1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LÀNH THỊ MAI
THIẾT KẾ HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM
CHO HỌC SINH LỚP 3 TRONG DẠY HỌC MÔN TOÁN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
1
2
Thái Nguyên, năm 2019
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LÀNH THỊ MAI
THIẾT KẾ HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM
CHO HỌC SINH LỚP 3 TRONG DẠY HỌC MÔN TOÁN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGÀNH: GIÁO DỤC TIỂU HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Trần Ngọc Bích
2
6
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Chữ cái viết tắt/ ký hiệu
GV
GVCN
HS
PHHS
Sgk
Cụm từ đầy đủ
Giáo viên
Giáo viên chủ nhiệm
Học sinh
Phụ huynh học sinh
Sách giáo khoa
7
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Mức độ Toán...............................................................................................29
Bảng 1.2. Hiệu quả tổ chức thường xuyên tổ chức hoạt động trải nghiệm cho học sinh
lớp 3 trong dạy học môn
hoạt động trải nghiệm cho học sinh lớp 3 trong dạy học môn Toán ............................29
Bảng 3.1. Kết quả bài kiểm tra của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng
70
8
MỞ ĐẦU
cho học sinh trong dạy học môn Toán. Do đó cần thiết phải có những công trình
8
9
nghiên cứu về vấn đề này để tạo cơ hội cho giáo viên tổ chức các hoạt động trải
nghiệm thiết thực cho học sinh, gắn kết lý thuyết và thực tiễn.
Xuất phát từ những quan điểm nói trên và thông qua thực tiễn dạy học và đào
tạo giáo viên tiểu học, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài khóa luận: “Thiết kế hoạt động
trải nghiệm cho học sinh lớp 3 trong dạy học môn Toán.”
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về năng lực, năng lực vận dụng toán học vào
thực tiễn, nội dung môn Toán lớp 3, đặc điểm tâm lý học sinh tiểu học và thực tiễn tổ
chức các hoạt động trải nghiệm toán học cho học sinh tiểu học hiện nay để thiết kế một
số hoạt động trải nghiệm cho học sinh lớp 3 trong dạy học môn Toán.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở lý luận và thực tiễn.
- Nghiên cứu nội dung môn Toán lớp 3.
- Nghiên cứu đặc điểm tâm lý học sinh đầu cấp tiểu học.
- Nghiên cứu thực trạng của việc tổ chức các hoạt động trải nghiệm toán cho
HS lớp 3 ở trường tiểu học trong dạy học môn Toán.
- Thiết kế một số hoạt động trải nghiệm cho HS lớp 3 trong dạy học môn Toán
ở trường tiểu học.
- Thực nghiệm sư phạm để kiểm nghiệm tính khả thi của các hoạt động trải
nghiệm toán học đã thiết kế.
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu quá trình dạy học môn Toán ở tiểu học nói chung và môn Toán ở
lớp 3 nói riêng. Trong đó đặc biệt chú ý đến việc thiết kế các hoạt động trải nghiệm
- Thiết kế một số hoạt động trải nghiệm cho học sinh lớp 3 trong dạy học môn
Toán ở trường Tiểu học.
- Khóa luận có thể là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên ngành Giáo dục
Tiểu học và giáo viên các trường tiểu học.
7. Bố cục của khóa luận
Cấu trúc của khóa luận gồm 3 phần: Mở đầu, Nội dung và Kết luận. Phần nội
dung gồm 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2. Thiết kế hoạt động trải nghiệm cho học sinh lớp 3 trong dạy học
môn Toán
10
11
Chương 3. Thực nghiệm sư phạm.
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Trên thế giới
Từ những năm đầu của thế kỉ XX, giáo dục trải nghiệm bắt đầu được đưa vào
chương trình giảng dạy. Tại Mĩ xuất hiện “Câu lạc bộ trồng ngô” cho học sinh thực
hành, ứng dụng khoa học kĩ thuật vào nông nghiệp thông qua các công việc nhà nông
thực tế. Sau một thế kỉ, hệ thống các câu lạc bộ này trở thành cốt lõi của tổ chức 4 - H,
tổ chức tiên phong ứng dụng học tập qua lao động, trải nghiệm lớn nhất của nước Mĩ.
