1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Chấn thương cột sống là thương tích phổ biến ở các nước trên thế giới và
có xu hướng ngày càng tăng do tai nạn lao động, giao thông, sinh hoạt, thể
thao, thiên tai và chiến tranh... gây ra. Theo thống kê tại Mỹ, hàng năm có
khoảng từ 20 đến 64 trường hợp CTCS trên 100.000 dân/năm, chi phí tốn
kém hàng tỷ đô la cho việc điều trị cho bệnh nhân [13], trong đó chấn thương
cột sống vùng ngực - thắt lưng là hay gặp nhất và phần lớn kèm theo tổn
thương tuỷ sống. Chấn thương cột sống lưng - thắt lưng là thương tổn ở đoạn
cột sống từ đốt sống ngực 11 đến đốt sống thắt lưng 2. Chấn thương cột sống
lưng – thắt lưng là loại chấn thương thường gặp trong tai nạn lao động, giao
thông và sinh hoạt. Chấn thương cột sống lưng - thắt lưng chiếm phần lớn trong
tổng số chấn thương cột sống (CTCS), tuy ít khi tử vong nhưng để lại di chứng
rất nặng nề, ảnh hưởng nhiều đến đời sống người bệnh, gia đình và xã hội.
Ở Việt Nam bệnh nhân chấn thương cột sống lưng - thắt lưng ngày một
nhiều, nhưng một số ít được điều trị sau giai đoạn cấp, còn phần lớn trở về
nhà không qua giai đoạn điều trị phục hồi – đây là một giai đoạn hết sức quan
trọng, một số đã tử vong khi về nhà, số khác phải tái nhập viện vì các biến
chứng nặng do di chứng liệt gây ra. Đồng thời, những di chứng do liệt 2 chi
dưới sau chấn thương cột sống ảnh hưởng rất lớn đến người bệnh, trong đó có
88,8% không làm được việc gì, 11,2% chỉ làm được việc nhẹ [8]. Chính vì
vậy, việc điều trị sớm cho bệnh nhân sau chấn thương cột sống là vô cùng
quan trọng.
Hiện nay, tại khoa Cột sống ít xâm lấn tại bệnh viện Châm cứu trung
ương đã tiếp nhận điều trị rất nhiều ca liệt 2 chi dưới sau chấn thương cột
sống lưng - thắt lưng đã phẫu thuật. Tình trạng này không những ảnh hưởng
đến khả năng lao động, sinh hoạt của bệnh nhân mà còn trở thành gánh nặng
và đốt sống trục C2 cho phép đầu quay sang bên.
- Các đốt sống từ ngực 1 (T1) đến ngực 10 (T10) nối với các xương sườn
tạo thành lồng ngực, hai đốt T11 và T12 nối với 2 xương sườn cụt. Các đốt
sống ngực cử động hạn chế do bởi khung sườn.
- Các đốt sống thắt lưng có cấu tạo to hơn do phải chịu lực phần lớn của cơ
thể. Tầm hoạt động của đốt sống lưng rộng hơn, cúi ngữa, nghiêng và xoay.
- Các xương cùng liền nhau, hai bên có các lổ nhỏ cho các dây thần
kinh đi qua.
- Cuối cùng là xương cụt.
Các đốt sống tư C1 đến L2 có lỗ sống tạo nên ống sống, bảo vệ tủy sống.
Tủy sống là đường thần kinh từ não chạy theo ống sống. Từ tủy sống các dây
thần kinh đi khắp cơ thể. Các cảm giác và vận động thu được là nhờ thông tin
đi qua tủy sống, ngoài ra còn chi phối dinh dưỡng, vận mạch.
