1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Sinh sản là một nhu cầu tất yếu của cuộc sống, vì mục đích duy trì giống
nòi sự tồn tại, và phát triển của xã hội. Vấn đề này đã trở thành động lực thúc
đẩy các nhà khoa học không ngừng tìm tòi, nghiên cứu những phương pháp
chẩn đoán và điều trị vô sinh có hiệu quả cao.
Vô sinh được định nghĩa là tình trạng một cặp vợ chồng không có thai
sau một năm quan hệ tình dục thường xuyên mà không sử dụng bất kỳ biện
pháp tránh thai nào. Tỷ lệ vô sinh trên thế giới là 10-15% ở các cặp vợ chồng
[1]. Ở Việt Nam theo nghiên cứu trên toàn quốc do Bệnh Viện Phụ Sản Trung
Ương (BVPSTW) và Đại Học Y Hà Nội tiến hành trên 14300 cặp vợ chồng
năm 2012 trong độ tuổi sinh đẻ (15-49) ở 8 tỉnh đại diện cho 8 vùng sinh thái
ở nước ta, xác định tỉ lệ vô sinh của các cặp vợ chồng, trong đó vô sinh
nguyên phát là 3,9% và vô sinh thứ phát là 3,8% [2]. Vấn đề vô sinh đang là
một gánh nặng của ngành y tế Việt Nam. Đáng báo động có khoảng 50% cặp
vợ chồng vô sinh có độ tuổi dưới 30 [2].
Các nguyên nhân hàng đầu dẫn đến vô sinh bao gồm nguyên nhân do
nam giới (30 - 40%), do nữ gồm: rối loạn phóng noãn (30 - 40%), do tử cung
(TC) (15-20%), đặc biệt nguyên nhân do vòi tử cung (VTC) (40 - 50%) [3].
Trong số bệnh nhân (BN) vô sinh do VTC tỷ lệ tắc hai VTC là 69,5%, vị trí
tắc VTC chiếm tỷ lệ cao nhất là đoạn xa VTC 52,3% [4]. Vô sinh do VTC
bao gồm tổn thương hay tắc VTC, thường liên quan đến viêm nhiễm đường
sinh dục, tiền sử can thiệp vào buồng tử cung (BTC) hoặc phẫu thuật vùng tiểu
khung trước đây [5].
Các phương pháp điều trị vô sinh do VTC bao gồm: phẫu thuật vô sinh
và các phương pháp hỗ trợ sinh sản hay cả hai. Phẫu thuật có thể là mổ mở
hay mổ nội soi (hiện nay chủ yếu là phẫu thuật nội soi), bao gồm gỡ dính
2
Nhận xét kết quả phẫu thuật tạo hình vòi tử cung sau mổ bằng chụp
X quang BTC - VTC.
3
Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. Giải phẫu và sinh lý VTC
- VTC là ống dẫn trứng từ buồng trứng tới tử cung (TC), một đầu mở
vào ổ bụng, một đầu thông với buồng TC. Có hai VTC bắt đầu từ mỗi bên
sừng TC kéo dài tới sát thành chậu hông và mở thông với ổ bụng ở sát bề mặt
của buồng trứng. VTC nằm giữa hai lá của dây chằng rộng và được treo vào
phần còn lại của dây chằng rộng bởi mạc treo VTC. Người trưởng thành,
VTC dài 10 - 12 cm, đầu nhỏ ở sát sừng TC rồi to dần về phía tận cùng giống
như một chiếc kèn trompette [6], [7].
- VTC gồm 4 đoạn: đoạn kẽ, đoạn eo, đoạn bóng và đoạn loa.
+ Đoạn kẽ: nằm trong thành của TC nên còn gọi là đoạn thành, chếch
lên trên và ra ngoài, dài 1 cm, có đầu trong là miệng lỗ TC - VTC và đầu
ngoài tiếp nối với đoạn eo nằm phía ngoài TC. Đây là đoạn có lòng ống hẹp
nhất, đường kính 0,1 cm [8].
