Một số biện pháp đưa các bài toán thực tiễn vào giảng dạy môn Toán cấp THCS
nhằm phát triển năng lực học sinh MỤC LỤC Nội dung MỤC LỤC PHẦN I: ĐẶT
VẤN ĐỀ I. Cơ sở lý luận II. Cơ sở thực tiễn PHẦN II: NỘI DUNG I. Giải pháp cũ
thường làm II. Giải pháp mới cải tiến 1 Nội dung giải pháp mới 1.1 Xây dựng hệ
thống bài tập thực tiễn đưa vào giảng dạy cho phù hợp 1.1.1 Khai thác triệt để các
bài tập có tính thực tiễn trong sách giáo khoa 1.1.2 Có thể thay bài tập trong sách
giáo khoa bằng một bài tập có lời giải Trang 1 3 4 7 8 9 9 9 14 không đổi nhưng
mang tính thực tế hoặc thay bài toán có nội dung thực tế này bằng bài toán có nội
dung thực tế khác. 1.1.3 Vận dụng các câu hỏi Pisa vào dạy từng bài cho phù hợp
1.2 Một số biện pháp sư phạm nhằm tăng cường các bài toán thực tiễn 16 19 trong
qua trình dạy học 1.2.1 Biện pháp 1: Sử dụng bài toán thực tiễn vào khâu đặt vấn
đề và 20 chuyển ý trong tiết dạy 1.2.2 Biện pháp 2: Sử dụng các bài toán thực tiễn
vào khâu củng cố kiến 24 thức 1.2.3 Biện pháp 3: Sử dụng các bài toán thực tiễn
trong giờ luyện tập, ôn tập 26 chương, ôn tập cuối năm. 1.2.4 Biện pháp 4: Tăng
cường các hoạt động thực hành, qua đó rèn luyện 30 kỹ năng thực hành toán học
gần gũi với thực tế. skkn một số BIỆN PHÁP đưa các bài TOÁN THỰC TIỄN vào
GIẢNG dạy môn TOÁN cấp THCS NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG lực học SINH
22% 22% Giảm giá 22% 31% 25% Tải bản đầy đủ Thích 2 Chia sẻ 6/6/2019 skkn
một số BIỆN PHÁP đưa các bài TOÁN THỰC TIỄN vào GIẢNG dạy môn TOÁN
cấp THCS - Tài liệu text 2/12 1.2.5 Biện pháp 5: Chú ý khai thác các kiến thức Toán học vào các
bộ môn 32 khác gần với thực tế như Vật lý, Hóa học, Sinh học … 1.2.6 Biện pháp
6: Tăng cường liên hệ thực tế qua các tiết học 1.2.7 Biện pháp 7: Thường xuyên
giao bài tập “dự án” cho các nhóm học 36 38 sinh thực hiện. 1.2.8 Biện pháp 8:
Tăng cường các bài toán thực tiễn vào kiểm tra đánh giá 1.2.9 Biện pháp 9: Tổ
chức các hoạt động ngoại khóa về toán học theo chủ 40 42 đề cho trước . 1.3 Quy
trình giải một bài toán thực tiễn 2. Tính mới, tính sáng tạo của giải pháp mới 3.
Hạn chế của giải pháp mới PHẦN III: KẾT LUẬN I. Hiệu quả kinh tế (giáo dục)
Giáo viên: Phạm Như Quỳnh - Nguyễn Thị Hường 45 51 52 53 THCS Ninh Hải 1
Một số biện pháp đưa các bài toán thực tiễn vào giảng dạy môn Toán cấp THCS
nhằm phát triển năng lực học sinh II. Hiệu quả xã hội III. Điều kiện và khả năng áp
dụng IV. Kiến nghị PHỤ LỤC Phụ lục 1: Giáo án minh họa Phụ lục 2: Một số bài
nhân, là kỹ năng quan trọng trong thời buổi xã hội thông tin và tri thức ngày nay.
