Đánh giá hiệu quả phục hồi chức năng hô hấp ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính tại bệnh viện phục hồi chức năng tỉnh lạng sơn - Pdf 56

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là bệnh lý hô hấp mạn tính có thể dự
phòng và điều trị được. Bệnh đặc trưng bởi sự tắc nghẽn luồng khí thở ra,
không có khả năng hồi phục hoàn toàn, sự cản trở thông khí này thường tiến
triển từ từ và liên quan đến phản ứng viêm bất thường của phổi với các hạt
bụi hoặc khí độc hại mà trong đó khói thuốc lá, thuốc lào đóng vai trò hàng
đầu [1],[2].
Đây là một nhóm bệnh hô hấp thường gặp trên thế giới cũng như ở nước
ta. Năm 2008, dựa trên số liệu của 193 nước thành viên, WHO đã dự báo
BPTNMT sẽ xếp hàng thứ 3 trong các bệnh gây tử vong hàng đầu vào năm
2020, sau bệnh mạch vành và đột quỵ. Tỷ lệ hiện mắc BPTNMT trên toàn cầu
được ước tính là 9-10% trong lứa tuổi từ 40 trở lên. Tuy nhiên rất khác nhau ở
các khu vực và các quốc gia tùy thuộc vào phương pháp nghiên cứu [3],[4].
Ở Việt Nam nghiên cứu được tiến hành năm 2007-2009, kết quả cho
thấy: Tỷ lệ BPTNMT trong cộng đồng dân cư từ 40 tuổi trở lên là 4,2%, nam:
7,1%, nữ: 1,9%; Khu vực nông thôn: 4,7%, thành thị 3,3%, miền núi 3,6 %;
Miền Bắc: 5,7%, miền Trung: 4,6%, miền Nam: 1,9%. Dựa trên số liệu này đã
ước tính ở nước ta có khoảng 1,3 triệu người mắc BPTNMT cần chẩn đoán và
điều trị [5],[6].
BPTNMT dẫn đến suy giảm chức năng hô hấp và việc điều trị mang lại
kết quả rất hạn chế. Người bệnh bị tàn phế về hô hấp thường bị lệ thuộc, kém
vận động, kém giao tiếp và thay đổi khí chất, chất lượng cuộc sống bị ảnh
hưởng trầm trọng. Theo quan điểm hiện nay BPTNMT không còn được xem
là bệnh hô hấp đơn thuần mà được xem là bệnh toàn thân [7],[8],[9].
Từ năm 2010 chương trình phòng và điều trị BPTNMT đã được đưa
vào chương trình mục tiêu y tế quốc gia và Bộ Y Tế đã giao cho bệnh


2

3

Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cấu trúc giải phẫu phổi – phế quản
Phổi là cơ quan nằm trong lồng ngực nhưng mở thông với môi trường
bên ngoài để đảm nhận chức năng trao đổi khí. Đường dẫn khí gồm có mũi,
miệng, sau đó đến hầu (họng), thanh quản, khí quản, phế quản, các tiểu phế
quản và tiểu phế quản tận (các tiểu phế quản ở trước ống phế nang), đến các
túi phế nang và các phế nang [11].
- Mũi, miệng, hầu, và thanh quản được xếp là đường hô hấp trên.
- Đường hô hấp dưới từ khí quản đến phế quản và các tiểu phế quản.

Hình 1.1. Hệ hô hấp


4

1.1.1. Khí quản
Hình trụ, mặt sau không có sụn, dài khoảng 13 – 15 cm chạy chếch ra
sau và sang phải. Khí quản được phân chia ra thành hai đoạn gồm khí quản ở
vùng cổ và khí quản vùng ngực. Khí quản vùng cổ từ sụn nhẫn đến bờ trên
xương ức hoặc bờ trên đốt sống ngực D2. Khí quản ngực dài hơn khí quản cổ,
nằm ở 1/3 trên của lồng ngực liên quan rất chặt chẽ với các mạch máu của
trung thất. Đây là vùng có nguy cơ bị thủng và chảy máu khi soi phế quản
cũng như khi thực hiện các kỹ thuật can thiệp. Ở tận cùng khí quản chia thành
2 phế quản gốc phải và trái, phần nhô lên ở giữa 2 nơi phân chia gọi là carina.
1.1.2. Phế quản gốc
Phế quản gốc phải ngắn hơn trái và gần như thẳng đứng với khí quản,
nên dị vật hay rơi vào bên phổi phải. Phế quản gốc trái dài hơn phế quản gốc