Một vài năm sau, một viên tướng trong quân đội Anh đã tổ chức một cuộc cắm trại
hướng đạo đầu tiên. Hoạt động này phát triển nhanh chóng thành phong trào hướng
đạo sinh rộng khắp toàn cầu. Hoạt động hướng đạo là một loại hình giáo dục trải
nghiệm, chú ý đặc biệt vào các hoạt động thực hành ngoài trời, bao gồm: cắm trại, kĩ
Nhiều công trình nghiên cứu đã đề cập đến vấn đề tổ chức các hoạt động trải
nghiệm cho học sinh ở trường phổ thông. Chẳng hạn:
- Trong bài viết đăng trên Tạp chí Giáo dục của các tác giả Nguyễn Thị Hằng,
Đào Thị Ngọc Minh đã đưa ra lý thuyết học tập trải nghiệm, một số mô hình học tập
trải nghiệm của các nhà nghiên cứu nước ngoài và các bước vận dụng lý thuyết vào tổ
chức các hoạt động trải nghiệm. [10]
- Nghiên cứu “Dạy học khoa học cho học sinh tiểu học theo hướng trải nghiệm”
của tác giả Phạm Quang Tiệp đưa ra một số đặc điểm của hoạt động trải nghiệm và
ứng dụng vào thiết kế bài tập trải nghiệm trong môn Khoa học ở tiểu học. [25]
- Bài viết của tác giả Nguyễn Quang Nhữ cũng đã chỉ ra một số quan niệm về tổ
chức cho học sinh tiểu học học toán thông qua hoạt động trải nghiệm và nêu lên một
số vấn đề cơ bản về điều kiện xây dựng, hình thức tổ chức, đổi mới phương pháp dạy
học trải nghiệm. [21]
- Một công trình nghiên cứu khác của tác giả Lê Thị Cẩm Nhung trình bày các
vấn đề lý luận tổ chức hoạt động trải nghiệm cho học sinh tiểu học, đặc biệt là các hoạt
động trải nghiệm liên quan tới hình học. Đồng thời tác giả đưa ra một số thiết kế hoạt
động trải nghiệm theo một số hình thức: hoạt động câu lạc bộ, tổ chức trò chơi học tập,
tổ chức diễn đàn,… trong dạy học các nội dung hình học cho học sinh tiểu học. [20]
- Bài viết của nhóm tác giả Đỗ Thị Phương Thảo, Vũ Diệu Hương, Vũ Thị Lê,
tìm hiểu vấn đề “Phát triển năng lực thích ứng với cuộc sống thông qua tổ chức hoạt
động trải nghiệm, sáng tạo trong dạy học toán cho học sinh tiểu học”. [24]
12
13
Những kết quả nghiên cứu trên đây đều hướng vào việc tổ chức các hoạt động
trải nghiệm cho học sinh phổ thông, tuy nhiên trong phạm vi hiểu biết của chúng tôi
chưa có kết quả nghiên cứu nào về thiết kế hoạt động trải nghiệm cho học sinh lớp 3
trong dạy học môn Toán.
1.2. Một số quan niệm cơ bản về hoạt động trải nghiệm
14
tự nhiên và xã hội, vận dụng vốn kinh nghiệm cá nhân và sử dụng các giác quan để
quan sát, tương tác với đối tượng tạo nên nhận thức mới cho họ. [18]
Theo quan điểm của triết học, sự trải nghiệm được hiểu là kết quả của sự tương
tác giữa con người với thế giới khách quan. Sự tương tác này bao gồm cả hình thức và
kết quả các hoạt động thực tiễn trong xã hội, bao gồm cả kĩ thuật và kĩ năng, cả những
nguyên tắc hoạt động và phát triển thế giới khách quan. Nhà triết học vĩ đại người Nga
Solovyev V.S. quan niệm rằng trải nghiệm là kiến thức kinh nghiệm thực tế, là thể
thống nhất bao gồm kiến thức và kĩ năng. Trải nghiệm là kết quả của sự tương tác giữa
con người và thế giới, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.[5]
Theo Từ điển Tiếng Việt: “trải” là đã từng biết đến, “kinh nghiệm” là điều hiểu
biết có được do tiếp xúc với thực tế, do từng trải. Vậy theo cách hiểu này: Trải nghiệm
là những kinh nghiệm mà con người tích lũy được qua quá trình sống, thực chứng các
sự vật, hiện tượng xảy ra trong quá khứ. [22]
Theo Wikipedia kinh nghiệm hay “trải nghiệm”, là tri thức hay sự thông thạo về
một sự kiện hay một chủ đề có được thông qua tham gia sự tiếp xúc trực tiếp.