Do đó việc nghiên cứu khai thác những bài toán có nội dung thực tiễn đưa vào
giảng dạy môn Toán nhằm phát triển năng lực của học sinh là hết sức cần thiết bởi
Toán học đóng vai trò quan trọng đối với cuộc sống mỗi cá nhân, với xã hội cũng
như sự phát triển của cả cộng đồng. II. Cơ sở thực tiễn 1. Vấn đề liên hệ với thực
tiễn trong chương trình và sách giáo khoa toán trung học cơ sở hiện nay. Chương
trình và sách giáo khoa hiện nay đã viết theo hướng phát huy tính tích cực, chủ
động, sáng tạo, rèn luyện phương pháp tự học của học sinh. Trong sách giáo khoa
và sách bài tập cũng đã đưa nhiều các bài toán thực tiễn đặc biệt ở một số nội dung
như phần số học được trình bày liền mạch ở lớp 6 và lớp 7; Thống kê, quan hệ giữa
các yếu tố trong tam giác, các đường đồng quy Giáo viên: Phạm Như Quỳnh Nguyễn Thị Hường THCS Ninh Hải 4 Một số biện pháp đưa các bài toán thực tiễn
vào giảng dạy môn Toán cấp THCS nhằm phát triển năng lực học sinh của tam giác
ở lớp 7; giải bài toán bằng cách lập phương trình hoặc hệ phương trình ở lớp 8 và
lớp 9; Hình không gian ở lớp 8 và lớp 9; hệ thức lượng trong tam giác vuông ở lớp
9. Tuy nhiên số lượng bài tập chưa liên tục và không đều, vì vậy giáo viên cần tăng
cường lựa chọn, đưa thêm vào các bài tập có nội dung sát với thực tiễn để học sinh
có điều kiện áp dụng kiến thức Toán học vào cuộc sống. 2. Thực trạng dạy - học
môn Toán theo hướng liên hệ với thực tiễn ở bậc trung học cơ sở hiện nay 2.1 Về
phía giáo viên: Đa số giáo viên đã có quan tâm đến việc khai thác tình huống thực
tế vào dạy học môn Toán nhưng hiệu quả chưa cao, chưa liên tục, chưa có phương
pháp cụ thể khoa học. Chỉ một số ít giáo viên chủ động tìm hiểu, còn số đông giáo
viên có quan tâm nhưng không chủ động tìm hiểu mà chủ yếu sử dụng các bài tập
trong sách giáo khoa, sách bài tập. Mặc dù hầu hết các thầy cô đều khẳng định
rằng, nếu tăng cường khai thác các tình huống thực tế vào dạy học thì sẽ làm cho
học sinh tích cực hơn trong việc học môn Toán. Nhưng việc tìm hiểu, khai thác các
tình huống thực tế vào dạy học hiện nay của giáo viên còn hạn chế. Tôi cho rằng
hạn chế trên có thể do những nguyên nhân chính sau: + Khối lượng kiến thức yêu
cầu ở mỗi tiết học là khá nhiều và độ khó tăng dần theo cấp học khiến giáo viên vất
Giáo viên dạy học theo tiến trình sách giáo khoa, truyền tải đầy đủ lý thuyết và rèn
kỹ năng giải toán cho học sinh. Các bài toán có nội dung thực tế chủ yếu được lấy
trong sách giáo khoa và sách bài tập, đôi khi có những bài còn bỏ qua. Hướng dẫn
học sinh giải các bài toán thực tế thường tập trung vào dạng toán “Giải bài toán
bằng lập phương trình hoặc hệ phương trình”, còn các dạng toán thực tế khác chưa
nêu được các bước giải cụ thể. Giáo viên chủ yếu chỉ dạy các tiết thực hành theo
phân phối chương trình quy định và rèn cho học sinh các kỹ năng thực hành như
