1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Đái tháo đường là bệnh nội tiết - chuyển hóa, chiếm 60-70% trong số
các bệnh nội tiết, trong đó chủ yếu là ĐTĐ týp 2 chiếm tới trên 90% tổng số
bệnh nhân đái tháo đường. Tỷ lệ bệnh ngày càng có xu hướng gia tăng theo
thời gian và theo tốc độ phát triển của xã hội, đặc biệt tăng nhanh ở khu vực
châu Á- Thái Bình Dương trong đó có Việt nam, đã và đang là một gánh nặng
lớn về y tế, kinh tế và xã hội.
Hiện nay, điều trị ĐTĐ chủ yếu dùng thuốc hoá dược với các nhóm
thuốc uống và insulin. Hầu hết các thuốc này phải nhập ngoại nên giá thành
còn cao, do phải điều trị thường xuyên và kéo dài suốt đời cho nên rất tốn
kém. Mặt khác bên cạnh tác dụng điều trị thì những thuốc này lại có những
tác dụng phụ độc hại ảnh hưởng đến sức khỏe người bệnh đặc biệt khi phải
dùng lâu dài như với bệnh ĐTĐ. Bởi vậy một trong những xu hướng hiện nay
trong điều trị ĐTĐ typ 2 là sử dụng thảo dược có nguồn gốc tự nhiên để vừa
mang lai hiệu quả điều trị, vừa hạn chế các tác dụng không mong muốn cho
bệnh nhân và sẽ giảm được chi phí điều trị.[2],[3]
YHCT không có bệnh danh “đái thaó đường” nhưng đối chiếu với các
chứng trạng lâm sàng, bệnh này được quy vào phạm vi chứng “tiêu khát” và
lần đầu tiên được mô tả trong sách “Hoàng đế Nội kinh”- một tác phẩm y học
kinh điển nổi tiếng của y học phương Đông- có từ 2000 năm trước [4]. Vì vậy
có rất nhiều các loại thảo dược cũng như các bài thuốc cổ phương dùng điều
trị chứng “Tiêu khát” của YHCT hiện nay đang có xu hướng được nghiên
cứu, ứng dụng trong điều trị bệnh đái tháo đường của YHHĐ [5].
“Nhất đường linh” là một phương thuốc YHCT gồm một số vị thuốc
thường được dùng trên lâm sàng để điều trị chứng Tiêu khát như Sinh địa,
Mạch môn, Sa sâm, Kỷ tử…[6],[7],[8],[9],[10]. Trên thực nghiệm bài thuốc
2
trường. [13],[14],[15].
- Rối loạn tiết insulin: Ở người bình thường, khi đường máu tăng sẽ xuất
hiện insulin sớm và đủ để có thể kiểm soát đường máu. Đối với người bị đái tháo
đường, tình trạng thiếu hụt insulin điển hình sẽ xảy ra sau một giai đoạn tăng
insulin mạn nhằm để bù trừ cho tình trạng kháng insulin. Bài tiết insulin với kích
thích tăng đường máu chậm hơn (không có pha sớm, xuất hiện pha muộn). Ngộ
độc glucose, tăng acid béo tự do mạn tính…có vai trò tham giavào quá trình gây
suy giảm chức năng tế bào beta.
4
- Kháng insulin: ở BN ĐTĐ typ 2, insulin không có khả năng thực hiện
những tác động của mình như người bình thường. Khi tế bào beta không còn khả
năng tiết insulin bù vào số lượng kháng insulin, đường máu lúc đói sẽ tăng và
xuất hiện ĐTĐ. Kháng insulin chủ yếu ở gan, cơ, mô mỡ.
Hậu quả của sự đề kháng insulin:
- Tăng sản xuất glucose ở gan
- Giảm thu nạp glucose ở ngoại vi
- Giảm thụ thể insulin ở các mô ngoại vi.