Cột sống lưng – thắt lưng trong nghiên cứu đề tài là khu vực tiếp giáp
giữa cột sống ngực (là đoạn cột sống “cố định”) và cột sống thắt lưng (là đoạn
cột sống “di động”). Khu vực này kéo dài từ đốt sống ngực thứ 11 đến hết đốt
sống thắt lưng thứ 2. Ngoài đặc điểm là khu vực tiếp giáp giữa đoạn cột sống
“cố định” với đoạn cột sống “di động”, khu vực này còn có một đặc điểm giải
4
phẫu khác biệt so với các vùng khác là ở khu vực này có đoạn cuối của tủy
sống, gọi là phình thắt lưng và chóp tủy. Ở đoạn này tủy phình to rồi thon lại
và kết thúc thành một chóp nhọn gọi là chóp tủy. Chóp tủy thường nằm ở vị
trí giữa đốt sống thắt lưng 1 và đốt sống thắt lưng 2. Trong khu vực phình thắt
lưng và chóp tủy có nhiều trung tâm thần kinh quan trọng chỉ huy toàn bộ
hoạt động của hai chân và hoạt động niệu, sinh dục.
Hình 1.1. Giải phẫu cột sống
Thương tổn cột giữa có mảnh rời.
Thương tổn có nguy cơ biến dạng cột sống sau này.
+ Mất vững độ II (mất vững thần kinh): chấn thương có thương tổn
thần kinh.
+ Mất vững độ III: vừa mất vững cơ học vừa mất vững thần kinh.
Hình 1.2. Các cột vững theo lý thuyết của Dennis
6
Tỷ lệ gãy từ 2 cột trở lên rất cao, đồng nghĩa với việc cột sống bị mất
vững một cách trầm trọng. Trong nhiều trường hợp, tủy bị thương tổn do các
mảnh vỡ của xương, đĩa đệm, dây chằng hoặc bản thân các đốt sống di lệch
chèn ép vào, vì vậy phải phẫu thuật để cố định lại đốt sống
Hình 1.3. Chấn thương cột sống thắt lưng đã được nẹp vis
1.3. Tủy sống
Ở người trưởng thành, tủy sống dài khoảng 42-45cm, nặng trung bình 30
gam [1], nối tiếp ở phía trên với hành tủy, kết thúc ở chóp tủy. Chóp tủy hình
thành từ chỗ xuất phát của rễ cùng S4 và kết thúc ở dưới chỗ xuất phát của rễ cụt.
Tủy sống nằm trong ống sống nhưng không chiếm hết lòng ống sống và
ngắn hơn ống sống do cột sống phát triển nhanh hơn tủy sống. ở ngang mức
bờ trên thân đốt sống L2, tủy sống kết thúc ở chóp tủy, dưới đó chỉ có các rễ
thần kinh và dây tận cùng tạo thành đuôi ngựa đi xuống ống sống cùng. Các
thần kinh ngực - thắt lưng chui ra qua lỗ gian đốt sống tương ứng nhưng đoạn
tủy nằm cao hơn so với đốt sống tương ứng. Đốt T11 và khoảng liên gai ngay
dưới, liên quan đến ba đoạn tủy của ba đôi dây thần kinh L1, L2, L3. Đốt T12
và khoảng liên gai ngay dưới liên quan với nguyên ủy các dây thần kinh cùng.
nervous system - CNS). Tủy sống điều phối cử động và cảm giác của cơ thể.
Tủy sống bao gồm các nơron và các sợi thần kinh dài được gọi là các sợi trục
(axon). Các sợi trục trong tủy sống có nhiệm vụ truyền những tín hiệu từ bộ
não xuống (dọc theo các đường nhỏ đi xuống) và truyền lên trên bộ não (dọc
theo các đường nhỏ đi lên. Bộ não và tủy sống bị giới hạn trong các khoang
xương bảo vệ nhưng việc này lại làm cho chúng dễ bị tổn thương sức ép do
tình trạng sưng tấy hoặc chấn thương mạnh. Tổn thương tuỷ sống (TTTS) là
tổn thương đối với các dây thần kinh trong ống tủy sống; phần lớn các trường
hợp TTTS có nguyên nhân do chấn thương cột sống gây nên. Do đó nó gây
ảnh hưởng đến khả năng của tủy sống trong việc gửi và nhận tín hiệu từ não
đến các hệ của cơ thể điều khiển cảm giác, vận động và chức năng tự chủ của
cơ thể dưới mức tổn thương.
