circumstance has resulted in the difficulties in the handling and settlement of the
collateral and impacted the rights and entitlements of the parties involved in the
mortgage of off-plan housing.
Recognizing the need to research the legal issues in relation to the settlement
of collateral under the off-plan housing mortgage contract, the author has selected
the topic: “The mortgage of off-plan housing under Vietnam Laws” as the research
topic to understand the rationale of risks and violations occurred during the
contract implementation. Upon such research, the solutions to improve the legal
provisions and perfect the peoples’ entitlement have also been proposed.
Trong đó, thế chấp Nhà ở HTTTL hiện đang phát triển và ngày càng phổ biến trong
xã hội hiện nay.
Theo nghiên cứu của người viết, mặc dù đã có các quy định pháp luật điều
chỉnh các giao dịch về TSHTTTL. Tuy nhiên, các quy định này vẫn chưa đầy đủ
đặc biệt là các quy định điều chỉnh về loại tài sản là Nhà ở HTTTL. Vì vậy, trong
trường hợp phát sinh tranh chấp sẽ khó để giải quyết và bảo vệ quyền lợi của các
bên tham gia giao dịch đối với Nhà ở HTTTL. Do vậy, việc nghiên cứu các quy
định pháp luật đối với loại tài sản là Nhà ở HTTTL là phù hợp nhằm nghiên cứu các
cơ sở pháp lý và đưa ra các đề xuất và kết luận để điều chỉnh chặt chẽ và phù hợp
với thực tiễn phát triển của xã hội và nền kinh tế thị trường và hết sức cần thiết.
Chính vì vậy, người viết lựa chọn đề tài “Hợp đồng thế chấp nhà ở hình
thành trong tương lai theo pháp luật Việt Nam” để làm đề tài nghiên cứu của mình.
4
2. Câu hỏi nghiên cứu
Luận văn được thực hiện nhằm làm rõ các câu hỏi nghiên cứu :
1- Thứ nhất, mọi trường hợp ký kết HĐ thế chấp Nhà ở HTTTL đều được
pháp luật công nhận?
2- Thứ hai, tại sao việc đăng ký thế chấp trải qua rất nhiều thủ tục từ việc ký
kết hợp đồng cho đến việc đăng ký giao dịch đảm bảo nhưng vẫn xảy ra
sai phạm?
3- Thứ hai, tại sao pháp luật đã có rất nhiều quy định điều chỉnh nhưng vẫn
có những trường hợp khó xử lý vi phạm?
4- Thứ ba, giá trị thi hành của HĐ thế chấp nhà ở HTTTL như thế nào?
3. Tình hình nghiên cứu
Hiện đã có một số các công trình nghiên cứu về các quy định của pháp luật liên
quan đến TSHTTTL như sau:
-
cũng như giá trị thi hành của HĐ thế chấp Nhà ở HTTTL tương ứng với từng
trường hợp phát sinh cụ thể trong quá trình áp dụng vào thực tiễn.
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn tập trung chủ yếu vào HĐ thế chấp Nhà
ở HTTTL
4.3 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng áp dụng của HĐ
thế chấp nhà ở HTTTL trong phạm vi thành phố Hồ Chí Minh
- Về thời gian: Luận văn tập trung nghiên cứu hệ thống văn bản pháp luật có
liên quan đang có hiệu lực pháp luật tại năm 2019. Trong đó, có một số nội dung sẽ
đối chiếu với một số các văn bản trước đây để làm rõ tính mới của hệ thống pháp
luật.
5. Các phƣơng pháp tiến hành nghiên cứu
5.1. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau
đây:
- Phương pháp phân tích luật: Luận văn được hoàn thành trên cơ sở sử dụng
phương pháp phân tích luật. Người viết thông qua nghiên cứu, tổng hợp các văn bản
pháp luật có liên quan, điều chỉnh trực tiếp các vấn đề, từ đó tiến hành phân tích và
rút các các nhận định hướng giải quyết để trả lời các câu hỏi nghiên cứu.
- Phương pháp so sánh pháp luật: Tại mục 1.1.1, người viết áp dụng phương
pháp so sánh pháp luật với một số hệ thống luật của các nước Nga, Pháp để phân
tích những điểm hay và không hay đối với các vấn đề có liên quan trong hệ thống
pháp luật Việt Nam hiện hành
- Phương pháp nghiên cứu tình huống (case studies): Người viết đã sử dụng
phương pháp nghiên cứu tình huống để áp dụng vào tình huống đã xảy ra trong thực
6
7
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÀI SẢN, TÀI SẢN HTTTL - NHÀ Ở
HTTTL
1.1. KHÁI QUÁT TÀI SẢN VÀ TÀI SẢN HTTTL
1.1.1. Khái niệm về tài sản:
Tài sản là một cụm từ khá phổ biến trong xã hội hiện nay. Người dân khi bắt
gặp cụm từ này đều có thể hiểu và liên tưởng ngay đến tài sản bao gồm nhưng gì.