1.1.3. Các yếu tố nguy cơ bệnh đái tháo đường
-Béo phì, THA, RLLP máu là 3 yếu tố nguy cơ chính của ĐTĐ. Đây là nhân
tố chính thúc đẩy làm xuât hiện bệnh, đồng thời làm cho bệnh nặng lên [13].
1.1.3.1.Tăng huyết áp (THA)
ĐTĐ typ 2 và THA là 2 bệnh cảnh thường phối hợp với nhau, chúng làm
gia tăng nguy có bệnh lý tim mạch và thận. THA có thể xuất hiện trước hoặc
sau khi có biểu hiện trên lâm sàng của bệnh ĐTĐ. Tỷ lệ THA của BN ĐTĐ
typ 2 tăng theo tuổi đời, tuổi bệnh, chỉ số khối cơ thể. THA ở người ĐTĐ có
rất nhiều cơ chế, nhiều yếu tố phối hợp nhau làm thúc đẩy các biến chứng vi
mạch và biến chứng mạch máu lớn xuất hiện sớm, tổn thương nặng nề hơn do
(chủ yếu mô cơ, mô mỡ). Do tính kháng insulin cộng với sự giảm tiết insulin
dẫn tới giảm tính thấm màng tế bào với glucose ở tổ chức cơ và mỡ, ức chế
quá trìng phosphoryl hoá và oxy hoá glucose, làm chậm quá trình chuyển hoá
hydratcacbon thành mỡ, giảm tổng hợp glucose ở gan, tăng tân tạo đường mới
và ĐTĐ xuất hiện [15].
1.1.3.4. Các yếu tố nguy có khác:
- Phụ nữ có tiền sử đẻ con> 4kg
- Phụ nữ đã từng bị ĐTĐ trong thời kỳ thai nghén
- Trong gia đình có cha mẹ ruột bị ĐTĐ
- Trong gia đình có anh chị em ruột bị ĐTĐ
6
- Người trung niên từ 45-65 ít hoạt động
- Tiền sử rối loạn dung nạp glucose hoặc rối loạn glucose lúc đói.
1.1.4. Triệu chứng lâm sàng của ĐTĐ typ 2.
Bệnh nhân bị bệnh ĐTĐ typ 2 trong giai đoạn toàn phát có thể có các
triệu chứng điển hình như ăn nhiều, khát nhiều, uống nhiều, đái nhiều, người
mệt mỏi, sút cân. Nhưng có nhiều bệnh nhân không được chú ý vì không có
các triệu chứng trên mà phát hiện ra ĐTĐ khi họ đi khám vì các bệnh cảnh
khác như tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim, dị cảm da, ngứa và ra
nhiều khí hư hoặc suy sinh dục…
Ngoài ra những người có tiền sử béo phì vùng bụng, tiền sử gia đình có
người bị ĐTĐ typ 2, phụ nữ sinh con >4kg, có tiền sử đa ối, sản giật, thai chết
không rõ căn nguyên…cũng cần kiểm tra đường máu.
1.1.5. Chẩn đoán bệnh đái tháo đường typ 2
Dựa vào tiêu chuẩn của tổ chức y tế thế giới 1998 (WHO-1998). Chỉ cần
có một trong các tiêu chuẩn sau:
- Glucose máu huyết tương lúc đói ≥ 7mmol/l (126 mg/dl),định lượng ít
a. Biến chứng vi mạch
- Biến chứng mắt: Khoảng 20% bệnh nhân mới chẩn đoán đã có biến
chứng này.
- Biến chứng thận: Bệnh cầu thận đái tháo đường, viêm hoại tử đài bể
thận…
b. Biến chứng mạch máu lớn
- Biến chứng mạchvành: Thường gặp cơn đau thắt ngực và nhồi máu cơ tim.