1.6. Sinh lý bệnh sau chấn thương tủy sống
Diễn biến bệnh lý sau chấn thương tủy sống có thể phân theo 2 cơ chế :
thương tổn tiên phát và thứ phát [10]. Thương tổn tiên phát do lực chấn
thương tác động trực tiếp lên tổ chức tủy làm đứt các sợi trục, dập nát các tế
bào thần kinh, đứt các mạch máu. Thương tổn thứ phát xảy ra do tủy sống bị
thiếu tưới máu do ống sống bị vỡ gây chèn ép, do chảy máu, do phù nề hoặc
do tình trạng tụt huyết áp dẫn đến hoại tử tế bào thần kinh.
Ngay sau khi bị chấn thương, tủy có thể bị sốc, biểu hiện bằng tình trạng
mất hoàn toàn các phản xạ, vận động và cảm giác phía dưới đoạn tủy bị chấn
thương. Các triệu chứng của sốc tủy, thường kéo dài từ 48 giờ - 72 giờ. Trong
giai đoạn này rất khó tiên lượng về khả năng hồi phục. Thương tổn tiên phát
và thứ phát của tủy sống, hiệu quả của sơ cứu, cấp cứu và điều trị là những
yếu tố có tính quyết định về di chứng sau này của bệnh nhân.
9
Hình 1.5. Cơ chế tổn thương tủy vùng nón tủy
+ Tiểu khó: Khi đi tiểu bệnh nhân phải rặn, đi lâu hết bãi hoặc đi mỗi lần
một ít và luôn có cảm giác buồn tiểu (cảm giác tiểu không hết bãi), thường
không kèm tiểu buốt.
+ Bí tiểu: Bệnh nhân không có cảm giác buồn tiểu hoặc vẫn có
nhưng rặn mãi không thể tiểu được vì cơ tròn không mở. Lúc đó sờ thấy bàng
quang căng phồng (cầu bàng quang). Khi bàng quang quá căng, áp lực bên
trong lớn làm nước tiểu rỉ ra ít một (tiểu do nước tiểu tiểu trào ra) hoặc kích
thích gõ bàng quang có thể làm cơ tròn mở và bệnh nhân tiểu được. Người ta
gọi là tích tủy tự động hoặc bàng quang tự động.
11
Rối loạn này thường do tổn thương cung phản xạ làm người bệnh mất
cảm giác buồn tiểu hoặc do tổn thương tủy sống các hoạt động phản xạ được
giải phóng, kích thích cơ tròn co thắt nhiều hơn gây bí tiểu. Cần phân biệt với u
xơ tiền liệt tuyến khi có tiểu khó hoặc bí tiểu ở nam giới hoặc phụ nữ có thai.
- Tiểu tự động
+ Tiểu vãi: Nước tiểu tự chảy ra, không tự ngừng được ngoài ý
muốn của bệnh nhân, thường gặp khi bệnh nhân hôn mê, tổn thương
phình tủy thắt lưng, chóp cùng đuôi ngựa…
+ Tiểu dầm: Nước tiểu tự chảy ra và tự ngừng không theo ý muốn của
người bệnh gặp trong tổn thương trên phình tủy thắt lưng nhưng không gây
tăng trương lực vòng ngoài nhiều, do tổn thương hạ khâu não hay thùy cạnh
giữa. Loại rối loạn này thường dẫn đến loét vùng cùng cụt, nhiễm khuẩn tiết
niệu ngược dòng. Tiểu tự động thường gặp trong các tổn thương nặng nề của
não, tủy. Tiên lượng nặng.
- Rối loạn cơ tròn hậu môn.
Rối loạn cơ tròn hậu môn không thường xuyên như rối loạn cơ tròn
bàng quang, nhưng nếu có thì thường đi kèm với rối loạn cơ tròn bàng quang.
kim châm. Đây là phương pháp kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp chữa bệnh
bằng châm cứu (của YHCT) với phương pháp chữa bệnh bằng xung điện (của
YHHĐ).