Kinh: trải qua, từng qua. Nghiệm: ngẫm, suy xét hay chứng thực. Kinh nghiệm: đã
nghiệm qua. Trải nghiệm là tiến trình hay là quá trình hoạt động năng động để thu thập
kinh nghiệm. Trong triết học, những thuật ngữ như "tri thức thực chứng" hay "tri thức
tiên nghiệm," được dùng để chỉ tri thức có được dựa trên kinh nghiệm. [15]
- Khái niệm “Trải nghiệm” dưới góc nhìn sư phạm được hiểu theo một số ý
nghĩa sau:
+ Trải nghiệm là một hệ thống kiến thức và kĩ năng có được trong quá trình
giáo dục và đào tạo chính quy.
+ Trải nghiệm là kiến thức, kĩ năng mà HS nhận được bên ngoài các cơ sở giáo
dục: thông qua sự giao tiếp với nhau, với người lớn, hay qua những tài liệu tham khảo
không được giảng dạy trong nhà trường…
+ Trải nghiệm qua thực nghiệm, thử nghiệm là một trong những phương pháp
đào tạo, trong điều kiện thực tế hay lý thuyết nhất định, để thiết lập hoặc minh họa cho
song song với hoạt động dạy học trong nhà trường và là một bộ phận của quá trình
giáo dục. Hoạt động trải nghiệm được tổ chức ngoài giờ lên lớp và có mối quan hệ bổ
sung, hỗ trợ cho hoạt động dạy học. Tham gia vào hoạt động trải nghiệm học sinh
được phát huy vai trò chủ thế, tính tích cực chủ động, sáng tạo của bản thân.
Theo [3] “Hoạt động trải nghiệm” là quá trình học sinh tham gia hoạt động
nhận thức, khám phá, phát hiện,… trong quá trình học sinh gia nhập vào các hoạt động
đa dạng. Tổ chức hoạt động trải nghiệm cho học sinh là hoạt động giáo dục dưới sự
hướng dẫn và tổ chức của các nhà giáo dục. Học sinh được tham gia trực tiếp tham gia
vào các hoạt động thực tiễn khác nhau của gia đình, nhà trường, xã hội với tư cách là
chủ thể của hoạt động. Từ đó phát triển năng lực cá nhân, hình thành và phát triển các
nét phẩm chất tích cực, phát huy tiềm năng sáng tạo của mỗi học sinh.
15
16
- Theo “Chương trình giáo dục phổ thông; Hoạt động trải nghiệm và Hoạt động
trải nghiệm, Hướng nghiệp” của Bộ Giáo dục và đào tạo: Hoạt động trải nghiệm ở tiểu
học và Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp ở trung học cơ sở và trung học phổ thông
(sau đây gọi chung là Hoạt động trải nghiệm) là các hoạt động giáo dục bắt buộc, trong
đó học sinh dựa trên sự huy động tổng hợp kiến thức và kĩ năng từ nhiều lĩnh vực giáo
dục khác nhau để trải nghiệm thực tiễn đời sống nhà trường, gia đình, xã hội, tham gia
hoạt động hướng nghiệp và hoạt động phục vụ cộng đồng dưới sự hướng dẫn và tổ
chức của nhà giáo dục, qua đó hình thành những phẩm chất chủ yếu, năng lực chung
và một số năng lực thành phần đặc thù của hoạt động này như: năng lực thiết kế và tổ
chức hoạt động, năng lực định hướng nghề nghiệp, năng lực thích ứng với những biến
động trong cuộc sống và các kĩ năng sống khác.