- Tăng huyết áp: Thường gặp ở ĐTĐ typ 2 là 50%, ĐTĐ typ 1 khoảng 30%
- Tai biến mạch máu não
- Bệnh mạch máu ngoại biên: chủ yếu là viêm động mạch chi dưới.
c. Biến chứng thần kinh
- Viêm đa dây thần kinh ngoại biên, bệnh đơn dây thần kinh, bệnh thần
kinh tự động (hạ huyết áp tư thế, rối loạn nhịp tim, biến chứng bàn chân…)
Các biến chứng nhiễm khuẩn: ở da, niêm mạc, tiết niệu, sinh dục…
8
1.1.7. Điều trị bệnh ĐTĐ typ 2
Hiện chưa có phương pháp điều trị khỏi bệnh, các biện pháp nhằm giảm
triệu chứng lâm sàng, kiểm soát đường huyết ở mức tối ưu, làm chậm xuất
hiện các biến chứng [15]. Mục tiêu điều trị tuỳ thuộc vào từng BN:
- Đường huyết lúc đói duy trì ở mức 3,9-7,2 mmol/l (70-130mg/dl)
- Đường huyết sau ăn 2h< 10mmol/l (
- Đủ chất đạm, béo, đường, vitamin, nước, muối khoáng với khối lưọng
hợp lý, đảm bảo nhu cầu calo theo giới, tuổi, nghề nghiệp.
Bảng 1.2. Nhu cầu năng lượng
Lao động
Nhu cầu năng lượng
Nam
Nữ
Nhẹ
CNLT x 30 Kcal/kg/ngày
CNLT x 25 Kcal/kg/ngày
Trung bình
CNLT x 35 Kcal/kg/ngày
CNLT x 30 Kcal/kg/ngày
Nặng
CNLT x 44 Kcal/kg/ngày
CNLT x 40 Kcal/kg/ngày
Cân nặng lý tưởng=(chiều cao)2x 22
đường huyết quá cao, ceton máu tăng cao nhiều lần, ceton niệu dương tính nặng.
- Hình thức luyện tầp: Đi bộ, chơi thể thao, tập thể dục thường xuyên… [17]
c. Điều trị bằng thuốc
Thuốc làm giảm đường huyết gồm có insulin và các thuốc uống. Các
thuốc này được chỉ định khi chế độ ăn không đủ để làm giảm đường huyết ở
ĐTĐ typ 2.
Theo đường dùng và nguồn gốc, các thuốc giảm đường huyết được chia
thành các nhóm chính [25]
*Insulin: Insulin được tiết ra từ tế bào beta của tuỵ. Trong điều trị phần
lớn insulin được sản xuất bằng phương pháp sinh học cao giống insulin
người. 10-15% BN ĐTĐ typ 2 lúc đầu đã không đáp ứng với thuốc uống,
hàng năm có thêm 5-10% BN không kiểm soát được đường huyết bằng thuốc
uống [14].
*Thuốc giảm đường huyết dùng đường uống [12],[15],[18]
** Nhóm kích thích tuỵ bài tiết insulin:
Nhóm Sulfonylure (SU): Các thuốc thế hệ 1: gồm: Tolbutamid,
acetohexamic, tolazamid, clopropamid hiện nay hầu như không sử dụng vì
trọng lượng phân tử cao dễ gây độc với thận.
* Các thuốc thế hệ 2: Tác dụng mạnh hơn thế hệ 1 gồm: Glibenclamid
(Daonil, Maninil); Gliclazid: Predian 80mg (80-320mg/ngày); Diamicron MR
11
30mg (30-120mg/ ngày), Glipizid: 2,5-40mg/ngày; Glimepirid: Amaryl 1-2-34mg (1-8mg/ngày)
Chống chỉ định: ĐTĐ typ 1, suy tim, suy gan, suy thận, nhiễm trùng
nặng, ĐTĐ typ 2 có biến chứng cấp nặng.
Tác dụng phụ: gây hạ đường máu, tăng cân.
Các thuốc nhóm không SU: Meglitinid, Nateglinid.