Do đó phương pháp điện châm có đặc điểm:
- Sử dụng tác dụng chữa bệnh của huyệt vị, kinh lạc bằng các phương
pháp châm sâu, xuyên kinh, xuyên huyệt (phương pháp mãng châm).
- Sử dụng tác dụng kích thích thần kinh và cơ của xung điện.
1.9.1. Cơ sở lý luận.
Chấn thương cột sống lưng-thắt lưng gây khí trệ huyết ứ, làm kinh mạch
tắc nghẽn, dẫn đến liệt 2 chi dưới. Do vậy việc điều trị bằng điện châm nhằm
mục đích thông kinh hoạt lạc, hành khí hoạt huyết, tiêu ứ, chọn huyệt theo
13
nguyên tắc kinh mạch sở quá, chủ trị sở cập, tức là kinh lạc đi qua vùng nào
thì chữa bệnh vùng đó, tuần kinh thủ huyệt tức là lấy ngay huyệt trên đường
kinh đi qua vùng bị bệnh. Do các bệnh nhân vào điều trị ngay sau giai đoạn cấp
cứu nên tất cả đều là thực chứng, vì vậy khi châm cứu chủ yếu dùng tả pháp.
Như vậy sẽ sử dụng các huyệt tiêu biểu nằm trên đường kinh đi qua phần
bị liệt. Ngoài ra còn sử dụng các huyệt bổ, tả toàn thân và các huyệt Giáp tích có
liên quan tới tiết đoạn thần kinh bị tổn thương chi phối vận động 2 chi dưới.
1.9.2. Phác đồ huyệt.
Kết hợp những lý luận trên cùng với tham khảo quy trình kỹ thuật điện
châm điều trị liệt do chấn thương cột sống, do Bộ Y tế ban hành theo quyết
định số 792/QĐ-BYT ngày 12/3/2013 [9], chúng tôi có phác đồ sau:
* Tả
- Giáp tích T11-L5
- Trật biên
- Thừa phù
2.1. Địa điểm và thời gian tiến hành nghiên cứu
- Địa điểm: nghiên cứu được thực hiện tại khoa Cột sống ít xâm lấn –
Bệnh viện Châm cứu TW
- Thời gian thu thập số liệu từ tháng 1/2018 đến tháng 9/2018.
2.2. Đối tượng nghiên cứu
2.2.1. Đối tượng nghiên cứu
Gồm 35 bệnh nhân liệt 2 chi dưới do chấn thương cột sống lưng - thắt
lưng từ T11 đến L2 đã phẫu thuật. Các bệnh nhân được điều trị bằng phương
pháp châm cứu trong thời gian 4 tuần.
2.2.2. Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân:
- Bệnh nhân được chẩn đoán liệt 2 chi dưới do chấn thương cột sống
lưng – thắt lưng từ T11 đến L2 đã phẫu thuật.
- Các bệnh nhân này đã được phẫu thuật tại bệnh viện Việt Đức, sau đó
được chuyển sang bệnh viện Châm cứu TW trong tình trạng các chỉ số sinh
tồn ổn định.
Các bệnh nhân liệt 2 chi dưới do chấn thương cột sống lưng-thắt lưng
được phân loại mức độ chấn thương cột sống theo Frankel [12] và đánh giá
mức độ liệt theo Henry và cộng sự năm 1984
16
Bảng 2.1. Phân loại mức độ chấn thương cột sống theo Frankel
Loại
Triệu chứng
A
Không còn vận động, cảm giác nào dưới tổn thương
Liệt vừa
Sức cơ 3 điểm Còn nâng được chi lên khỏi giường
III Liệt nặng
Sức cơ 2 điểm Còn co duỗi chi khi có tì
IV Liệt rất nặng
Sức cơ 1 điểm Chỉ còn biểu hiện co cơ
V
Liệt hoàn toàn Sức cơ 0 điểm Không co cơ
2.2.3. Tiêu chuẩn loại trừ
- Các trường hợp đa chấn thương khác gây hạn chế vận động tại 2 chi dưới.