+ Đoạn eo: tiếp theo đoạn kẽ chạy ngang ra ngoài, dài 3 - 4 cm, đây là
vị trí cao nhất của VTC, lòng ống hẹp, đường kính 0,4 cm, lớp cơ dày, do đó
khi thăm khám có cảm giác đoạn eo tròn và chắc. Tại đây những cơn co nhịp
nhàng của lớp cơ có xu hướng lan toả về phía TC. Tuy vậy sự vận chuyển qua
eo VTC lại theo 2 chiều ngược nhau: tinh trùng đi ngược về phía đoạn bóng
trong khi noãn sau khi thụ tinh đi xuôi về buồng TC. Do lòng ống hẹp, nằm
gần thành TC và lớp cơ dày nên đoạn eo khó giãn nở, vì vậy khi trứng làm tổ
tại đoạn eo thì VTC sẽ bị vỡ sớm.
+ Đoạn bóng: tiếp nối giữa đoạn eo và đoạn phễu hay đoạn loa VTC, đi
mô liên kết có nhiều mạch máu, mạch bạch huyết và các tế bào hình thoi
giống như những nguyên bào sợi, trong trường hợp chửa VTC, các tế bào
hình thoi có thể biệt hoá thành tế bào màng rụng [9], [10].
5
+ Tầng cơ: gồm 2 lớp cơ trơn, lớp trong các sợi cơ xếp theo hướng vòng,
lớp ngoài các sợi cơ xếp theo hướng dọc. Ở sừng TC, tầng cơ VTC liên tiếp
với tầng cơ TC [6], [7].
+ Tầng vỏ ngoài: là một mô liên kết chứa mạch, dây thần kinh từ dây
chằng rộng tới và được phủ ngoài bởi màng bụng [6], [7].
1.2. Sự thụ tinh và làm tổ.
- Sau khi phóng tinh, tinh trùng qua TC đến VTC nhờ 2 cơ chế: (1) tinh
trùng tự di chuyển; (2) co bóp của cơ TC và VTC dưới tác dụng của
prostaglandin [10].
- Mỗi lần giao hợp có khoảng nửa tỷ tinh trùng nhưng chỉ có khoảng
vài ngàn tinh trùng di chuyển đến được VTC [10].
- Sự thụ tinh thường xảy ra ở 1/3 ngoài của VTC, thường chỉ có 1 tinh
trùng xâm nhập vào trong noãn gọi là đơn thụ tinh, tuy nhiên cũng có thể
nhiều tinh trùng chui và noãn gọi là đa thụ tinh [10].
- Sau hiện tượng thụ tinh, trứng phải mất 3 - 4 ngày để di chuyển vào
buồng TC. Trứng di chuyển vào buồng TC nhờ 3 cơ chế: (1) nhờ dịch VTC;
(2) sự nhu động của tế bào có lông của niêm mạc VTC; (3) tác dụng giãn
VTC ở đoạn sát với TC của progesteron [10].
- Trong quá trình di chuyển, trứng được nuôi dưỡng bằng dịch VTC và
thực hiện nhiều giai đoạn của quá trình phân chia, khi tới TC, trứng đã phân
chia và được gọi là phôi bào với khoảng 100 tế bào. Sự di chuyển thành công
của trứng, tinh trùng và phôi qua VTC là điều kiện quan trọng để có thai tự
nhiên. VTC có vai trò quan trọng trong vận chuyển giao tử, sự thụ tinh và sự
ra, còn do một số bất thường bẩm sinh của VTC như sự thoái hóa bẩm sinh
VTC một phần hay hoàn toàn, bệnh túi thừa bẩm sinh, VTC phụ và bệnh
nhung mao không cử động [5].
- Tiền sử phẫu thuật: tất cả những can thiệp phẫu thuật đều có nguy cơ
dính hậu phẫu, ngay cả đối với nội soi bóc nhân xơ, bóc u buồng trứng, sửa tư
thế TC hoặc bảo tồn VTC trong chửa ngoài TC… [5].
7
1.4. Chẩn đoán vô sinh do tắc VTC
Ngày nay có 4 phương pháp được sử dụng để đánh giá chức năng VTC
trên phụ nữ vô sinh.