** Nhóm Biguanid: Thuốc làm giảm tân tạo glucose ở gan, ở tổ chức
cho nấm men, vi khuẩn phát triển.[11]
1.2.QUAN ĐIỂM CỦA Y HỌC CỔ TRUYỀN VỀ BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG
Trong YHCT không có bệnh danh Đái tháo đường nhưng dựa vào triệu
chứng lâm sàng chủ yếu thường gặp của bệnh là: Thèm ăn, ăn nhiều mà vẫn
gầy, khát nước uống nhiều và đi tiểu nhiều, người mệt mỏi… thì bệnh này
thuộc phạm vi chứng “Tiêu khát” của YHCT - một chứng bệnh đã được mô tả
từ rất sớm trong bộ sách “Hoàng đế nội kinh Tố vấn” ở thế kỷ IV-V trước
công nguyên với những triệu chứng cơ bản: “Ăn nhiều, uống nhiều, đái nhiều
và gầy nhiều”, người xưa gọi là “Tam đa nhất thiểu”. Trương Trọng Cảnh,
một danh y nhà Hán - thế kỷ II-III sau công nguyên ở Trung Quốc trong sách
“Kim quỹ yếu lược” có ghi “Khát mà uống nhiều, tiểu tiện trong không đục,
nếm như hạt cám ngọt là thuộc chứng Tiêu khát”. Hải Thượng Lãn Ông danh y Việt Nam ở thế kỷ XVIII trong sách “Y trung quan kiện” có ghi:
“Chứng Tiêu khát phần nhiều do hỏa làm tiêu hao chân âm, làm 5 chất dịch bị
khô kiệt mà sinh ra”. [19],[20]
13
1.2.1 Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của bệnh tiêu khát
1.2.1.1 Tiên thiên bất túc:
Do tiên thiên bất túc, nguyên khí của cơ thể bị suy giảm từ nhỏ. Yếu tố
này ngày nay dễ liên hệ về tính di truyền trong bệnh Đái tháo đường.
1.2.1.2 Do hậu thiên:
Thường hay gặp ở những người ăn quá nhiều những chất béo ngọt, thể
trạng thừa cân, béo phì, thường kết hợp với quá trình sống, môi trường làm
việc căng thẳng, tinh thần không ổn định…làm người bệnh luôn ở trạng thái
buồn phiền, lo lắng. Yếu tố này ngày nay dễ liên hệ với các yếu tố nguy cơ
của bệnh ĐTĐ typ 2.
Theo YHCT căng thẳng về mặt tinh thần như uất giận kéo dài dẫn tới khí
1.2.2. Điều trị:
Về trị liệu cổ nhân thường lấy biện chứng “tam tiêu” làm cơ sở. Trên lâm
sàng chia uống nhiều là bệnh thuộc Thượng tiêu. Cách chữa là nhuận phế
thanh vị. Ăn nhiều mau đói là bệnh thuộc Trung tiêu. Cách chữa là Thanh vị
kiêm tư âm. Đái nhiều thuộc bệnh Hạ tiêu. Cách chữa Tư thận dưỡng phế âm.
[19],[20]
1.2.2.1. Thể thượng tiêu (Phế âm hư)
- Triệu chứng: phiền khát, uống nước nhiều, miệng khô, lưỡi ráo, đi tiểu
lượng nhiều, rìa lưỡi và đầu lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng mỏng, mạch hồng sác.
- Phân tích: phế vị nhiệt thịnh, tân dịch tiêu thương bởi miệng khô lưỡi
ráo phiền khát dẫn đến uống nhiều. Phế táo mà mất đi phân bố, thủy dịch bất
đắc tản ra được toàn thân, trực tiếp đưa xuống bàng quang dẫn đến số lần, số
lượng nước tiểu tăng lên. Nội nhiệt tích mạnh nên rìa lưỡi và đầu lưỡi đỏ sẫm
rêu lưỡi vàng mỏng, mạch hồng sác.