Tuy đây là cụm từ rất thông dụng và phổ biến, nhưng vẫn chưa có ai đưa ra được
khái niệm và định nghĩa cụ thể về tài sản là gì..?
Tham khảo BLDS Pháp (Code Civil) năm 1804, người viết nhận thấy BLDS
pháp dành hẳn quyển thứ 2 (Livre II) để nói về “Tài sản và những biến thể khác
của sở hữu”. Cụ thể:
Điều 516 quy định : “Tous les biens sont meubles ou immeubles”1. Theo đó,
BLDS Pháp quy định rất rõ Tài sản có thể là động sản hay bất động sản.
Điều 517 quy định: “Les biens sont immeubles ou par leur nature, ou par
leur destination, ou par l’objet auquel ils s’appliquent” và Điều 527 quy định: “Les
biens sont meubles par leur nature, ou par la détermination de la loi”2. Theo đó,
Bản thân BLDS Pháp cũng định nghĩa rất rõ bất động sản là loại tài sản bất động
theo bản chất của nó hoặc bởi mục đích hoặc bởi các đối tượng mà nó áp dụng,
động sản là loại tài sản có thể di chuyển theo bản chất của nó hoặc bằng việc xác
định theo quy định của pháp luật
Theo các quy định trên, có thể thấy rằng người Pháp đã nhận thức về tài sản
từ rất sớm và đã pháp luật hóa các định nghĩa về tài sản vào trong BLDS Pháp năm
1804, và các quy định này vẫn còn giá trị cho đến thời điểm hiện tại. Điều này cho
ta thấy bản chất của tài sản hầu như không thay đổi.
1
cho việc thực thi các quy định có liên quan về các giao dịch về tài sản.
Do nhận thấy được sự bất cập từ những nội dung khái niệm về tài sản trong
BLDS năm 1995, các nhà làm luật đã ban hành BLDS năm 2005 với những nội
dung quy định về tài sản đã được sửa đổi, cụ thể tại Điều 163 quy định : “Tài sản
3
Điều 128, BLDS Liên Bang Nga, năm 1994
9
bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”4. Như vậy, BLDS năm 2005
đã loại bỏ yếu tố “vật có thật”, điều này đã tháo gỡ phần nào những hạn chế trong
các khái niệm về tài sản được nêu ra trong BLDS năm 1995, giúp cho việc giao
dịch các loại tài sản được dễ dàng hơn.
Xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu về sở hữu tài sản của con người sẽ càng
tăng, từ đó thúc đẩy cho việc xuất hiện ngày càng nhiều và đa dạng các loại tài sản.
Do đó, các chế định về tài sản được quy định trong BLDS năm 2005 sẽ lỗi thời và
không thể điều chỉnh kịp thời các loại tài sản mới, cũng như những giao dịch phát
sinh từ những loại tài sản mới được hình này. Vì vậy, BLDS năm 2015 đã được ban
hành trên tinh thần kế thừa, phát triển các quy định từ 02 BLDS năm 1995 và BLDS
năm 2005.
Bản thân nội dung trong BLDS năm 2015 cũng không định nghĩa cụ thể như
thế nào là tài sản. Theo nội dung tại Điều 105 BLDS năm 2015, các nhà làm luật
liệt kê tài sản bao gồm những loại: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài
sản; Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là
tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai”5. Khi đối chiếu các nội dung
về tài sản được ghi nhận trong BLDS năm 2015 với các BLDS của các nước khác,
người viết nhận thấy BLDS năm 2015 đã kế thừa một số các nội dung từ các quy
sản phải có giá. Giá được tính bằng đơn vị tiền tệ cụ thể. Đây là đặc điểm
quan trọng và cần thiết nhất của tài sản vì nó là cơ sở giúp cho con người xác
định được giá trị cao thấp của một tài sản, biết được tài sản này có giá trị hay
không. Từ đó, con người mới có thể thực hiện việc xác lập các giao dịch phát
sinh mà đối tượng chủ yếu trong đó là đến tài sản này để phục vụ nhu cầu
của con người.Tuy nhiên, cũng có một vài trường hợp các loại tài sản đặc
biệt không có giá hoặc không thể định giá như là “quyền tài sản” mà trong
BLDS năm 2015 đã đề cập.