1.4.1. X quang buồng tử cung - vòi tử cung có cản quang.
X quang buồng tử cung – vòi tử cung (chụp BTC – VTC) là phương
pháp cận lâm sàng được lựa chọn đầu tiên trong chẩn đoán vô sinh do VTC vì
xác định được vị trí tắc và đánh giá nếp gấp niêm mạc VTC [11].
Chụp BTC - VTC được thực hiện trong những trường hợp cần đánh giá
buồng tử cung (BTC) và độ thông của hai VTC, đặc biệt là những phụ nữ đến
khám vô sinh mà có những yếu tố nguy cơ cao như đã từng có bệnh lý, phẫu
thuật vùng chậu, tiền sử đặt vòng, tiền sử sẩy thai, nạo phá thai…
Không chụp khi người phụ nữ đang có thai hay nghi ngờ có thai, đang bị
viêm âm đạo, cổ tử cung, dị ứng với iod. Ngoài ra không chụp BTC – VTC
khi TC đang xuất huyết nhiều, nếu không sẽ làm tăng nguy cơ thuốc vào
mạch máu, tạo nên tình trạng tắc mạch, hơn nữa máu cục sẽ che khuất tổn
thương nếu có.
Thời điểm chụp tốt nhất từ ngày thứ 7 đến ngày thứ 12 của chu kỳ (sạch
kinh 2-3 ngày), vì lúc đó niêm mạc TC mỏng tạo điều kiện đánh giá hình ảnh
tốt hơn và đảm bảo không có thai.
- Kỹ thuật chụp BTC – VTC:
dần, 2 VTC thông, nghiệm pháp Cotte dương tính: thuốc cản quang từ BTC
qua VTC và khuếch tán đều khắp trong tiểu khung nhanh.
9
Hình 1.1. Hình ảnh chụp tử cung - vòi tử cung bình thường
(BN Nguyễn Thị A – 35t VSII)
- Chụp BTC – VTC đánh giá độ thông VTC:
+ VTC thông: thuốc cản quang ngấm đều vào VTC và vào ổ bụng.
Nghiệm pháp Cotte dương tính. VTC có thể thông cả hai bên hay chỉ thông
một bên.
+ VTC tắc: thuốc cản quang không vào trong ổ bụng mà dừng laị ở vị trí vòi
tắc. Nghiệm pháp Cotte âm tính. VTC có thể tắc cả hai bên hay tắc một bên.
+ Chẩn đoán vị trí tắc VTC trên phim:
Tắc đoạn gần (eo và kẽ): thuốc cản quang dừng lại ở đoạn kẽ là nơi tiếp
giáp giữa buồng tử cung và VTC, hoặc thuốc cản quang dừng lại ở đoạn eo là
1/3 trong của VTC nơi có đường kính nhỏ nhất.
Tắc VTC đoạn xa (bóng và loa): thuốc cản quang dừng lại ở đoạn bóng
là thuốc cản quang dừng lại ở 1/3 giữa VTC, hoặc thuốc cản quang dừng lại
đoạn loa là 1/3 ngoài của VTC.
VTC ứ nước: thuốc cản quang đọng lại trong lòng VTC và VTC giãn to
ra tạo thành hình túi, ranh giới rõ. Nghiệm pháp Cotte âm tính.
10
Hình 1.2. Hình ảnh chụp X quang BTC – VTC giãn tắc hai bên [12].
Chụp BTC - VTC có giá trị chẩn đoán tắc VTC phù hợp với nội soi từ
65 - 77,2% [13]. Ở Việt Nam theo nghiên cứu của Trịnh Hùng Dũng (2008)
VTC [17], mà dính trong lòng VTC mới thực sự là tổn thương khó hồi phục
và làm giảm nhiều khả năng có thai [18]. Nội soi tách dính quanh VTC chỉ có
thể giữ được cấu trúc bên ngoài cuả VTC và làm VTC dễ bắt được trứng rụng,
nhưng chức năng VTC vẫn kém nếu như có tổn thương trong lòng VTC. Điều
này đã được chứng minh trong một khảo sát 51 BN dính quanh VTC hoặc ứ
dịch VTC, những BN này được nội soi tách dính quanh VTC hoặc mở thông
VTC và nội soi VTC [17]. Tỷ lệ có thai ở những BN có niêm mạc VTC bình
thường ở sau thời điểm nội soi là 71% nếu tách dính quanh VTC và 64% nếu
là ứ dịch VTC. Trong khi đó những BN có tổn thương trong lòng VTC thì
không có người nào có thai trong BTC [17].