- Pháp điều trị: Thanh nhiệt nhuận phế, sinh tân chỉ khát
- Phương dược: “Tiêu khát phương” hợp với “thạch cao tri mẫu nhân
sâm thang”
+ Tiêu khát phương (Đan Khê tâm pháp)
15
Thiên hoa phấn
12g
Hoàng liên
Sinh địa
12g
Ngẫu tiết
+ Nhân sâm bạch hổ thang (Thẩm thị tôn sinh)
Sinh chi tử
12g
08g
12g
08g
Sinh địa
Chi tử
Ngưu tất
12g
08g
12g
- Phân tích bài thuốc: Thạch cao thanh nhiệt kinh dương minh, sinh địa
dùng để dưỡng âm ở can thận. Tri mẫu giúp thạch cao thanh nhiệt ở vị đồng
thời có tác dụng ích phế âm, tư thận thủy. Mạch môn cũng là vị thuốc dưỡng
phế âm hợp dùng cùng sinh địa là vị thuốc tư âm. Ngưu tất bổ thận thủy để
dẫn nhiệt hạ hành. Tất cả làm thang sắc uống ngày 01 thang chia 2 lần.
1.2.1. 3.Thể hạ tiêu (thận âm hư)
- Triệu chứng lâm sàng: Người bệnh đi tiểu nhiều lần, lượng nước tiểu
nhiều, nước tiểu đục, vị ngọt không cặn, bệnh nhân khát, uống nhiều nước,
16
ngũ tâm phiền nhiệt, đầu váng, mệt mỏi, đau lưng, mỏi gối, môi khô, lưỡi khô
và đỏ, hay có cơn bốc hỏa. Mạch trầm trì, sác.
- Phân tích: Số lần và số lượng nước tiểu tăng lên là do thận âm bất túc,
Mạch môn
08g
Ngũ vị tử
08g
Bạch thược
12g
Thiên hoa phấn
12g
Xuyên quy
12g
Gia:
- Phân tích bài thuốc: bài lục vị quy thược là bài thuốc có tác dụng dưỡng
âm của can thận, gia mạch môn, thiên hoa phấn để dưỡng phế âm theo phép kim
sinh thủy giúp cho tư bổ phần âm của thận đồng thời đưa hỏa về nguồn. Ngũ vị
có tác dụng thu liễm chỉ di. Tất cả làm thang sắc uống ngày 01 thang chia 2 lần.
1.2.3. Tổng quan về thuốc Nhất đường linh
1.2.3.1. Cơ sở lập phương thuốc
- Đái tháo đường typ 2 là một nhóm các bệnh chuyển hoá có đặc điểm
glutinosa (Gaertn) Libosch.) họ Hoa mõm chó Scrophulariaceae
Theo YHCT Sinh địa có đặc tính:
18
- Tính vị qui kinh: hàn, ngọt đắng vào kinh tâm, can, thận, tiểu trường.
- Công dụng: Bổ chân âm, thanh hỏa, lương huyết, bổ huyết, sinh tân chỉ khát.
- Ứng dụng lâm sàng: Chữa thương hàn ôn bệnh, yết hầu sưng đau,
huyết nhiệt tân dịch khô kiệt, tiêu khát, thông huyết mạch.
- Thành phần hóa học: Từ dịch chiết nước đã xác định có 15 acid amin.
Từ dich chiết bằng methanol được catapol, irinoid glucozid
- Tác dụng dược lý: hạ đường huyết, trợ tim, lợi tiểu, cầm máu, chống
thiếu máu. Thuốc có tác dụng hạ đường huyết nhờ chất catapol. Sinh địa còn
có tác dụng ức chế men aldose reductase, làm giảm tích lũy sorbitol trong tế
bào, làm chậm các biến chứng đục thủy tinh thể của mắt và làm giảm các
bệnh lý thần kinh ngoại biên ở bệnh nhân đái tháo đường do cải thiện vi tuần
hoàn.[21]],[22],[23],[24],[25],[26]
- Liều dùng:9-15g.