Là cơ chế bệnh sinh quan trọng nhất làm phát triển khí thũng phổi và
mất độ đàn hồi phổi. Theo Barnes P.J và cộng sự trong BPTNMT sự cân bằng
bị nghiêng về hướng tăng ly giải protein do tăng các protease.
1.2.3. Cơ chế mất cân bằng giữa các chất oxy hóa và kháng oxy hóa
Chứng cứ về mất cân bằng này xảy ra trong BPTNMT ngày càng
nhiều. Những dấu ấn kích hoạt oxy hóa được tìm thấy trong dịch trên bề
mặt biểu mô phế quản, trong hơi thở và trong nước tiểu của người hút
thuốc lá và bệnh nhân BPTNMT. Các gốc oxy hóa này có thể trực tiếp gây
tổn thương tổ chức hoặc ức chế α1- PI. Kích hoạt oxy hóa không những
làm tổn thương tổ chức phổi mà còn tham gia làm mất cân bằng protease kháng protease. Các chất oxy hóa còn hỗ trợ cho quá trình viêm và đóng
góp vào việc làm tắc nghẽn đường thở.


6

1.2.4. Các chất trung gian gây viêm liên quan đến BPTNMT
Hóa chất trung gian Lipid: Leukotriene (LB4) hấp dẫn BC đa nhân và
lympho T. Các chemokine: Interleukin8 (IL8) hấp dẫn BC đa nhân và BC
mono.
Các cytokine tiền viêm: Yếu tố hoại tử u (TNF - α), IL - 1β và IL - 6
khuếch đại quá trình viêm góp phần gây ảnh hưởng toàn thân của BPTNMT.
Hướng dẫn GOLD năm 2001 đã tóm tắt cơ chế sinh bệnh học của
BPTNMT theo sơ đồ [13],[14]:
Các hạt và khí độc hại
Những yếu tố cơ địa

VIÊM Ở PHỔI
Anti-proteinase
Kích hoạt oxy hóa


1,79/1000 dân ở các quốc gia và vùng đảo Châu Á [17],[18].
Tại Mỹ tỷ lệ tử vong do BPTNMT tăng đều đặn vài thập kỷ qua, năm
1995 có khoảng gần 14 triệu người mắc BPTNMT tăng 41,5% so với năm
1984. Theo Mannino DM và cs khảo sát có tính quốc gia trên mẫu đại diện ở
những người > 25 tuổi cho thấy tỷ lệ mắc bệnh là 8,8 % [19]. BPTNMT là
nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 4 sau bệnh tim mạch, ung thư và
bệnh mạch máu não. Năm 2000, ước tính 10 triệu người lớn có triệu chứng