1.4.4. Phẫu thuật nội soi ổ bụng.
Cho đến lúc này PTNS ổ bụng kiểm tra VTC vẫn được xem là tiêu
chuẩn vàng để đánh giá VTC [19]. Đồng thời PTNS ổ bụng cũng có những lợi
thế mà các phương pháp khác không có được đó là quan sát được hình ảnh
12
thật sự về cấu trúc giải phẫu của cơ quan sinh dục. Quan sát và đánh giá được
các trường hợp dính VTC, dính buồng trứng, các bệnh VTC, lạc nội mạc TC
ở khoảng 35-68% các trường hợp ngay cả khi khi phim chụp VTC bình
thường [3].
PTNS ổ bụng để phát hiện và khi cần có thể kết hợp can thiệp các bệnh lý
vùng chậu kèm theo như bóc u nang buồng trứng, tái tạo VTC, bóc nhân xơ
TC…
1.4.4.1. Đánh giá tổn thương VTC qua PTNS ổ bụng.
- Tổn thương VTC được đánh giá trực tiếp qua PTNS ổ bụng và có thể
kết hợp thêm với chụp BTC - VTC hoặc nội soi VTC tùy theo tác giả.
- Phân loại của Mage va Bruhate và cộng sự 1986 đánh giá TTVTC dựa
trên 3 yếu tố: độ thông VTC, nếp gấp niêm mạc VTC, thành VTC thông qua
còn hoặc teo
Dầy hoặc xơ cứng
Độ I : 2 – 5 điểm.
Độ III
: 11 – 15 điểm.
Độ II : 6 – 10 điểm.
Độ IV
: > 15 điểm.
1.4.4.2. Đánh giá mức độ dính phần phụ qua PTNS ổ bụng.
Tình trạng dính vùng chậu là nguyên nhân của 15 - 20% trường hợp vô
sinh vì làm cản trở sự di chuyển của giao tử, hoặc sự bắt trứng do thay đổi
mối liên quan giữa buồng trứng và VTC [21].
13
PTNS ổ bụng có vai trò rất quan trọng trong chẩn đoán dính vùng chậu.
Dính phần phụ hai bên phải được đánh giá cơ quan bị ảnh hưởng, bản chất
của dây dính dầy, hay mỏng, phạm vi bề mặt của dây dính và ảnh hưởng của
dây dính lên sự di động của tử cung, buồng trứng, VTC, đồng thời cũng ghi
nhận thêm dây dính giữa gan và cơ hoành [22].
Bảng 1.2. Bảng chấm điểm dính theo Mage, Bruhat và cộng sự năm 1986 [20].
Cơ quan
2
5
10
1
1
4
5
10
15
Nặng : > 15 điểm.
Trung bình : 7 –15 điểm.
Ngoài ra còn các cách đánh giá khác:
- Theo Rock và cộng sự: phân loại độ nặng của bệnh lý VTC đoạn xa
bao gồm tổn thương VTC và phúc mạc kết hợp. Tổ thương VTC và phúc mạc
chia thành 3 mức độ [23].
Mức độ nhẹ:
+ VTC không ứ dịch, hoặc ứ dịch nhẹ < 15 mm.
+ Nếp gấp VTC bình thường trên chụp BTC - VTC.
+ Sự lộn của tua vòi thấy dễ dàng khi bơm thông.
+ Dính quanh VTC - buồng trứng (VTC – BT) không đáng kể.
Mức độ trung bình:
+ Ứ dịch VTC > 15 - 30 mm, mất nếp gấp VTC trên phim chụp BTC - VTC.
+ Tua vòi khó quan sát.
+ Dính quanh (VTC – BT) không cố định và dính cùng đồ ít.