* Mạch môn (Radix Ophiopogonis japonici)
Mạch môn là rễ củ đã phơi hay sấy khô của Mạch môn đông (Ophiopogon
japonicas (L. f.) Ker-Gawl.), họ Mạch môn đông (Convallariaceae).
Theo YHCT Mạch môn có đặc tính:
- Tính vị quy kinh: vị ngọt, hơi đắng, hơi lạnh vào kinh vị, tâm, phế.
- Công dụng: Nhuận phế thanh tâm, dưỡng vị sinh tân dịch, thanh tâm
trừ phiền, nhuận táo thông tiện.
- Ứng dụng lâm sàng: chữa miệng họng khô khát, ho khan kéo dài do âm hư
- Thành phần hóa học: Saponin steroid: ophiopogoni A, B, C, D;
Carbohydrat gồm có glucofructan và một số monosaccharid như glucose,
fructose và saccharose; b-sitosterol, stigmasterol...
20
nước của Bạch truật có tác dụng chống viêm khớp.
+ Cao nước rễ Artractylodes japonica Koidz có tác dụng hạ đường huyết
trên thực nghiệm, cao được phân tích dựa trên hoạt tính dược lý và thu được 3
Glycan là các Artractan A, B, C, có tác dụng hạ đường huyết trên chuột nhắt
bình thường và chuột gây ĐTĐ bằng Alloxan.[34],[35],[36],[37],[38],[39]
- Liều dùng: 6-12g
*Kỷ tử (Fructus Lycii.)
Quả chin phơi hay ssấy khô của cây Câu kỷ (Lycium barbarum L.), họ
Cà (Solanaceae)
Theo YHCT Kỷ tử có đặc tính:
- Tính vị qui kinh: Vị ngọt, tính bình, qui kinh can, phế, thận.
- Công dụng: Tư bổ can thận, dưỡng huyết, minh mục và nhuận phế.
- Ứng dụng lâm sàng: Chữa tay chân yếu mỏi, mờ mắt, di mộng tinh.
- Thành phần hoá học: có chứa các thành phần có tác dụng hạ
đườnghuyết (polysaccharide, betaine), có chừng 0,09% chất betanin. Ngoài ra
còn có carotene,calci, phosphor, sắt, vitamin C, acid xyanhydric.
- Thành phần hóa học: Betain, acidamin, polysacharid, vitamin B1, B2,
C, acid nicotinic, Ca, P, Fe...
- Tác dụng dược lý:
+ Cải thiện và điều tiết công năng miễn dịch của cơ thể.
+ Nâng cao năng lực hoạt động của hệ thống nội tiết tuyến yên-tuyến
thượng thận.
+ Bảo vệ tế bào gan, ức chế sự lắng đọng chất mỡ trong gan, thúc đẩy
quá trình sinh của tế bào gan.
+ Điều chỉnh rối loạn lipid máu, làm hạ cholesterol và làm chậm sự hình
Theo YHCT Đương quy có đặc tính:
- Tính vị qui kinh: vị ngọt cay, tính ôn, vào 3 kinh tâm, can, tỳ.
- Công dụng: bổ huyết, hoạt huyết, nhuận táo, thông kinh.
- Ứng dụng lâm sàng: trị sưng đau, trừ phong thấp, thiếu máu, bế kinh,
nhuận táo thông tiện.
- Thành phần hóa học: Tinh dầu chiếm 0,2% chủ yếu là n-butylidenphtalit
và n-valerophenon cacboxy acid.
- Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại: Ức chế co tử cung, giãn mạch,
tăng lưu lượng máu cơ tim, nước chiết Đương quy có tác dụng ức chế ngưng
tập tiểu cầu, ức chế tổng hợp Thromboxan A2 và tăng tổng hợp PGI2, giảm
mỡ máu, đường máu [57],[58],[59],[60],[61],[62].