8

lâm sàng của BPTNMT, có khoảng 24 triệu người có bằng chứng về tắc
nghẽn đường thở [ 20].
Tại Châu Âu: Nhiều nghiên cứu hiện nay cho thấy tỷ lệ mắc
BPTNMT là khoảng 9% người trưởng thành, chủ yếu ở người hút thuốc
lá. Theo Tzanakis N (2004) nghiên cứu trên 888 đối tượng trên 35 tuổi ở
Hy Lạp thấy tỷ lệ lưu hành của BPTNMT là 8,4% trong đó tỷ lệ mắc ở
nam là 11,6% và ở nữ 4,8% [21].
Theo nghiên cứu tại 12 nước ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương ước
tính trên tỷ lệ hút thuốc thấy tỷ lệ mắc thấp nhất là ở Hồng Kông và Singapore
chiếm 3,5%, cao nhất ở Việt Nam chiếm tỷ lệ 6,7% [22]. Theo Ran P.X.
(2005), tỷ lệ mắc BPTNMT ở Trung Quốc là 8,2%, tỷ lệ mắc ở nam 12,4% và
nữ 5,1% [23],[24].
1.4.2. Tình hình dịch tễ học BPTNMT ở Việt Nam
Việt Nam có tỷ lệ hút thuốc khá cao, mức độ ô nhiễm môi trường cao và
điều kiện bảo hộ lao động còn thấp đó chính là những yếu tố nguy cơ gây
BPTNMT. Không chỉ là bệnh thường gặp, tỷ lệ mắc BPTNMT trong dân số
hiện nay đang gia tăng nhanh chóng, theo dự đoán năm 2012 căn bệnh này sẽ
gây tử vong rất cao và chỉ đứng sau bệnh mạch vành, ung thư và tai biến
mạch não. Hiện nay BPTNMT đang đứng hàng thứ 6 trong 10 bệnh thường

trường làm việc làm tăng tỷ lệ mắc BPTNMT [33],[34].
1.5.1.2. Bụi và chất hóa học nghề nghiệp
Tiếp xúc với những chất kích thích, bụi, hữu cơ và những chất kích ứng
cơ thể gây nên sự gia tăng đáp ứng phế quản, đặc biệt những phế quản đã bị
tổn thương bởi những tiếp xúc nghề nghiệp khác, thuốc lá hay HPQ.
1.5.1.3. Ô nhiễm môi trường trong và ngoài nhà
Ô nhiễm môi trường trong nhà như chất đốt cháy từ nấu ăn và hơi nóng,
dùng củi đun nấu cũng là những yếu tố gây nên BPTNMT. Sử dụng khí tự nhiên
trong nấu ăn cũng gây các bệnh hô hấp và ảnh hưởng chức năng hô hấp của trẻ
mà không phụ thuộc vào tác dụng của khói thuốc lá của bố mẹ chúng [35].


10

1.5.1.4. Nhiễm khuẩn
Nhiễm trùng hô hấp ở thời kỳ thiếu niên thường phối hợp với một sự
giảm chức năng hô hấp và làm gia tăng triệu chứng hô hấp ở thời kỳ trưởng
thành. Nhiễm virut có thể liên hệ với mọi yếu tố khác, ví dụ như: cân nặng lúc
sinh thấp và có liên quan BPTNMT. Nhiễm virut đặc biệt virut hợp bào hô
hấp làm tăng tính phản ứng phế quản [36], [37].
1.5.1.5. Tình trạng kinh tế xã hội, ăn uống và dinh dưỡng
Tình trạng kinh tế xã hội có liên hệ với sự phát triển BPTNMT, cơ chế
không rõ. Ăn cá, sử dụng những loại vitamin chống oxi hóa, làm giảm nguy
cơ mắc BPTNMT. Trong cá có chứa axit béo không no, những chất này có tác
dụng ức chế cạnh tranh chuyển hóa axit arachidonic và làm giảm xác suất
mắc BPTNMT. Thiếu vitamin A và vitamin D có liên quan việc tăng tỉ lệ bệnh
[33].
1.5.1.6. Khí hậu
Người ta thấy có mối liên hệ giữa đợt cấp BPTNMT và khí hậu (đặc
biệt là nhiệt độ và độ ẩm). Tiếp xúc với không khí khô gây nên co thắt phế

tỏ sự suy giảm CNHH. Khó thở khi gắng sức sau đó khó thở thường xuyên,
dai dẳng, từ từ. Mức độ khó thở khi gắng sức đánh giá theo thang điểm khó
thở của Hội đồng nghiên cứu Y khoa của Anh quốc (mMRC) [37].
- Đau ngực: Do tổn thương màng phổi, viêm phổi màng phổi, tắc mạch
phổi…Cần loại trừ đau ngực do suy vành, trào ngược dạ dày thực quản.
1.6.1.2. Các triệu chứng toàn thân
- Mệt mỏi, giảm khả năng làm việc, sút cân, lo lắng. Có thể sốt (chỉ gặp
trong các đợt bội nhiễm).
- Da xanh khi bệnh kéo dài, có thể tím tái, móng tay khum, ngón tay dùi
trống.