Khóa luận sử dụng quan niệm theo “Chương trình giáo dục phổ thông; Hoạt
động trải nghiệm và Hoạt động trải nghiệm, Hướng nghiệp” của Bộ Giáo dục và
đào tạo.
1.2.4. Đặc điểm của hoạt động trải nghiệm [5]
phương tiện, đồ dùng dạy học, từ đó giúp học sinh hình thành kiến thức và kĩ năng cần
thiết của môn toán. [8]
* Đặc điểm:
- Chủ yếu sử dụng trong khi hình thành kiến thức mới, những nội dung có tính
chất trừu tượng.
- Không thể sử dụng tùy tiện mà phải thỏa mãn một số yêu cầu:
+ Không thể thiếu phương tiện, đồ dùng dạy học.
+ Các đồ dùng phải phù hợp với yêu cầu của bài học, dễ làm, dễ kiếm.
+ Đồ dùng cần đảm bảo tính thẩm mĩ nhưng không quá cầu kì về hình thức, làm
phân tán sự tập trung của học sinh.
+ Các đồ dùng phải được sử dụng đúng lúc, đúng chỗ,
+ Không quá đề cao các phương tiện trực quan trong dạy học.
* Ưu điểm:
- Đồ dùng trực quan giúp học sinh nhớ kĩ, hiểu lâu những hình ảnh, kiến thức.
- Phát triển khả năng quan sát, trí tưởng tượng, phát triển tư duy và ngôn ngữ
của học sinh.
* Hạn chế:
- Đòi hỏi nhiều thời gian.
- Nếu không sử dụng các đồ dùng trực quan khéo léo sẽ làm phân tán chú ý của
học sinh.
- Nếu giáo viên không định hướng cho học sinh quan sát sẽ dẫn đến tình trạng
học sinh sa đà vào những chi tiết nhỏ lẻ, không quan trọng.
b) Phương pháp tổ chức nhóm học tập tương tác
* Khái niệm:
- Tổ chức nhóm học tập tương tác còn được gọi bằng những tên khác nhau như:
Dạy học hợp tác, Dạy học theo nhóm nhỏ, trong đó học sinh của một lớp học được
chia thành các nhóm nhỏ, trong khoảng thời gian giới hạn, mỗi nhóm tự lực hoàn
17
- Ý kiến các nhóm có thể quá phân tán hoặc mâu thuẫn gay gắt với nhau.
- Với những lớp có sĩ số đông hoặc lớp học chật hẹp khó tổ chức hoạt động nhóm.
c) Phương pháp dạy học dự án
18
19
* Khái niệm:
- Dạy học dự án là hình thức tổ chức dạy học hướng vào học sinh, lấy học sinh
làm trung tâm.
- Trong dạy học dự án, học sinh tự nghiên cứu, tự thực hiện một nhiệm vụ học
tập do giáo viên đưa ra hoặc giáo viên cùng với học sinh đưa ra để hình thành các kiến
thức và các kĩ năng cần thiết.
- Các hoạt động học tập trong dạy học dự án được thiết kế cẩn thận, theo sát
chương trình học, có phạm vi kiến thức liên môn và quan trọng nhất phải gắn với một
vấn đề thực tiễn nghề nghiệp hay cuộc sống xung quanh.
- Phải tạo ra được những giải pháp khả thi để giải quyết vấn đề.
Như vậy có thể thấy “Dạy học dự án là phương pháp dạy học mà người giáo
viên xây dựng ra tình huống có vấn đề từ thực tiễn cuộc sống xung quanh liên quan
đến nội dung học tập, từ đó đặt học sinh vào nhiệm vụ phải tự tìm ra giải pháp khả thi
để giải quyết tình huống với sự hỗ trợ của giáo viên. Thông qua quá trình tìm giải pháp
học sinh sẽ chiếm lĩnh được các nội dung học tập cùng các kĩ năng mềm cho bản
thân”. [16]
* Đặc điểm:
- Định hướng thực tiễn và nghề nghiệp: Chủ đề của các dự án học tập xuất phát
từ những tình huống của thực tiễn xã hội, thực tiễn nghề nghiệp cũng như thực tiễn đời
sống. Nhiệm vụ của các dự án học tập cần chứa đựng những vấn đề phù hợp với trình
độ và khả năng của người học. Các dự án học tập gắn việc học tập trong nhà trường
với thực tiễn đời sống và xã hội.
