VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ HOÀNG ANH
BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO
VI PHẠM HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ VẬN TẢI
BẰNG ĐƯỜNG KHÔNG THEO PHÁP LUẬT
VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ HOÀNG ANH
BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO
VI PHẠM HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ VẬN TẢI
BẰNG ĐƯỜNG KHÔNG THEO PHÁP LUẬT
VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số
: 8.38.01.07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
2.1. Nguyên tắc xác định trách nhiệm .......................................................................24
2.2. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng dịch vụ vận tải của
người vận chuyển ......................................................................................................27
2.3. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng dịch vụ vận tải của
người gửi hàng, người nhận hàng và hành khách trong vận chuyển bằng đường
không .........................................................................................................................36
2.4. Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của người vận chuyển hàng không.....................45
2.5. Giải quyết tranh chấp liên quan đến trách nhiệm của người vận chuyển hàng
không về thiệt hại xảy ra đối khi vi phạm hợp đồng trong quá trình vận chuyển ....49
CHƯƠNG 3. ĐÁNH GIÁ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ
BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ VẬN
TẢI BẰNG ĐƯỜNG HÀNG KHÔNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ...................59
3.1. Đánh giá quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp
đồng dịch vụ vận tải bằng đường không ...................................................................59
3.2. Một số kiến nghị.................................................................................................70
KẾT LUẬN ..............................................................................................................76
TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trải qua một quá trình phát triển lâu dài, hàng không dân dụng Việt Nam đã
có những bước phát triển đáng kể từ những năm 1990 đến nay và đã góp phần tích
cực vào việc tăng cường giao lưu và hợp tác quốc tế của đất nước trong thời kỳ đổi
mới. Ý thức được tầm quan trọng của hàng không dân dụng trong giai đoạn hiện
nay, Đảng và nhà nước ta đang quan tâm tạo điều kiện cho ngành được phát triển
thuận lợi nhất, góp phần phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và
hội nhập quốc tế của đất nước.
Bên cạnh những ưu thế so với một số ngành vận chuyển khác về mặt thời gian,
chất lượng dịch vụ, vận chuyển hàng không còn là một lĩnh vực chịu nhiều rủi ro và
Trong luận văn thạc sĩ của tác giả Lê Văn Lân với đề tài: “Bảo hiểm trách
nhiệm dân sự của hàng không Việt Nam đối với hành lý, hàng hóa và tư trang khi vi
phạm hợp đồng” tác giả cũng có nêu lên một số quy định của pháp luật hàng không
về trách nhiệm của người vận chuyển về thiệt hại đối với hành lý, hàng hóa và tư
trang khi vi phạm hợp đồng nhưng đi sâu vào xem xét về việc bảo hiểm trách nhiệm
này và nó cũng chỉ đề cập đến một phần thiệt hại khi vi phạm hợp đồng chứ không
bao gồm tất cả các thiệt hại hành khách có thể gặp phải trong quá trình vận chuyển
như đề tài: “trách nhiệm của người vận chuyển hàng không về những thiệt hại xảy
ra đối với hành khách trong quá trình vận chuyển” - thiệt hại mà đề tài này đề cập
còn có cả tính mạng, sức khỏe khi vi phạm hợp đồng hay trường hợp thiệt hại do
vận chuyển chậm.
Tiếp đến trong luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Ngọc Thái viết về đề tài:
“Hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không” có đề cập đến vấn đề
trách nhiệm của người vận chuyển nhưng chỉ đối với thiệt hại của hàng hóa trong
hợp đồng vận chuyển hàng hóa thông thường mà thôi.
Ngoài ra có thể kể đến công trình nghiên cứu “một số vấn đề về luật hàng
không”, của PGS.TS Ngô Huy Cương là công trình nghiên cứu và đánh giá một
cách đầy đủ và toàn diện về các vấn đề liên quan đến luật hàng không. Tuy nhiên, vì
là một công trình bao quát nên không thể nghiên cứu một cách chi tiết, sâu rộng về
trách nhiệm của người vận chuyển hàng không về những thiệt hại khi vi phạm hợp
2
đồng trong quá trình vận chuyển được.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn đánh giá thực trạng pháp luật về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp
đồng dịch vụ vận tải bằng đường không và đưa ra một số kiến nghị góp phần hoàn
thiện chế định này.