12

1.6.1.3. Các triệu chứng thực thể
- Lồng ngực hình thùng, cố định ở vị trí thở vào, vai nhô lên, xương sườn
nằm ngang, cơ hoành hạ thấp khiến khoảng liên sườn ở thấp bị rút lõm.
- Nhịp thở lúc nghỉ thường trên 20 lần/phút thường gặp giai đoạn nặng của
bệnh, thở nông, thì thở ra thường kéo dài (trên 4 giây) tương quan mức độ tắc
nghẽn phế quản, bệnh nhân phải chúm môi khi thở, sử dụng cơ hô hấp phụ, co
rút khoảng liên sườn. Kiểu thở này làm chậm xẹp đường thở thì thở ra.
- Sử dụng cơ bụng khi thở ra, thở nghịch thường.
- Gõ ngực vang nhất là khi có giãn phế nang.
- Dấu hiệu Campbel: khí quản đi xuống thì hít vào.
- Dấu hiệu Hoover: giảm đường kính phần dưới lồng ngực khi hít vào.
- Nghe: rì rào phế nang giảm, ran rít, ran ngáy, ran ẩm, ran nổ.
- Có thể thấy mạch nghịch đảo: Do ở bệnh nhân BPTNMT, huyết áp tâm
thu có thể giảm từ 15 - 20 mmHg lúc bệnh nhân hít vào gắng sức. Bình
thường chênh lệch huyết áp tâm thu giữa thở ra và thở vào ≥ 10 mmHg.
* Dấu hiệu tăng áp Động mạch phổi và suy tim phải:

HPQ.
- Test phục hồi thuốc Glucocorticosteroid: Cho bệnh nhân dùng
Glucocorticosteroid dạng xịt trong thời gian 6 tuần đến 3 tháng sau đó đo lại
FEV1, so sánh FEV1 trước test, nếu FEV1 tăng >200ml và/hoặc > 12%, khi
đó bệnh nhân được xem là có đáp ứng với Glucocorticosteroid. Đây là tiêu
chí quyết định điều trị kéo dài Corticoid cho bệnh nhân.
* Đo thành phần khí máu động mạch: Đánh giá mức độ nặng của đợt kịch
phát, nên đo cho các bệnh nhân bị BPTNMT có FEV1 < 50% SLT.
- Giai đoạn đầu PaO2 thường giảm, giai đoạn nặng PaCO2 tăng.
- Trong đợt cấp, bệnh nhân suy hô hấp khi PaO 2 < 60 mmHg và/hoặc
SaO2 < 90%, có hoặc không có PaCO2 > 45 mmHg.
- Chỉ định thở máy: Nhiễm toan (pH < 7,36), tăng PaCO2 máu (45 - 60
mmHg) ở bệnh nhân có suy hô hấp.


14

1.6.2.2. X-quang phổi chuẩn
Các bất thường trên phim X-quang phổi thẳng hay gặp là:
- Hội chứng phế quản: dày thành phế quản, hình đường ray, mạng lưới
mạch máu ở phổi tăng mạnh tạo thành hình ảnh “phổi bẩn”.
- Hội chứng khí phế thũng: phổi hình thùng, tăng sáng, khoang liên sườn
rộng, vòm hoành thấp, mỏm tim ra sau.
- Hội chứng mạch máu: mạch máu trung tâm to nhưng ở ngoại vi thưa thớt
tạo vùng giảm động mạch kết hợp hình ảnh căng giãn phổi.
- Trong đợt bùng phát có bội nhiễm thường thấy các đám mờ.
- Dấu hiệu tim mạch: Tăng áp lực ĐMP, đường kính ĐMP thùy dưới bên
phải to ra >16mm, cung dưới phổi rộng ra, mỏm tim chếch lên.
- Tim dài và thõng, giai đoạn cuối hình ảnh tim to toàn bộ.
1.6.2.3. Chụp cắt lớp vi tính