14
Mức độ nặng:
15
Các biện pháp điều trị hiếm muộn do VTC có thể là: bơm hơi BTC –
VTC hoặc bơm dịch BTC – VTC hiện nay rất ít dùng và hầu như không sử
dụng vì hiệu quả rất thấp nhưng nguy cơ nhiễm trùng lại rất cao [25], nong
VTC qua cổ tử cung và chụp VTC chọn lọc, phẫu thuật tái tạo VTC, thụ tinh
trong ống nghiệm (TTTÔN).
Tắc VTC người ta phân ra: tắc đoạn gần VTC được chẩn đoán khi chụp
BTC - VTC thuốc cản quang không vào được đoạn kẽ hoặc đoạn eo VTC,
chiếm khoảng 10 – 30% các trường hợp, phương pháp điều trị có thể nong
VTC qua CTC, phẫu thuật tái tạo đoạn eo kẽ và TTTÔN. Tắc đoạn xa VTC
được chẩn đoán khi chụp BTC - VTC thuốc vào được đoạn eo vòi nhưng
dừng lại ở đoạn bóng hoặc đoạn loa của VTC chiếm 85% tất cả những trường
hợp hiếm muộn do VTC [23]. Ngoài phương TTTÔN thì phẫu thuật mở thông
VTC và tái tạo loa vòi cũng là một lựa chọn điều trị mang lại cơ hội có thai tự
nhiên cho BN.
1.5.1. Nong VTC qua CTC và chụp VTC chọn lọc.
Khi chụp VTC chọn lọc, một catheter được đưa từ CTC lên lỗ VTC vào
đoạn gần, thuốc cản quang sẽ được bơm theo catheter này tạo nên áp lực cao
có thể đẩy dược những mảnh mô vụn trong VTC ra ngoài.
Nong VTC qua CTC để phục hồi đoạn gần có thể được thực hiện dưới
hướng dẫn của X quang, siêu âm, nội soi buồng tử cung và nội soi ổ bụng [26].
Kỹ thuật được thực hiện bằng cách luồn một catheter nhỏ, không gây
sang chấn vào VTC để thông chỗ tắc [27]. Trong khi đó 85% các trường hợp
tắc nghẽn có thể giải quyết được, tỷ lệ tắc lại vẫn còn cao tới 30%, và tai biến
thủng VTC là 3 - 11%. Mặc dù những lỗ thủng này thường là nhỏ và tự lành,
tổn thương kết hợp và viêm nhiễm có thể đưa tới dính và rối loạn chức năng
VTC sau này [27].
lý viêm vùng chậu, cũng có thể do nguyên nhân nhiễm trùng khác như là
viêm ruột thừa cấp vỡ, hoặc dính sau thủ thuật phẫu thuật, hoặc dính do
lạc nội mạc TC.
17
Dính VTC – buồng trứng được xem là nguyên nhân gây vô sinh trong
khi hai VTC vẫn thông tốt 10-20%. Trong Vô sinh do nguyên nhân VTC PM, gỡ dính là một chỉ định thường quy vì [22]:
- Nếu chỉ dính đơn thuần thì tỷ lệ có thai rất cao
- Nếu kết hợp với VTC bị tắc nghẽn thì có thể thiết lập kết hoạch điều
trị tổn thương
- Ngay cả trong trường hợp tổn thương VTC quá nặng, gỡ dính sẽ tạo
thuận lợi cho chức năng buồng trứng.
Bước đầu tiên trong gỡ dính VTC – BT là đánh giá loại dính, mức độ
dính và các cấu trúc bị ảnh hưởng. Cần nhận biết chính xác các cấu trúc đặc
biệt khi tình trạng giải phẫu bị thay đổi nhằm giảm biến chứng. Nên bắt đầu ở
vùng bộc lộ tốt, nơi dính ít, nhẹ đến nơi dính nhiều, từ nông tới sâu.