nghĩa vụ để tìm hiểu, luận giải trách nhiệm bồi thường do vi phạm nghĩa vụ của các
bên trong quan hệ hợp đồng dịch vụ vận tải bằng đường không; để đánh giá thực
trạng pháp luật về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng dịch vụ vận tải bằng
đường không và đề xuất giải pháp hoàn thiện chế định pháp luật này.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu
như phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp so sánh pháp luật, phương
pháp mô hình hoá, điển hình hoá các quan hệ xã hội, phương pháp phân tích qui
phạm và phân tích tình huống. Với đề tài đã lựa chọn nêu trên cần vận dụng cả
phương pháp chung cũng như phương pháp chuyên ngành. Cụ thể như phương pháp
so sánh, phương pháp tổng hợp, phân tích, thống kê, điều tra xã hội học… tùy từng
khía cạnh vấn đề mà có sự vận dụng linh hoạt. Về phương pháp so sánh nó được áp
dụng khi xem xét quy định của các văn bản pháp luật hàng không qua các thời kỳ và
văn bản pháp luật hàng không quốc gia với công ước quốc tế. Khi trình bày các quy
định của pháp luật tác giả không dừng lại ở mức tổng hợp các quy định rồi nêu ra
mà còn có những đánh giá phân tích từng điều khoản. Về phương pháp thống kê,
điều tra xã hội học tác giả đã sử dụng khi tìm hiểu một số vi phạm của người vận
chuyển hàng không và hành khách cũng như khi điều tra mức độ hiểu biết pháp luật
hàng không của người sử dụng dịch vụ hàng không.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1. Về mặt lý luận
Luận văn nêu và phân tích có hệ thống những vấn đề lý luận của pháp luật
trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi vi phạm hợp đồng vận chuyển hàng không.
6.2. Về mặt thực tiễn
Luận văn phản ánh những ưu điểm, hạn chế mà pháp luật về trách nhiệm bồi
4
thường thiệt hại khi vi phạm hợp đồng vận chuyển hàng không hiện hành. đạt được
- Vận tải hàng không an toàn hơn so với các phương tiện vận tải khác.
- Vận tải hàng không luôn đòi hỏi sử dụng công nghệ cao.
- Vận tải hàng không cung cấp các dịch vụ tiêu chuẩn hơn hẳn so với các
phương thức vận tải khác.
- Vận tải hàng không đơn giản hoá về về chứng từ thủ tục so với các phương
thức vận tải khác.
* Bên cạnh ưu điểm trên, vận tải hàng không cũng có những hạn chế sau:
- Cước vận tải bằng đường không cao so với các hình thức vận chuyển khác.
-Vận tải hàng không không phù hợp với vận chuyển hàng hoá cồng kềnh, hàng
hoá có khối lượng lớn hoặc có giá trị thấp.
- Vận tải hàng không đòi hỏi đầu tư lớn về cơ sở vật chất kỹ thuật cũng như
đào tạo nhân lực phục vụ.
Tiếp cận dưới góc độ khoa học pháp lý đã cho thấy rằng mỗi người sống trong
xã hội đều phải tôn trọng quy tắc chung của xã hội, không thể vì lợi ích của mình
6
mà xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Khi có hành vi vi
phạm nghĩa vụ hợp đồng và nếu có đủ căn cứ xác định trách nhiệm thì người vi
phạm phải chịu trách nhiệm, trong đó có trách nhiệm bồi thường đối với thiệt hại do
vi phạm nghĩa vụ gây ra. Theo giải thích của BLDS năm 2015 (Điều 363) trách
nhiệm bồi thường thiệt hại là “một hình thức của trách nhiệm dân sự mà theo đó thì
khi một người vi phạm nghĩa vụ pháp lý của mình gây tổn hại cho người khác phải
bồi thường những tổn thất mà mình gây ra”.
Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng dịch vụ vận
tải bằng đường không là một loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp
đồng từ hai bên gồm có ba chủ thể - đó là người vận chuyển, người thuê vận chuyển
hay người gửi hàng hoá, và người nhận hàng hoá. Người vận chuyển thường là
doanh nghiệp vận chuyển hàng không. Còn người thuê vận chuyển và người nhận
hàng hoá có thể là bất kỳ người nào có nhu cầu vận chuyển hàng hoá bằng đường
quản và xuất thẻ hành lý; hành lý xách tay là bất kỳ hành lý nào của hành khách
không phải là hành lý ký gửi. Hành lý xách tay được phép mang theo lên cabin máy
bay cùng với hành khách và do hành khách tự bảo quản trong suốt chuyến đi” [12]
Khái niệm hàng hóa:
“Hàng hóa là bất kỳ thứ gì được chuyên chở trên máy bay ngoại trừ bưu kiện,
hành lý ký gửi hoặc hành lý xách tay mà người vận chuyển chịu trách nhiệm bảo
quản và xuất vận đơn hàng không (AWB=Air Waybill) (Theo định nghĩa của The
Air Cargo Tariff Rules – TACT – April của IATA). Vận đơn hàng không là chứng
từ dành cho việc vận chuyển hàng hóa. Tất cả hàng hóa được vận chuyển, tất cả
những kiện hàng nào được để trên máy bay dù được trả cước hay không trả cước
đều phải có vận đơn hàng không kèm theo” [10]
Khái niệm tư trang của hành khách: “tư trang là những vật dụng mà hành
khách mang theo lên khoang hành khách và được hành khách tự bảo quản cùng với
hành lý xách tay ví dụ như tiền, vàng, giấy tờ tùy thân” [12]
1.1.2. Đặc điểm của bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng dịch vụ vận
tải bằng đường không
Thứ nhất, trách nhiệm của người vận chuyển hàng không được điều chỉnh bởi
các công ước quốc tế về vận chuyển hàng không, luật hàng không dân dụng và các
văn bản liên quan. Trong các văn bản này vấn đề trách nhiệm của người vận chuyển
8
hàng không đối với thiệt hại của hành khách trong quá trình vận chuyển được quy
định khá cụ thể, ví dụ như vấn đề về thời hạn trách nhiệm; cơ sở của trách nhiệm
hay giới hạn trách nhiệm…
Thứ hai, vận chuyển hàng không có thể xảy ra trong phạm vi lãnh thổ một
quốc gia nhưng cũng có thể xảy ra ở nhiều lãnh thổ nên khi phát sinh tranh chấp
liên quan đến trách nhiệm của người vận chuyển hàng không vấn đề cơ quan nào
thuộc quốc gia lãnh thổ nào có thẩm quyền xem xét cũng là một vấn đề phức tạp và
thế giới xác định và được quy ước là quyền rút vốn đặc biệt.
Thứ sáu, vận chuyển hàng không thường ít xảy ra rủi ro nhưng khi xảy ra rủi
ro thì hậu quả lại rất lớn. Vì vậy, để đảm bảo thực hiện trách nhiệm của người vận
chuyển pháp luật đã quy định bắt buộc người vận chuyển phải mua bảo hiểm trách
nhiệm bồi thường thiệt hại đối với tính mạng, sức khỏe của hành khách, việc mất
mát, thiếu hụt, hư hỏng hành lý hàng hóa và do vận chuyển chậm hoặc thực hiện
các biện pháp bảo đảm khác đến mức giới hạn trách nhiệm của người vận chuyển.
1.2. Các điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm
hợp đồng
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại được đặt ra khi hành vi vi phạm hợp đồng
dân sự đã gây ra một thiệt hại. Mặt khác một người chỉ phải chịu trách nhiệm dân
do vi phạm hợp đồng khi họ có lỗi. Vì vậy, việc xác định trách nhiệm bồi thường
thiệt hại do vi phạm hợp đồng cần dựa trên các cơ sở:
- Có hành vi vi phạm hợp đồng
- Có thiệt hại xảy ra
- Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng và thiệt hại xảy ra
- Người vi phạm hợp đồng có lỗi
1.2.1. Vi phạm hợp đồng và các hành vi vi phạm hợp đồng
1.2.1.1. Vi phạm hợp đồng là việc một bên không thực hiện, thực hiện không
đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thoả thuận giữa các bên hoặc theo
quy định của pháp luật. Tuy nhiên thỏa thuận này (nếu có), thì phải thể hiện rõ
trong hợp đồng. Nếu trong hợp đồng không có nội dung này thì xem như hai bên
không thỏa thuận.