- Liều dùng: 6-16 g.
* Sa sâm (Radix Glehniae)
Rễ đã phơi hay sấy khô của cây Sa sâm(Glehnia littoralis Fr. Schmidt ex
Miq), họ Hoa tán (Apiaceae).
Theo YHCT Sa sâm có đặc tính:
- Tính vị qui kinh: Vị ngọt, tính hàn, qui kinh phế, vị.
23
- Công năng: nhuận phế, thanh táo nhiệt, ích vị, sinh tân.
- Chủ trị: ho do phế có táo nhiệt với các biểu hiện: ho khan, ho kéo dài,
đờm đặc, sốt, khát, háo, tân dịch giảm sút gây chứng họng khô, miệng khô,
nứt, chảy máu chân răng.
- Thành phần hoá học và tác dụng dược lý: chứa Saponin (Triterpenoid)
có tác dụng hạ đường huyết, dịch chiết rễ bằng cồn có tác dụng làm giảm nhẹ
thân nhiệt ở thỏ, hạ nhiệt ở thỏ sốt do tiêm vaxcin. [63],[64],[65],[66],[67]
- Liều dùng: 6-12g.
ngày) và lô trị 2 (uống 24g dược liệu/kg/ngày) đều không có sự khác biệt có ý
nghĩa thống kê so với lô chứng và so sánh giữa các thời điểm trước và sau khi
thử (p>0,05).
► Ảnh hưởng của NĐL đến chức năng gan và mức độ hủy hoại tế
bào gan.
- Kết quả cho thấy hoạt độ 2 enzym AST, ALT; hàm lượng albumin,
cholesterol, bilirubin không tăng trong huyết thanh ở các thời điểm sau 4
tuần, 8 tuần và 12 tuần uống NĐL liên tục so với lô chứng và so với trước
uống thuốc và không khác biệt so với lô chứng. Điều đó chứng tỏ NĐL liều
4,8 g dược liệu/kg/ngày và 24 g dược liệu /kg/ngày sau 12 tuần liên tục không
ảnh hưởng tới chức năng gan thỏ.
►Ảnh hưởng của NĐL đến chức năng thận
- Trong nghiên cứu, creatinin trong máu thỏ sau sau 4 tuần, 8 tuần và 12
tuần uống NĐL ở hai liều 4,8 g dược liệu/kg/ ngày và 24g dược liệu/kg/ ngày)
không có sự thay đổi so với trước khi dùng thuốc và so với lô chứng. Kết quả
của nghiên cứu cho thấy NĐL không ảnh hưởng đến chức năng lọc của cầu thận.
25
► Ảnh hưởng của NĐL lên cấu trúc đại thể và vi thể của gan và thận thỏ.
- Quan sát cấu trúc đại thể gan và thận thỏ ở lô trị 1 uống 4,8 g dược
liệu/kg/ngày (liều tương đương dùng trên lâm sàng); lô trị 2 uống NĐL 24 g
dược liệu/kg/ngày (gấp 5 lần liều trên lâm sàng) và lô chứng cho thấy không
có sự thay đổi bệnh lý nào về mặt đại thể của các cơ quan tim, phổi, gan, lách,
tuỵ, thận và hệ thống tiêu hoá của thỏ sau 12 tuần uống thuốc.
- Các mẫu bệnh phẩm gan ở lô chứng có hình ảnh tế bào gan bình
thường và thoái hóa nhẹ. Các mẫu bệnh phẩm gan ở hai lô dùng thuốc, trong
đó lô trị 1 dùng liều 4,8 g dược liệu/kg có 1 mẫu bệnh phẩm tế bào gan bình
thường, còn lại thấy có hình ảnh thoái hóa ở mức độ vừa; lô trị 2 dùng liều 24