1.5.3.2. Mở thông VTC.
Mở thông VTC là thủ thuật tạo ra một lỗ mới qua nội soi ở VTC mà
đầu tận cùng bị tắc hoàn toàn gây ứ dịch VTC. Mở thông VTC có thể ở đoạn
loa, đoạn bóng hoặc đoạn eo VTC tùy theo vị trí giải phẫu của tắc. Có thể mở
thông VTC trong những trường hợp dính VTC, áp-xe phần phụ, ứ dịch VTC,
và thai ngoài TC. Tổng tỉ lệ có thai sau khi mở thông VTC khoảng 30% trong
đó 1/4 là bị thai ngoài TC [26]. Khi BN bị tổn thương VTC nhẹ thì tỷ lệ có
thai sau mở thông là 81%, khi tổn thương trung bình thì tỷ lệ có thai là 31%,
nếu tổn thương nặng tỷ lệ có thai chỉ còn 16% [26]. Đồng thời, tỷ lệ thai
ngoài TC cũng liên quan đến tổn thương VTC, khi tổn thương trung bình và
nặng thì tỷ lệ thai ngoài TC cao hơn tổn thương nhẹ [26].
1.5.3.3.Tái tạo loa VTC.
có đối chứng nhỏ gợi ý đến lợi ích của cắt VTC, Strandell thực hiện một thực
nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng đánh giá vai trò của nội soi cắt
VTC so với không điều trị trước khi làm TTTÔN. Khảo sát cho thấy có sự
19
tăng đáng kể tỉ lệ có thai (36,6%) và sinh (28,6%) ở nhóm cắt VTC so với
nhóm không điều trị (23,9% và 17,5%) [30]
1.5.3.5. Kẹp cắt đoạn gần VTC.
Có hai nghiên cứu hồi cứu có cỡ mẫu nhỏ cho thấy tỉ lệ có thai được cải
thiện sau khi kẹp cắt đoạn gần VTC so với cắt bỏ VTC ở phụ nữ làm TTTÔN
bị ứ dịch [26]. Tuy nhiên, vẫn chưa có nhiều thực nghiệm lâm sang ngẫu
nhiên có đối chứng nào chứng minh cho nhận định này.
1.5.4. Tái tạo lại VTC sau triệt sản VTC.
Triệt sản nữ là một phương pháp ngừa thai phổ biến trên thế giới. Do
đây là một phương pháp ngừa thai vĩnh viễn nên rất dễ có nguy cơ gây nên sự
hối tiếc sau đó, nhiều phụ nữ có nhu cầu có thai lại sau triệt sản. Đánh giá trên
cơ sở dữ liệu của 2253 phụ nữ đã triệt sản cho thấy thường có sự hối tiếc ở
những phụ nữ triệt sản trẻ tuổi và khi có sự thay đổi trong hôn nhân [26]. Để
giải quyết nhu cầu mang thai ở những người này có hai phương pháp: vi phẫu
tái tạo lại VTC và TTTÔN.
Một số yếu tố để quyết định tái tạo VTC chỉ có thể thực hiện khi VTC
còn lại đủ độ dài cần thiết, không bị tổn thương nặng sau triệt sản, phương
pháp triệt sản được áp dụng. Triệt sản bằng kẹp bấm (Clip) thì khi tái tạo cho
kết quả tốt hơn đối với những phương pháp triệt sản khác [26].
1.5.5. Bơm tinh trùng vào BTC sau PTNS tạo hình VTC.
Sau PTNS tạo hình VTC các bác sỹ thường chỉ định bơm tinh trùng vào
BTC (intrauterine insermination – IUI) trong 3 – 4 chu kỳ nếu không thành
công sẽ chuyển sang làm TTTÔN [31], [32].
21
năm 1986, tỷ lệ thai trong BTC là 44,5% khi VTC có tổn thương giai đoạn I
và 22,5% khi VTC có tổn thương giai đoạn II [20].
Bruhat và Mage [20] chia tổn thương VTC thành bốn mức độ và tiên
lượng cho từng mức độ như sau:
Mức độ I: tiên lượng tốt
Mức độ II: tiên lượng còn tốt nguy cơ có thai ngoài TC
Mức độ III: tiên lượng dè dặt
Mức độ IV: tiên lượng xấu
Các tác giả đưa ra đề nghị với tổn thương ở mức độ I, II PTNS bảo tồn
VTC là phương pháp điều trị đầu tiên của VS do tắc VTC. Mức độ III cân
nhắc về phương pháp điều trị. Mức độ IV thì nên TTTÔN [20].
1.6.1.1. Kết quả các nghiên cứu PTNS trong điều trị vô sinh do tắc VTC
trên thế giới.