tim, các chỉ số chức năng tâm thất từng vùng, toàn bộ, tâm thu và tâm trương,
ngoài ra cho phép đánh giá ALĐMP. Phân số tống máu (EF%) là thông số
quan trọng nhất để phát hiện bệnh nhân rối loạn chức năng tâm thu và bệnh
nhân còn bảo toàn chức năng tâm thu là 38,43.
- Siêu âm doppler mạch có thể có viêm tắc động – tĩnh mạch
1.6.2.6. Các thăm dò khác
- Công thức máu: Số lượng bạch cầu máu ngoại vi bình thường là: 4,5 10 G/l. Trong đợt cấp BPTNMT số lượng bạch cầu tăng trên 10 G/l là một chỉ
điểm nguyên nhân do bội nhiễm.
- Sinh hóa máu: Protein phản ứng C (CRP) bình thường < 0,5 mg/dl. Nồng
độ CRP máu có thể tăng ở bệnh nhân đợt cấp BPTNMT. Xét nghiệm ProBNP là
một xét nghiệm hỗ trợ chẩn đoán suy tim, thường Pro BNP tăng khi bệnh nhân bị


16

BPTNMT có kèm tâm phế mãn. Xét nghiệm alpha-1 antitrysin khi BPTNMT xuất
hiện ở người dưới 45 tuổi hoặc có tiền sử gia đình bị BPTNMT [41],[42].
1.7. Chẩn đoán BPTNMT
1.7.1. Chẩn đoán xác định BPTNMT [1],[2],[42]
Gợi ý chẩn đoán BPTNMT ở bất kỳ bệnh nhân nào khi có ít nhất một
trong các chỉ điểm sau:
- Tiền sử tiếp xúc với yếu tố nguy cơ (hút thuốc, khói bụi, ô nhiễm).
- Tiền sử ho, khạc đờm mạn tính.
- Khó thở với đặc điểm dai dẳng, tiến triển liên tục, nặng dần và tăng lên
khi gắng sức hoặc có nhiễm trùng hô hấp hoặc tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ.
Chẩn đoán xác định khi sau test hồi phục phế quản: FEV1/VC < 70% và/ hoặc
FEV1/FVC < 70%.
Triệu chứng
- Khó thở tăng dần
- Ho kéo dài

Mức độ IV (rất nặng)

Giá trị FEV1 sau test giãn PQ
FEV1 ≥ 80% trị số lý thuyết
50% ≤ FEV1 < 80% trị số lý thuyết
30% ≤ FEV1 < 50% trị số lý thuyết
FEV1 < 30% trị số lý thuyết

1.7.2.2. Chẩn đoán mức độ nặng của bệnh theo chức năng thông khí và triệu
chứng lâm sàng
Bảng 1.2: Mức độ nặng BPTNMT theo chức năng thông khí, triệu chứng
lâm sàng (Phân loại theo GOLD 2014)


18

* Đánh giá: Khi đánh giá nguy cơ chọn nhóm nguy cơ cao nhất theo tiêu chuẩn
của GOLD hoặc tiền sử đợt cấp

Nhóm
GOLD A
Nguy cơ thấp
Ít triệu chứng
GOLD B
Nguy cơ thấp
Nhiều triệu chứng
GOLD C
Nguy cơ cao
Ít triệu chứng
GOLD D


-

Tổng điểm < 10: BPTNMT không ảnh hưởng sức khỏe.
Từ 10 – 20 điểm: Bệnh gây ảnh hưởng nhẹ.
Từ 21 – 30 điểm: Bệnh gây ảnh hưởng mức độ trung bình.
Từ 31 – 40 điểm: Bệnh gây ảnh hưởng nặng.