-
Tài sản phải đáp ứng nhu cầu, lợi ích cụ thể của chủ tài sản về mặt vật chất
hoặc tinh thần: theo đó, tài sản phải đáp ứng cho chủ sở hữu các nhu cầu, lợi
ích về mặt vật chất hoặc tinh thần. Tức là, tài sản phải phục vụ cho nhu cầu
của con người, nhu cầu đó có thể là lợi ích về giá trị mà tài sản đó mang lại
cho con người khi sở hữu tài sản chấp nhận thực hiện việc mua hoặc bán
hoặc thực hiện một hình thức khác hoặc lợi ích về tinh thần khi chủ sở hữu
tài sản thông qua việc sáng tạo ra tài sản mà tài sản này chưa thể định giá
hoặc không có giá trị về mặt vật chất.
-
Tài sản phải được pháp luật công nhận: đặc điểm cuối cùng của tài sản đó là
tài sản đó phải được pháp luật công nhận. Đây cũng là một đặc điểm quan
trọng bởi tính chất phải được pháp luật công nhận – tức là tài sản đó phải
được quy định và điều chỉnh trong BLDS, bởi vì nó ảnh hưởng đến việc thực
11
Điều 105, BLDS, năm 2015
12
-
Thời điểm hình thành: Như đã phân tích, TSHTTTL tức là chưa tồn tại ở
thời điểm thực hiện giao dịch tài sản này chưa được hình thành. Tuy nhiên,
mặc dù chưa hình thành nhưng phải thỏa mãn điều kiện là có cơ sở chứng
minh cho việc tài sản này chắc chắn sẽ hình thành ở tương lai. Khi đó, các cơ
quan có thẩm quyền mới có cơ sở công nhận TSHTTTL.
-
Quyền sở hữu đối với TSHTTTL: là căn cứ để xác lập, thay đổi và chấm dứt
các quyền của chủ sở hữu đối với TSHTTTL. Do bản chất TSHTTTL cũng
là tài sản như phân tích ở trên nên chủ sở hữu TSHTTTL cũng có quyền
tương tự sở hữu về tài sản . Tuy nhiên, quyền sở hữu TSHTTTL là chưa đầy
đủ và chỉ có thể áp dụng trong một số các giao dịch và tùy từng trường hợp
cụ thể theo quy định mà pháp luật ban hành.
-
Về thực hiện giao dịch: Chỉ được thực hiện các giao dịch khi thỏa mãn các
điều kiện do Luật định: Đối với TSHTTTL thì điều kiện để thực hiện các
giao dịch liên quan bao gồm:
Một là: TSHTTTL sử dụng vào giao dịch phải là “vật”. “Vật” ở đây có
thể là động sản hoặc bất động sản….
Hai là: TSHTTTL có thể không phải của bên vay vốn nhưng bắt buộc là
luật thời bấy giờ. Việc quy định như vậy sẽ gặp nhiều bất cập trong áp dụng thực
tiễn vì trên thực tế, đối tượng trong quan hệ thế chấp tài sản thường rất đa dạng và
phong phú, không chỉ là bất động sản mà còn có thể là động sản.
Do đó, sau 10 năm áp dụng và thực thi khái niệm về thế chấp tài sản thì
BLDS năm 1995 bộc lộ nhiều bất cập, chính vì vậy, các nhà làm luật đã điều chỉnh
khái niệm về thế chấp tài sản trong BLDS năm 2005 như sau: “Thế chấp tài sản là
việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để
bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế
chấp) và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp”9. Việc ghi nội dung
7
Điều 317, BLDS, năm 2015
8
Khoản 1 Điều 346, BLDS, năm 1995
9
Khoản 1 Điều 342, BLDS, năm 2005
14
như vậy, BLDS năm 2005 thể hiện những bước tiến đáng kể trong nhận thức cũng
như khả năng lập pháp của các nhà làm luật, bắt kịp sự phát triển của xã hội.
Ngoài ra, giữa BLDS năm 2005 và BLDS năm 2015 cũng có sự khác biệt về
khái niệm thế chấp tài sản ở chỗ BLDS năm 2005 quy định “……bảo đảm thực hiện
nghĩa vụ dân sự đối với bên kia….”, còn BLDS năm 2015 quy định “……để bảo
tương lai thì quyền sở hữu của bên thế chấp chưa được xác lập tại thời điểm thực
hiện việc thế chấp. Vì vậy, pháp luật quy định trình tự thủ tục đối với việc thế chấp
tài sản hình thành trong tương lai chặt chẽ hơn để đảm bảo tốt nhất quyền lợi của
người dân.