- Các bệnh nhân có kèm theo chấn thương sọ não, gây sai lệch đánh giá.
- Bệnh nhân có các bệnh lý kèm theo có liên quan đến tủy sống như trượt
đốt sống, u tủy.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp Tiến cứu, không có đối chứng.
2.4. Các bước tiến hành nghiên cứu
- Lựa chọn bệnh nhân theo tiêu chuẩn nghiên cứu.
17
Ghi chép, đánh giá đầy đủ thông tin cần thiết cho nghiên cứu. Tìm
* Bước 4. Rút kim, sát khuẩn da vùng huyệt vừa châm.
2.5.3. Liệu trình điều trị
- Điện châm ngày một lần.
- Thời gian 25 - 30 phút cho một lần điện châm.
2.6. Xử lý số liệu
Số liệu được xử lý trên máy tính với phần mềm SPSS 22.0
2.7. Đạo đức trong nghiên cứu
Đây là nghiên cứu đánh giá kết quả điều trị bằng điện châm, phương
pháp đã được thực hiện thường quy tại bệnh viện Châm cứu TW, theo đúng
chỉ định phù hợp với lâm sàng của bệnh nhân, nên không gây tổn hại về sức
khỏe thể chất cũng như tinh thần cho bệnh nhân.
19
CHƯƠNG 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Gồm 35 bệnh nhân liệt 2 chi dưới do chấn thương cột sống lưng-thắt
lưng từ T11 đến L2, đã được điều trị bằng phẫu thuật cố định cột sống tại
bệnh viện Việt Đức, sau đó được điều trị bằng châm cứu tại khoa Cột sống ít
xâm lấn – Bệnh viện châm cứu TW từ tháng 1/2018 đến tháng 9/2018
Bảng 3.1. Tỷ lệ giới tính
Giới tính
Số lượng
Tỷ lệ
20-40
14
40%
41-60
18
51,4%
>61
2
5,7%
Tổng
35
100%
Nhận xét:
Qua bảng 2 tôi thấy độ tuổi bị bệnh tập trung chủ yếu ở độ tuổi lao động
từ 20-60 tuổi, trong đó độ tuổi từ 41-60 chiếm tỉ lệ đông nhất với 51,4% số ca
chấn thương cột sống
Có thể khái quát bằng biểu đồ sau:
20
< 20
20-40
40-60
Nhận xét:
Qua bảng 3 tôi thấy tỉ lệ chấn thương cột sống đoạn bản lề gặp ở tai nạn
lao động là chủ yếu, với 62,9%, tai nạn sinh hoạt và tai nạn giao thông gặp ít
hơn với tỉ lệ lần lượt là 20% và 17,1%
3.2. Tình trạng liệt 2 chi dưới sau chấn thương cột sống lưng – thắt lưng
Bảng 3.4. Phân loại mức độ chấn thương cột sống theo Frankel
Frankel
Số lượng
Tỷ lệ
A
1
2,9%
B
2
5,7%
C
25
71,4%
D
7
20%
E
0
0
4
12
10
6
3
35
11,4%
34,3%
28,6%
17,1%
8,6%
100%
Tỷ lệ
Nhận xét:
Theo phân loại của Henry và cộng sự (1984) thì số lượng bệnh nhân liệt
hoàn toàn chỉ chiếm 8,6%, số lượng bệnh nhân liệt nặng chiếm 17,1%. Số
Tỷ lệ
34,3%
2,9%
20,0%
Nhận xét:
Qua bảng 7 có thể thấy loét do tỳ đè là biến chứng phổ biến nhất với 34,3%
số bệnh nhân, viêm đường tiết niệu chiếm 20%, còn viêm phổi chiếm 2,9%.