- Định hướng hứng thú người học: Người học khi tham gia được phép lựa chọn
- Đối với quá trình dạy học:
+ Gắn kết lý thuyết với thực hành, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội.
* Hạn chế:
- Không phải nội dung nào trong chương trình cũng có thể tổ chức hoạt động
dạy học dự án một cách hiệu quả.
- Giáo viên cần nhiều thời gian chuẩn bị các vấn đề liên quan đến dự án học tập.
- Học sinh cần nhiều thời gian để nghiên cứu, tìm hiểu và hoàn thành dự án học
tập đã đề ra.
d) Phương pháp phát hiện và giải quyết vấn đề
* Khái niệm:
- Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đè là phương pháp dạy học trong đó giáo
viên tạo ra những tình huống có vấn đề, điều khiển học sinh phát hiện vấn đề, hoạt
động tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo để giải quyết vấn đề. Thông qua đó chiếm
lĩnh tri thức, rèn luyện kĩ năng và đạt được những mục đích học tập khác. [16]
20
21
* Đặc điểm:
- Đặc điểm cơ bản của dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là tình huống gợi
vấn đề”.
- “Tình huống gợi vấn đề” là một tình huống gợi ra cho học sinh nhũng khó
khăn về mặt lý luận hay thực hành mà họ thấy cần có khả năng vượt qua, nhưng không
phải ngay tức khắc mà bằng một thuật giải, một quá trình tích cực suy nghĩ, hoạt động
để biến đổi đối tượng hoặc điều chỉnh kiến thức đã có.
* Ưu điểm:
- Góp phần tích cực vào việc rèn luyện tư duy phê phán, tư duy sáng tạo cho
học sinh.
- Học sinh huy động được tri thức và khả năng cá nhân, khả năng hợp tác, trao
đổi, thảo luận với bạn bè để tìm ra cách giải quyết tốt nhất.
* Hạn chế:
- Việc đưa ra các kĩ năng cơ bản vào các đề tài phức tạp mà không có luyện tập
cơ bản có thể hạn chế hiệu quả trong học tập.
- Dạy học theo lý thuyết kiến tạo đòi hỏi phải có thời gian lớn.
f) Phương pháp tổ chức trò chơi học tập
* Khái niệm:
- Phương pháp tổ chức trò chơi học tập là phương pháp giáo viên thông qua
việc tổ chức các trò chơi có liên quan đến nội dung bài học, có tác dụng phát huy tính
tích cực nhận thức, gây hứng thú học tập cho học sinh. Qua trò chơi học sinh tiếp thu
kiến thức một cách nhẹ nhàng, tự nhiên, đồng thời qua trò chơi các em phát triển tính
tự giác. [16]
* Đặc điểm:
- Học sinh phải sử dụng các giác quan để thực hiện trò chơi học tập.
- Là một trong những phương pháp dạy học tích cực thay đổi không khí học tập
thoải mái và dễ chịu.
- Trò chơi được tổ chức được chuẩn bị kĩ càng, các dụng cụ chơi cần đơn giản,
dễ kiếm.
* Ưu điểm:
- Trò chơi có nhiều học sinh tham gia sẽ tạo cơ hội cho các em rèn luyện kĩ
năng hợp tác.
- Là hình thức học tập bằng hoạt động do đó duy trì tốt hơn sự chú ý của các em
đối với bài học.
- Giảm tính căng thẳng, phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh.
* Hạn chế:
- Khó củng cố kiến thức bài học một cách hệ thống.
- Học sinh dễ sa đà vào trò chơi mà quên mất nhiệm vụ học tập.