Nội dung của hợp đồng là sự thỏa thuận của các bên trên cơ sở quy định của
pháp luật và không trái đạo đức xã hội. Chính vì vậy, về nguyên tắc hành vi thực
hiện không đúng, không thực hiện, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trong hợp đồng
do các bên đã cam kết, thỏa thuận hay dựa trên quy định của pháp luật thì khi đó
hành vi đó sẽ bị coi là hành vi vi phạm hợp đồng. Tuy nhiên trong một số trường
10
bay;
11
- Xây dựng công trình kiến trúc, lắp đặt trang bị, thiết bị, trồng cây có khả
năng gây ảnh hưởng đến hoạt động bay và hoạt động của các trang bị, thiết bị quản
lý vùng trời, quản lý hoạt động bay;
- Xây dựng trong khu vực cảng hàng không, sân bay, khu vực lân cận cảng
hàng không, sân bay các công trình hoặc lắp đặt các trang bị, thiết bị gây ra nhiều
khói, bụi, lửa, khí thải hoặc xây dựng trường bắn hoặc các công trình, lắp đặt các
trang bị, thiết bị khác có khả năng ảnh hưởng đến an toàn bay, hoạt động của các
trang bị, thiết bị tại cảng hàng không, sân bay;
- Lắp đặt, sử dụng trong khu vực cảng hàng không, sân bay hoặc khu vực lân
cận cảng hàng không, sân bay các loại đèn, ký hiệu, tín hiệu hoặc các vật thể ảnh
hưởng đến việc tàu bay cất cánh, hạ cánh tại cảng hàng không, sân bay hoặc việc
nhận biết cảng hàng không, sân bay;
-
Nuôi, thả chim, gia súc, gia cầm trong khu vực cảng hàng không, sân bay;
-
Can thiệp bất hợp pháp vào hoạt động hàng không dân dụng;
-
Đưa vũ khí, chất cháy, chất nổ, các vật phẩm nguy hiểm khác lên tàu bay,
vào cảng hàng không, sân bay và các khu vực hạn chế khác trái quy định;
trạng xấu đi do hành vi vi phạm hợp đồng của bên kia gây ra;
+ Tài sản bị hư hỏng, mất mát, hủy hoại: là sự giảm sút giá trị của một tài sản
hoặc sự thiếu hụt về tài sản do người vi phạm hợp đồng gây ra
- Những thiệt hại gián tiếp: được hiểu là những thiệt hại phải dựa trên sự tính
toán khoa học mới xác định được mức đọ thiệt hại
Để xác định trách nhiệm bồi thường là phải có thiệt hại thực tế xảy ra. Đó có
thể là thiệt hại về tính mạng, sức khỏe của hành khách; thiệt hại do mất mát, thiếu
hụt, hư hỏng hành lý hàng hóa của hành khách hay thiệt hại do vận chuyển chậm
hành khách, hành lý và hàng hóa... Những thiệt hại này đều được quy định cụ thể
trong công ước Vácsava năm 1929 cũng như Luật hàng không dân dụng Việt Nam
các thời kỳ. Cụ thể:
Công ước Vácsava, điều 17 quy định: “Người chuyên chở phải chịu trách
nhiệm về thiệt hại xảy ra trong trường hợp hành khách chết hoặc bị thương hoặc bất
kỳ thương tích về thân thể nào của hành khách, nếu tai nạn gây ra thiệt hại xảy ra ở
máy bay hoặc quá trình lên xuống máy bay.”
Điều 18, khoản 1: “Người chuyển chở phải chịu trách nhiệm về thiệt hại xảy ra
trong trường hợp hàng hóa, hoặc hành lý ký gửi bị phá hủy hay mất mát, hư hỏng
nếu sự việc xảy ra trong quá trình chuyển chở hàng không”.
Điều 19: “Người vận chuyển phải chịu trách nhiệm về thiệt hại do chậm trễ
13
xảy ra trong quá trình vận chuyển hành khách, hành lý và hàng hóa.”
Những cơ sở này cũng được quy định tương tự trong luật hàng không dân
dụng Việt Nam năm 2006 tại Chương VIII về bồi thường thiệt hại cho hành khách
sử dụng dịch vụ vận chuyển hàng không.
Điều cần lưu ý ở đây chính là việc xác định thiệt hại thực tế, thế nào là thiệt
hại thực tế? Thiệt hại thực tế khác với thiệt hại được kê khai như thế nào? Có nhiều
trường hợp khi ký gửi hành lý và hàng hóa hành khách đã làm thủ tục kê khai giá trị
Tuy nhiên nhiều pháp nhân được thừa nhận có khả năng hưởng quyền và gánh vác
nghĩa vụ nhưng pháp luật không cho trong thực tế được hành xử trong một số lĩnh
vực nhất định. Chẳng hạn cũng đều là doanh nghiệp vận chuyển hàng hoá nhưng
không phải doanh nghiệp nào cũng được giao kết hợp đồng vận chuyển hàng hoá
bằng đường hàng không.
