Những vấn đề khó của chương trình Địa lí 12 - Pdf 55


Khuùc maéc

- Hãy cho biết kết quả tác động của quá trình ngoại lực
lên địa hình ?

Hoạt động xâm thực, bồi tụ được đẩy mạnh, hệ
thống sông suối đã bồi đắp những đồng bằng châu thổ,
các khoáng sản có nguồn gốc ngoại sinh được hình
thành.
- Tìm các dẫn chứng để khẳng định giai đoạn tân kiến
tạo vẫn còn đang tiếp diễn cho đến tận ngày nay?


-
Dãy Hoàng Liên Sơn nằm ở khu vực rìa của dãy
Hymalaya vẫn đang được tiếp tục nâng cao do các
hoạt động địa chất ở khu vực Hymalaya.
-
Các đồng bằng lớn của nước ta vẫn tiếp tục quá trình
thành tạo và mở rộng, ví dụ Đồng bằng sông Hồng mỗi
năm mở rộng biển từ 80 – 100m, Đồng bằng sông Cửu
long mỗi năm lấn ra biển từ 60 – 80m.-
Quan sát hình 25.1 và dựa vào kiến thức đã học, hãy
giải thích tại sao kinh tế trang trại lại rất phát triển ở
Đồng bằng sông Cửu Long ?
- Kinh tế trang trại ở nước ta phát triển từ kinh tế hộ gia
đình.

0.69
1.39
%
năm
1.09
3.06
0.5
1.321.32
1.7
2.1
2.16
3.0
3.24
2.93
1.1
3.93
Hình 21.1 Biểu đồ tỉ lệ gia tăng dân số trung bình năm qua các giai đoạn
Trang 78 - SGKNC
?

0
100
200
300
400
500
600
1986 1988 1990 1992 1994 1996 1998 2000 2002 2004



hình. Xin trích một đoạn từ trang 97 đến 102 trong cuốn
Macroeconomics Fifth Edition – Robert J. Gordon (1991)
NXB KHKT- 2000


Giới chuyên môn bàn cãi khá nhiều về
nguyên nhân lạm phát và chính sách
chống lạm phát. Lạm phát ở Việt Nam
được đo bằng chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
của một rổ gồm 494 mặt hàng thiết yếu,
chia ra làm 10 nhóm hàng hóa và dịch vụ.


Lạm phát là gì ?
Trong kinh tế học, lạm phát là hiện tượng giảm mãi lực của đồng
tiền. Điều này cũng đồng nghĩa với “vật giá leo thang”, giá cả hàng
hóa, dịch vụ tăng cao khiến với cùng một số lượng tiền, người tiêu
thụ mua được ít hàng hóa hơn hoặc phải trả một giá cao hơn để
hưởng cùng một dịch vụ.
Một khái niệm khác về lạm phát là khối lượng tiền được lưu hành
trong dân chúng tăng lên do nhà nước in và phát hành thêm tiền vì
những nhu cầu cấp thiết (chiến tranh, nội chiến, thâm thủng ngân
sách v.v...). Trong khi đó, số lượng hàng hoá không tăng khiến dân
chúng cầm trong tay nhiều tiền quá sẽ tranh mua khiến giá cả tăng
vọt có khi đưa đến siêu lạm phát. Những ví dụ cùng cực nhất của
siêu lạm phát đã xảy ra tại Đức trong những năm đầu thập niên
1920 khi tỉ lệ lạm phát lên tới 3,25 x 106 mỗi tháng, có nghĩa là giá
cả tăng gấp đôi mỗi 49 tiếng đồng hồ hoặc tại Hungary sau Thế
chiến thứ hai với tỉ lệ lạm phát 4,19 x 1016 (giá cả tăng gấp đôi mỗi
15 giờ đồng hồ).

tế học vĩ mô. Ngược lại với lạm phát là giảm phát.
Một chỉ số lạm phát bằng 0 hay một chỉ số dương
nhỏ thì được người ta gọi là sự ổn định giá cả.

Chỉ số giảm phát GDP dựa trên việc tính toán của
tổng sản phẩm quốc nội: Nó là tỷ lệ của tổng giá trị GDP
giá thực tế (GDP danh định) với tổng giá trị GDP của năm
gốc, từ đó có thể xác định GDP của năm báo cáo theo giá
so sánh hay GDP thực). (Xem thêm
Thực và danh định trong kinh tế). Nó là phép đo mức giá
cả được sử dụng rộng rãi nhất. Các phép khử lạm phát
cũng tính toán các thành phần của GDP như
chi phí tiêu dùng cá nhân. Tại Mỹ, Cục Dự trữ Liên bang
đã chuyển sang sử dụng khử lạm phát tiêu dùng cá nhân
và các phép khử lạm phát khác để tính toán các chính
sách kiềm chế lạm phát của mình.


Lạm phát là khi đồng tiền bị mất giá trị so
với cách đó một thời gian nào đó. Giảm
phát là đối nghịch lạm phát. Khi bạn nghe
lạm phát âm có nghĩa là giảm phát đó.
Tuy vậy, đừng nghe rằng có giảm phát mà
mừng (vì đồng tiền tăng giá), vì thường
khi giảm phát là nền kinh tế sẽ bị đình
đốn. Tóm lại, giảm phát, hay lạm phát cao
đều có hại.


[sửa] Thiểu phát


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status