1.8. Điều trị
1.8.1. Các điều trị chung [1],[2]
1.8.1.1. Ngừng việc tiếp xúc với yếu tố nguy cơ
- Ngừng tiếp xúc với: khói thuốc lá, bụi, khói bếp củi than, khí độc...
1.8.1.2. Cai nghiện thuốc lá, thuốc lào
Ngừng hút thuốc là biện pháp rất quan trọng để không làm nặng thêm
BPTNMT. Để cai thuốc, việc tư vấn người bệnh đóng vai trò then chốt và các
thuốc hỗ trợ cai giúp người bệnh dễ bỏ thuốc hơn.
a) Chiến lược tư vấn người bệnh cai thuốc lá
- Tìm hiểu lý do ảnh hưởng đến việc cai thuốc lá: Sợ cai thuốc lá thất
bại, hội chứng cai thuốc lá, mất đi niềm vui hút thuốc, căng thẳng,...
- Sử dụng lời khuyên 5A: (Ask - Hỏi; Advise – Khuyên; Assess - Đánh
giá; Assist - Hỗ trợ; Arrange - Sắp xếp).
b) Thuốc hỗ trợ cai thuốc lá
Việc dùng thuốc hỗ trợ cai thuốc lá giúp giảm nhẹ hội chứng cai thuốc và
làm tăng tỷ lệ cai thuốc thành công.
Các thuốc có thể chỉ định: Nicotine thay thế, Bupropion, Varenicline.
1.8.1.3. Tiêm vắc xin phòng nhiễm trùng đường hô hấp
- Nhiễm trùng đường hô hấp (cúm và viêm phổi...) là một trong các yếu
tố nguy cơ gây đợt cấp BPTNMT. Việc tiêm phòng vaccine có thể làm giảm
các đợt cấp nặng và giảm tỷ lệ tử vong.
- Tiêm phòng vắc xin phế cầu mỗi 5 năm 1 lần và được khuyến cáo ở

giai đoạn mất bù, không thở oxy, đã sử dụng các biện pháp điều trị tối ưu.
- PaO2 từ 56-59 mmHg hoặc SaO2 ≤ 88% kèm thêm một trong các biểu
hiện:
+ Dấu hiệu suy tim phải.


21

+ Và/ hoặc đa hồng cầu (hematocrit > 55%).
+ Và/ hoặc tăng áp động mạch phổi đã được xác định (siêu âm Doppler
tim...)
1.8.3.3. Lưu lượng, thời gian thở oxy
- Lưu lượng oxy: 1-3 1/phút, thời gian thở oxy ít nhất 15 giờ/24 giờ.
- Đánh giá lại khí máu động mạch sau ít nhất 30 phút để điều chỉnh lưu
lượng oxy để đạt PaO2 từ 65 - 70 mmHg, tương ứng với SaO2 tối ưu là 90 92% lúc nghỉ ngơi.
- Để tránh tăng CO2 máu quá mức khuyến cáo nên bắt đầu với lưu lượng
thở oxy ≤ 2 lít/phút.
1.7.3.4. Các nguồn oxy
- Các bình khí cổ điển, các máy chiết xuất oxy, các bình oxy lỏng…
1.9. Phục hồi chức năng hô hấp và chăm sóc bệnh nhân BPTNMT: [1],[2]
Gồm 3 nội dung chính:
- Giáo dục sức khỏe: người bệnh được tư vấn cai thuốc lá, kiến thức về
bệnh, hướng dẫn sử dụng thuốc, thở oxy đúng cách, kỹ năng dùng ống bơm
xịt, bình hít hay máy khí dung, các phương pháp ho khạc đờm, tập thở. Bên
cạnh đó, bệnh nhân cũng được tư vấn để có chế độ dinh dưỡng hợp lý nhằm
cải thiện tình trạng gầy yếu, sút cân, suy dinh dưỡng thường đi kèm với
BPTNMT.
- Vật lý trị liệu hô hấp: bệnh nhân được hướng dẫn và thực hành các kỹ
thuật cải thiện thông khí, ho khạc đờm, học các bài tập thể dục và vận động
để tăng cường thể chất và khắc phục hậu quả căn bệnh. Các bài tập cần được