3.3. Kết quả điều trị bằng điện châm
Bảng 3.8. Đánh giá tiến triển trước và sau điều trị mức độ liệt của chi
22
theo Henry và cộng sự (1984)
SĐT
TĐT
I
II
III
IV
V
Tổng số
Tỷ lệ %
Không
liệt
3
8,6%
IV
0
2
2
5,7%
V
Tổng
1
1
2,9%
4
12
10
6
3
35
100%
Nhận xét:
Qua bảng trên tôi thấy sau 4 tuần điều trị, có 3 bệnh nhân chưa tiến triển,
còn lại các bệnh nhân khác tiến triển từ 1-2 bậc. Trước điều trị bằng điện
châm, các bệnh nhân liệt độ II và III chiếm tỷ lệ cao nhất. Sau điều trị, các
bệnh nhân liệt độ 1 chiếm tỷ lệ cao nhất với 40%.
Bảng 3.9. Tiến triển phân loại mức độ chấn thương cột sống theo Frankel
Sau điều trị
Frankel
A
B
C
D
E
Tổng
23
A
Trước
B
điều trị
C
1
5
7
0
0
D
E
Tổn
g
1
0
3
25
6
35
Tỷ lệ
2,9%
Frankel D
Frankel E
Biểu đồ 3.3. Tiến triển phân loại mức độ chấn thương cột sống theo Frankel
Bảng 3.10. Mức độ tiến triển điều trị bằng điện châm theo phân loại của
Henry và cộng sự
Mức độ
n
Không tiến triển
3
1 bậc
23
2 bậc
9
3 bậc
0
4 bậc
0
24
2 bậc
1
2,9%
3 bậc
0
0
4 bậc
0
0
Tổng
35
100%
Nhận xét:
Dựa trên phân loại của Frankel, số bệnh nhân tiến triển 1 bậc chiếm tỷ lệ
85,7%, số bệnh nhân không tiến triển chỉ chiếm 11,4%
Bảng 3.12. Tỷ lệ rối loạn cơ tròn sau 4 tuần điều trị
Có rối loạn cơ tròn
Không rối loạn cơ tròn
Tổng
Trước điều trị
n
Tỷ lệ
22
62,9%
tôi thấy tỷ lệ bệnh nhân nam so với nữ là 2,2. Trong đó nguyên nhân chủ yếu
do tai nạn lao động, chiếm 62,9%, tỷ lệ chấn thương do tai nạn sinh hoạt và
tai nạn giao thông thấp hơn, chỉ chiếm lần lượt 20% và 17,1%. Độ tuổi bị bệnh
cũng tập trung chủ yếu trong độ tuổi lao động, từ 20-60 tuổi. Trong đó, độ tuổi từ
41-60 chiếm tỷ lệ cao nhất với 51,4%, độ tuổi từ 20-40 chiếm tỷ lệ 40%.
Từ đó có thể thấy, chấn thương cột sống đoạn ngực-thắt lưng tập trung
chủ yếu ở nam giới trong độ tuổi lao động, do đó là những người lao động chính
trong gia đình, liên quan đến những công việc lao động chân tay nặng nhọc.
4.2. Tình trạng mức độ liệt 2 chi dưới sau chấn thương cột sống lưng –
thắt lưng
Dựa vào phân loại mức độ chấn thương cột sống theo Frankel, mức độ
Frankel C (có cảm giác, vận động yếu) chiếm tỷ lệ cao nhất với 71,4%, còn
mức độ Frankel A ( mất hoàn toàn cảm giác, vận động dưới vùng tổn thương)
chỉ chiếm 2,9%.
Còn dựa vào phân loại mức độ liệt theo Henry và cộng sự (1984) thì mức
độ liệt vừa độ II và III chiếm tỷ lệ cao nhất với lần lượt 34,3% và 28,6%, còn
liệt độ V nặng nhất chiếm 8,6%.
Qua phân loại mức độ liệt theo Frankel và Henry thì những bệnh nhân bị
chấn thương cột sống đoạn ngực-thắt lưng chủ yếu bị liệt mức độ vừa, các
trường hợp liệt hoàn toàn chiếm tỷ lệ ít hơn nhiều.
Trong các biến chứng gây ra bởi liệt do chấn thương cột sống đoạn
ngực-thắt lưng thì loét do tỳ đè chiếm tỷ lệ cao nhất, với xấp xỉ 1/3 số trường