1.2. KHÁI QUÁT VỀ NHÀ Ở HTTTL:
1.2.1. Khái niệm nhà ở HTTTL:
Theo định nghĩa của Luật Nhà Ở năm 2014 thì : “nhà ở là công trình xây
dựng với mục đích để ở và phục vụ các nhu cầu sinh hoạt của hộ gia đình, cá
nhân”11.
Theo định nghĩa tại Luật KDBĐDS quy định: “Nhà, công trình xây dựng
hình thành trong tương lai là nhà, công trình xây dựng đang trong quá trình xây
dựng và chưa được nghiệm thu đưa vào sử dụng”12.
Như vậy, hiểu theo một cách đơn giản nhất thì Nhà ở HTTTL là loại nhà
chưa được hình thành và có các điều kiện, cơ sở pháp lý nhằm xác định rằng nhà ở
đó chắn chắn được xây dựng và hoàn thành ở trong tương lai không xa. Căn cứ vào
các quy định nêu trên, theo người viết, xét về bản chất thì Nhà ở HTTTL là một loại
tài sản hình thành trong tương lai nên có các đặc điểm và tính chất của tài sản hình
10
Điều 1, Nghị định 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 sửa đổi, bổ sung Nghị định
163/2006/NĐ-CP quy định về giao dịch đảm bảo.
11
Khoản 1, Điều 3 LNỞ, năm 2014
12
Khoản 4, Điều 3 Luật KDBĐDS, năm 2014
mang lại tỷ lệ xảy ra rủi ro cao hơn so với các loại tài sản đã hình thành khác.
-
Về xác lập giao dịch: về bản chất Nhà ở HTTTL cũng như TSHTTTL, là
một trong những loại tài sản đặc biệt. Do đó, giao dịch Nhà ở HTTTL chỉ
được thực hiện khi thỏa mãn các điều kiện do Luật định.
1.2.3. Pháp luật điều chỉnh giao dịch Nhà ở HTTTL:
Pháp luật liên quan đến Nhà ở HTTTL là hệ thống các quy tắc, xử sự do Nhà
Nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ pháp luật có liên quan đến các giao
17
dịch phát sinh giữa các chủ thể trong quá trình giao kết và thực hiện các giao dịch
về Nhà ở HTTTL nhằm bảo vệ quyền lợi của các chủ thể tham gia vào giao dịch.
1.2.3.1. Chủ thể tham gia giao dịch:
Chủ thể tham gia giao dịch Nhà ở HTTTL cũng giống như các chủ thể tham
gia các giao dịch dân sự thông thường. Khi tham gia vào quan hệ giao dịch, các thủ
thể có quyền và nghĩa vụ ngang nhau theo luật định. Chủ thể tham gia giao dịch có
thể là cá nhân hoặc pháp nhân. Ngoài ra, còn có các chủ thể đặc biệt và hạn chế
như hộ gia đình, tổ hợp tác. Các thủ thể muốn tham gia vào giao dịch Nhà ở
HTTTL phải đáp ứng các điều kiện do pháp luật quy định tại Luật Nhà Ở như sau:
“1. Bên bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở, chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà
ở thương mại, tặng cho, đổi, để thừa kế, thế chấp, góp vốn, cho mượn, cho ở nhờ,
ủy quyền quản lý nhà ở phải có điều kiện sau đây:
a) Là chủ sở hữu nhà ở hoặc người được chủ sở hữu cho phép, ủy quyền để thực
hiện giao dịch về nhà ở theo quy định của Luật này và pháp luật về dân sự; trường
hợp chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở thương mại thì phải là người đã mua
điều kiện của các chủ thể khi tham gia vào xác lập những giao dịch liên quan đến
nhà ở so với các quy định trược đây trong Luật Nhà ở năm 2005. Những nội dung
được quy định thêm mặc dù tạo nên sự khó khăn trong khi thực hiện các giao dịch,
nhưng theo người viết đứng trước tình phát triển của xã hội, kéo theo sự gia tăng
đáng kể rủi ro trong các giao dịch về nhà ở như hiện nay thì việc phải siết chặt các
điều kiện mà các chủ thể phải đáp ứng trước khi tham gia ký kết/xác lập giao dịch
về nhà ở là phù hợp, thể hiện sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước, bảo vệ quyền lợi
cho người dân.
1.2.3.2. Đối tượng của giao dịch:
Đối tượng chính trong các giao dịch Nhà ở HTTTL là nhà ở nên ngoài các
quy định trong BLDS thì các giao dịch về Nhà ở HTTTL còn chịu sự điều chỉnh của
LNỞ. Theo quy định tại Luật Nhà Ở quy định điều kiện của nhà ở tham gia giao
dịch như sau:
13
Điều 119, LNỞ, năm 2014