Nói tới doanh nghiệp là nói tới tổ chức chuyên môn thực hiện các hành vi
thương mại nhằm mục tiêu lợi nhuận. Doanh nghiệp vận chuyển hàng không là
doanh nghiệp chuyên thực hiện các hành vi vận chuyển thương mại.
Bởi những đặc thù của hoạt động vận chuyển hàng không đã có tính quy định
đối với tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp vận chuyển hàng không, nên việc tổ
chức doanh nghiệp vận chuyển hàng không phải đáp ứng những đặc điểm riêng của
hoạt động vận chuyển hàng không. Do vậy, pháp luật của các nước thường qui định,
một doanh nghiệp chỉ được cấp giấy phép kinh doanh dịch vụ vận chuyển hàng
không khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:
Thứ nhất, phải có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh chủ yếu là vận chuyển
hàng không;
Thứ hai, phải đảm bảo có tàu bay để khai thác nhằm mục đích vận chuyển
hàng không;
Thứ ba, phải có tổ chức bộ máy, có nhân viên hàng không được cấp giấy phép,
chứng chỉ phù hợp để khai thác tàu bay, và kinh doanh vận chuyển hàng không;
Thứ tư, phải đáp ứng điều kiện về vốn theo quy định của pháp luật;
Thứ năm, phải có khả năng đáp ứng các nhu cầu của thị trường vận chuyển
hàng không khi được chỉ định khai thác đường bay nhất định.
Các doanh nghiệp vận chuyển hàng không sau khi đã được thành lập hợp pháp
15
và được phép kinh doanh sẽ đi vào hoạt động. Hoạt động chủ yếu và thường xuyên
của các doanh nghiệp vận chuyển hàng không là giao kết và thực hiện các hợp đồng
hiệu hóa đơn thuần hợp đồng vận chuyển.
1.2.4. Lỗi của bên vi phạm hợp đồng và phạt vi phạm hợp đồng
1.2.4.1. Lỗi của bên vi phạm
Theo khoản 1 Điều 308 BLDS 2015 quy định “Người không thực hiện hoặc
thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự thì phải chịu trách nhiệm dân sự khi có lỗi cố
ý hoặc lỗi vô ý, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định
khác”.
Từ đây có thể hiểu rằng nếu không có thỏa thuận hoặc pháp luật không có quy
định khác thì chỉ khi nào người vi phạm hợp đồng có lỗi mới phải bồi thường thiệt
hại. Tuy nhiên, về nguyên tắc, người đã được xác định nghĩa vụ trong hợp đồng mà
không thực hiện, thực hiện không đúng và không đầy đủ như quy định của hợp
đồng đương nhiên bị coi là có lỗi. Khi đó, người không thực hiện nghĩa vụ quy định
trong hợp đồng sẽ không phải bồi thường thiệt hại nếu họ chứng minh được rằng
thiệt hại xảy ra là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên có quyền
theo quy định trong hợp đồng.
1.2.4.2. Phạt vi phạm hợp đồng và bồi thường thiệt hại
Phạt vi phạm hay còn gọi là phạt vi phạm hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các
bên, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm.
Mức phạt vi phạm trong hợp đồng dân sự do hai bên thỏa thuận, còn trong
thương mại và xây dựng thì căn cứ vào giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm,
và không quá 8% hoặc 12%.
Điều 418 BLDS năm 2015, quy định về thỏa thuận phạt vi phạm:
“1. Phạt vi phạm là sự thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng, theo đó bên
vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm.
2. Mức phạt vi phạm do các bên thỏa thuận, trừ trường hợp luật liên quan
có quy định khác.
3. Các bên có thể thỏa thuận về việc bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu
phạt vi phạm mà không phải bồi thường thiệt hại hoặc vừa phải chịu phạt vi
phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại.
Bồi thường thiệc hại là chế tài quan trọng và cơ bản nhất nhằm bảo đảm lợi ích
của các bên khi hợp đồng bị vi phạm, tạo ra khả năng đảm bảo lợi ích một cách
tối đa cho mọi bên có liên quan trong quan hệ hợp đồng. Chính vì thế, chế tài này
được áp dụng cho hầu hết các hành vi vi phạm hợp đồng.