22
23
+ Phát triển các kĩ năng của học sinh như: kĩ năng giao tiếp, kĩ năng lắng nghe
và biểu đạt ý kiến, kĩ năng trình bày suy nghĩ, ý tưởng, kĩ năng viết bài, kĩ năng chụp
ảnh, kĩ năng hợp tác, làm việc nhóm, kĩ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề,...
+ Câu lạc bộ toán học giúp học sinh có điều kiện tiếp cận với toán học, giúp các
em phát huy năng lực toán học của mình và tiếp cận nhanh nhất, nhớ lâu, hiểu sâu các
vấn đề toán học.
23
24
- Câu lạc bộ toán học hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, thống nhất, có lịch
sinh hoạt định kì. Có thể tổ chức ở tiểu học theo khối lớp, theo Trường... Tên của câu
lạc bộ có thể đặt: “Câu lạc bộ Toán tuổi thơ”, “Câu lạc bộ Toán 1, 2, 3...”.
- Hình thức sinh hoạt câu lạc bộ có thể là Hội vui học tập, Hái hoa dân chủ, Giải
ô chữ, Rung chuông vàng, Tọa đàm, Hội thảo, Thảo luận về một đề tài được lựa chọn.
- Nội dung sinh hoạt câu lạc bộ:
+ Các bài toán, câu chuyện lịch sử toán học. Xem các bộ phim về lịch sử toán
học hay về các nhà toán học.
+ Giải các câu đố trí tuệ, logic, các câu đố IQ phù hợp, làm thơ về Toán.
- Ngoài câu lạc bộ toán học, ở tiểu học còn có các câu lạc bộ khác như câu lạc
bộ học thuật các môn học khác, câu lạc bộ thể dục thể thao, câu lạc bộ văn hóa nghệ
thuật,... có thể tích hợp giáo dục toán học thông qua hoạt động của các câu lạc bộ này.
b) Tổ chức trò chơi học tập
- Trò chơi học tập là hình thức tổ chức các hoạt động vui chơi với nội dung kiến
thức thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, có tác dụng giáo dục “chơi mà học, học mà
chơi”. Qua trò chơi giúp học sinh quan tâm, hứng thú đến nội dung của chủ đề từ đó
giúp học sinh tìm cách tiếp cận, tự học và bộc lộ hết khả năng một cách tự nhiên, đảm
bảo đầy đủ “hành động” và “cảm xúc”.
- Trò chơi có thể được sử dụng trong nhiều tình huống khác nhau của hoạt động
trải nghiệm như làm quen, khởi động, dẫn nhập vào nội dung học tập, cung cấp và tiếp
sáng tạo bởi những người tham gia. Phần trình diễn chính là một cuộc chia sẻ, thảo
luận giữa những người thực hiện và khán giả, trong đó đề cao tính tương tác hay sự
tham gia của khán giả.
- Mục đích của hình thức sân khấu tương tác là nhằm tăng cường nhận thức,
thúc đẩy để học sinh đưa ra quan điểm, suy nghĩ và cách xử lí tình huống thực tế gặp
phải trong bất kì nội dung nào của cuộc sống.
- Tác dụng của hình thức sân khấu tương tác:
+ Thông qua sân khấu tương tác, sự tham gia của học sinh được tăng cường và
thúc đẩy, tạo cơ hội cho học sinh rèn luyện những kĩ năng như: kĩ năng phát hiện vấn
đề, phân tích vấn đề, kĩ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề, khả năng sáng tạo khi
giải quyết tình huống và khả năng ứng phó với những thay đổi của cuộc sống. [5]
+ Sử dụng sân khấu tương tác, học sinh có thể tổ chức diễn kịch về lịch sử toán
học, kể các mẩu chuyện về các nhà toán học, các câu chuyện gắn với các bài toán nổi
tiếng... qua đó HS hiểu biết, yêu thích toán học hơn ngoài ra còn phát triển các năng
lực như sân khấu hóa, thiết kế mĩ thuật, ánh sáng, màu sắc, năng lực ngôn ngữ, năng
lực biểu diễn, tương tác, kết nối với người khác...
+ Sân khấu tương tác thường được tổ chức với quy mô lớn ở tổng kết câu lạc bộ
toán học,...
25