- Mục đích:
+ Hướng dẫn các bài tập thở để khắc phục sự ứ khí trong phổi.
+ Hướng dẫn các biện pháp đối phó với tình trạng khó thở.
- Ở bệnh nhân BPTNMT nhất là ở nhóm viêm phế quản mãn, thường có
tình trạng tắc nghẽn các đường dẫn khí do đờm nhớt hay viêm nhiễm phù nề


23

gây hẹp lòng phế quản. Còn ở nhóm khí phế thũng, các phế nang thường bị phá
hủy, mất tính đàn hồi. Dẫn đến hậu quả không khí thường bị ứ đọng trong phổi,
gây thiếu oxy cho nhu cầu cơ thể. Các bài tập thở là các kỹ thuật nhằm khắc
phục tình trạng ứ khí trong phổi và tăng cường cử động hô hấp của lồng ngực.
* Bài tập thở chúm môi
- Khí bị nhốt trong phổi làm cho người bệnh khó thở; đẩy được lượng khí
cặn ứ đọng trong phổi ra ngoài mới có thể hít được không khí trong lành.
- Thở chúm môi là phương pháp giúp cho đường thở không bị xẹp lại khi
thở ra nên khí thoát ra ngoài dễ dàng hơn.
* Bài tập thở hoành
Bệnh nhân BPTNMT:
- Do tình trạng ứ khí trong phổi nên lồng ngực bị căng phồng làm hạn
chế hoạt động của cơ hoành.
- Cơ hoành là cơ hô hấp chính, nếu hoạt động kém sẽ làm thông khí ở
phổi kém và các cơ hô hấp phụ phải tăng cường hoạt động.
- Tập thở cơ hoành sẽ giúp tăng cường hiệu quả của động tác hô hấp và
tiết kiệm năng lượng.
1.9.1.3. Các biện pháp đối phó với cơn khó thở
- Chọn các tư thế đứng hoặc ngồi sao cho phần thân trên từ hông trở lên
hơi cúi về phía trước. Có thể tìm các điểm tựa như tường, mặt bàn, bệ gạch...
Tư thế này giúp cơ hoành di chuyển dễ dàng hơn.

thở thì dừng lại.
* Các bài tập vận động
Bài tập vận động tay:
- Bệnh nhân được hướng dẫn các bài tập vận động tay để tăng cường sức
cơ chi trên, cơ hô hấp.
- Các bắp cơ vai, ngực và cánh tay khỏe mạnh sẽ hỗ trợ tốt cho động tác
hô hấp và những động tác thường ngày như nấu ăn, quét dọn, vệ sinh cá
nhân...


25

- Các loại hình vận động tay thường dùng: nâng tạ, máy tập chi trên đa
năng...
Bài tập vận động chân:
- Giúp cho các bắp cơ ở chân rắn chắc hơn, bên cạnh đó còn giữ vai trò rất
quan trọng trong việc cải thiện chức năng tim - phổi, giúp cho cơ thể có được
sức bền cần thiết, dẻo dai và người bệnh sẽ lâu mệt hơn khi phải gắng sức.
- Bài tập vận động chân còn giúp cho người bệnh đi lại tốt hơn, đem lại
sự năng động và tự tin cho bệnh nhân và không lệ thuộc vào người khác.
- Bài tập được xây dựng phù hợp với khả năng và thể lực của từng người
và được tăng dần cường độ để đạt được hiệu quả cần thiết.
- Loại hình thường được sử dụng: xe đạp lực kế, thảm lăn, đi bộ trên mặt
phẳng, leo cầu thang...
* Thời gian, liệu trình tập luyện
- Chương trình tập luyện được xây dựng trong khoảng thời gian ít nhất 8
tuần, mỗi tuần 3 buổi. Bệnh nhân BPTNMT tham gia chương trình phải tham
gia đầy đủ để đạt được hiệu quả tốt nhất. Khi đã thành thạo các bài tập, bệnh
nhân sẽ tự tập luyện tại nhà.
- Luyện tập vận động không đều đặn, không đầy đủ, không đúng phương


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status