Thông thường về nguyên tắc, người vận chuyển không được hưởng giới hạn
trách nhiệm nếu có chứng minh rằng thiệt hại xảy ra đối với hàng hóa là do lỗi của
người vận chuyển, nhân viên hoặc các đại lý của người vận chuyển. Lỗi này được
Công ước Montreal 1999 giải thích là hành động hay sự bất cẩn của người vận
chuyển thực hiện cố ý gây thiệt hại hoặc cẩu thả và với nhận thức được rằng thiệt
18
hại có thể xảy ra. Trong trường hợp nhân viên hoặc đại lý của người vận chuyển có
hành vi hoặc sai sót như vậy thì phải chứng minh được rằng nhân viên hoặc đại lý
đó đã hành động trong phạm vi của sự ủy quyền.
1.3. Giới hạn trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng vận
chuyển hàng không
1.3.1. Trách nhiệm của người vận chuyển
Như vậy về cơ bản, người vận chuyển hàng không chỉ chịu trách nhiệm đối
với hàng hóa khi hàng hóa ở trong tàu bay, ở cảng hàng không, sân bay. Trong
trường hợp tàu bay buộc phải hạ cánh ngoài cảng hàng không nhằm đảm bảo an
toàn cho hành trình như để khắc phục một sự cố, hay do tai nạn mà tàu bay buộc
phải hạ cánh, thì người vận chuyển hàng không còn phải chịu trách nhiệm đối với
hàng hóa khi hàng hóa ở bên ngoài tàu bay, ngoài cảng hàng không, tức là ở bất kỳ
nơi nào mà tàu bay hạ cánh.
Người vận chuyển hàng không không phải chịu trách nhiệm đối với hàng hóa
ở giai đoạn vận chuyển đường bộ, đường biển, hay đường sông. Tuy nhiên, nếu vận
chuyển đường bộ, đường biển, hay đường sông là nhằm thực hiện hợp đồng vận
chuyển hàng không như lấy hàng, giao hàng, chuyển tải hàng hóa thì người vận
giao cho người vận chuyển và trả một khoản phí bổ sung nếu người vận chuyển yêu
cầu. Trong trường hợp giá trị hàng hóa đã được kê khai trên vận đơn thì giới hạn
trách nhiệm của người vận chuyển là giá trị kê khai trên vận đơn. Còn nếu giá trị
hàng hóa mà người gửi hàng hóa kê khai trên vận đơn lớn hơn giá trị thực tế của
hàng hóa lúc giao hàng thì người vận chuyển chỉ phải bồi thường tới giá trị của
hàng hóa nếu chứng minh được như vậy.
1.3.2. Trách nhiệm của hành khách
Hợp đồng vận chuyển hành khách, hàng hoá là hợp đồng dân sự cơ bản nhất
trong trong hoạt động HKDD, mang tính chuyên biệt cao. Ngoài các quy định của
pháp luật trong nước, hệ thống công ước quốc tế liên quan đến vận chuyển hàng
không quốc tế cho đến nay rất phức tạp, bao gồm hệ thống Công ước Vác-xa-va,
Guadalajara (1929, 1955, 1971, 1975) và Công ước Montreal (1999). Công ước
Montreal là một nỗ lực của thế giới nhằm thay thế hệ thống Công ước Vác-xa-va và
Guadalaja bằng một Công ước thống nhất. Việt Nam tham gia Công ước Vác-xa-va
1929 và Nghị định thư Lahay 1955, đang xem xét việc gia nhập Công ước
20
Montreal. Do những điều khoản của Công ước Montreal sửa đổi hệ thống Công ước
Vác-xa-va phù hợp với sự phát triển của dịch vụ vận chuyển bằng đường hàng
không và theo hướng đảm bảo cao hơn lợi ích của người sử dụng dịch vụ, hầu hết
những điều khoản của Công ước Montreal hiện đang được chuyển hoá vào dự thảo
Luật HKDDVN (sửa đổi).
1.3.3. Trách nhiệm của người gửi hàng hóa
Trách nhiệm của người gửi hàng bằng đường hàng không trong việc cung cấp
thông tin được quy định tại Luật hàng không dân dụng Việt Nam 2014. Cụ thể bao
gồm:
1. Chịu trách nhiệm về tính chính xác của thông tin và tuyên bố liên quan đến
hàng hóa được ghi trong vận đơn hàng không hoặc được cung cấp để lưu giữ thông