- Theo Gomel và Peter 1983 kết quả tạo hình VTC và gỡ dính VTC tỷ lệ
mang thai trong TC là 58,7% và thai ngoài tử cung 5%.
- Theo Canis, Bruhat 1989 đánh giá kết quả mở thông VTC qua 87
trường hợp PTNS, kết quả thông VTC sau 6-12 tháng là 76,1% và tỷ lệ có
thai chung 27,4%
- Theo Daniell, Zeghat 1994: đánh giá kết quả mở thông và tạo hình
VTC sau 12 tháng tỷ lệ thông trên phim chụp 75%. Tỷ lệ có thai trong TC là
30 – 35%.
- FilippiniF, Darai E, Benlifla JL 1996: tổng kết 104 ca mổ nội soi ổ
bụng tạo hình đoạn xa VTC đạt 35 BN có thai trong TC chiếm 32,5%, và 5
BN có thai ngoài TC chiếm 4,8%. 76% số BN có thai trong TC đạt được trong
năm đầu tiên sau mổ.
- Dinh Bích Thủy 2009, nghiên cứu trên 220 BN vô sinh có phẫu thuật
nội soi thấy tỷ lệ có thai chung là 19,5%: có thai trong BTC 18,2%, thai ngoài
TC 1,3% [36].
1.6.2. Thụ tinh trong ống nghiệm (Invitro fertilization – IVF ).
Ở Việt Nam TTTÔN được tiến hành từ năm 1998, tỷ lệ thành công của
phương pháp này là 25 – 35 % [37]. Tỉ lệ thành công của TTTÔN phụ thuộc
vào nhiều yếu tố, trong đó tuổi của BN đóng góp vai trò quan trọng, càng lớn
tuổi tỷ lệ thành công càng thấp: dưới 30 tuổi, 48,4%; 30 đến 38 tuổi, 44%; 35
đến 38 tuổi, 28%; 39 đến 40 tuổi, 20%; 41 đến 42 tuổi 9%, và trên 42 tuổi
4,3% [28]. Một cơ sở dữ liệu cho thấy những BN hiếm muộn do VTC bất kể
có kèm theo yếu tố gây hiếm muộn khác hay không, hơn 70% sẽ có thai sau 4
chu kỳ TTTÔN [28].
1.7. Lựa chọn phương pháp điều trị
Hiện nay, với những thàng công vượt bậc của kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
nhiều thầy thuốc đã chọn TTTÔN để điều trị ngay từ đầu cho những cặp vợ
chồng vô sinh do VTC. Tuy nhiên TTTÔN có giá thành đắt nên không thể áp
dụng cho tất cả các đối tượng, TTTÔN không phải phương pháp sửa chữa tận
gốc nguyên nhân trong những trường hợp vô sinh do tắc VTC, BN không có
khả năng có thai tự nhiên ở những lần sau. Trong khi đó PTNS lại có thể giải
quyết những vấn đề này, điều đáng quan tâm là sau PTNS,VTC có thể tắc lại
BN vẫn phải làm IVF. Hiện nay chưa có nhiều thực nghiệm lâm sàng so sánh
hiệu quả của PTNS và TTTÔN trong điều trị vô sinh do nguyên nhân VTC.
Tuy nhiên dựa trên những bằng chứng đã có, người ta đã đưa ra những đề
nghị sau [23]:
+ Phẫu thuật nên được lựa chọn như một điều trị đầu tay, đặc biệt nếu
được thực hiện bằng nội soi, rất phù hợp với những trường hợp tổn
24
- Không có viêm sinh dục cấp.
2.1.2.Tiêu chuẩn loại trừ
- Có các bênh lý toàn thân chống chỉ định phẫu thuật nội soi: bệnh tim,
bệnh tuyến giáp…
- BN đã từng phẫu thuật nội soi vô sinh.
2.2. Phương pháp nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu mô tả tiến cứu.
2.3. Cỡ mẫu.
Lấy cỡ mẫu thuận tiện trong một khoảng thời gian nhất định tại BVPSTW từ
12.2016 đến 5.2017, chúng tôi đã lấy được 61 BN đủ các tiêu chuẩn trên.