kỹ năng tính toán (tính nhanh, tính nhẩm, tính gần đúng, tính có sử dụng máy tính
bỏ túi…). Tuy nhiên một số các kỹ năng thực hành toán học khác chưa thực sự
được chú trọng như kỹ năng đọc hiểu bản đồ, kỹ năng về đo lường, kỹ năng ước
lượng … Các đề kiểm tra còn thiên về tái hiện kiến thức, vận dụng kiến thức giải
các bài toán gói gọn trong bộ môn toán, ít quan tâm đến đánh giá năng lực vận
dụng kiến thức giải quyết các vấn đề thực tế. 2. Ưu điểm giải pháp cũ Nội dung
chương trình đã khá quen thuộc với hầu hết giáo viên trong nhiều năm nay nên
giáo viên cũng thành thạo trong tiến trình dạy học. Giáo viên truyền tải cho học
sinh kiến thức một cách hệ thống và khoa học. Học sinh nắm vững kiến thức, có kỹ
năng vận dụng linh hoạt các kiến thức đó trong giải các bài toán cơ bản và nâng
cao. Giáo viên: Phạm Như Quỳnh - Nguyễn Thị Hường THCS Ninh Hải 7 Một số
biện pháp đưa các bài toán thực tiễn vào giảng dạy môn Toán cấp THCS nhằm phát
triển năng lực học sinh 3. Nhược điểm giải pháp cũ Dạy học vẫn nặng về truyền
thụ kiến thức lý thuyết dẫn tới việc rèn luyện kỹ năng sống, kỹ năng giải quyết các
tình huống thực tiễn cho học sinh thông qua khả năng vận dụng tri thức tổng hợp
còn hạn chế. Những hạn chế trong việc liên hệ toán học với thực tiễn của nội dung
chương trình hiện hành cũng như cách kiểm tra đánh giá đã dẫn đến định hướng
dạy học của giáo viên và học sinh không được quan tâm đúng mức tới việc liên hệ
thực tế vào dạy học. Điều đó làm cho toán học xa rời thực tiễn, giảm tính sáng tạo
của giáo viên và học sinh. Học sinh học bằng cách ghi nhớ máy móc và làm theo
những khuôn mẫu mà giáo viên đặt ra, vì vậy dẫn đến tâm lý chán nản, ngại học,
đến quá trình mô tả mối quan hệ dẫn tới những con số, hình vẽ … Trong khi đó,
những bài tập này, ngoài tầm quan trọng như để củng cố hoặc chuyển tải kiến thức,
còn có thể phục vụ ngay việc học tập của các em là niềm hứng thú cho học sinh,
tạo hiệu quả cao cho tiết dạy nếu giáo viên biết khai thác triệt để. Dưới đây là một
số ví dụ minh họa Ví dụ 1: (§2: Giá trị của một biểu thức đại số - Bài 8/trang 29
SGK toán 7 tập II) Đố: Ước tính số gạch cần mua: Giả sử gia đình em cần lát một
nền nhà hình chữ nhật bằng gạch hình vuông có cạnh 30cm. Hãy đo kích thước nền
nhà đó rồi ghi vào ô trống trong bảng sau: Giáo viên: Phạm Như Quỳnh - Nguyễn
Thị Hường THCS Ninh Hải 9 Một số biện pháp đưa các bài toán thực tiễn vào
giảng dạy môn Toán cấp THCS nhằm phát triển năng lực học sinh Chiều rộng (m)
Chiều dài (m) Số gạch cần mua (viên) X y xy 0,09 5,5 6,8 Khoảng 416 viên … …
… Giáo viên cho học sinh tính với kích thước của nền nhà cụ thể ở bảng trên ta
ước tính khoảng 416 viên. Giáo viên liên hệ thực tế: Thực tế khi lát nền nhà, người
ta đếm xem mỗi chiều lát được bao nhiêu viên gạch rồi từ đó mới tìm ra số gạch
cần dùng để lát nền nhà đó. Nếu số gạch ở mỗi chiều là số tự nhiên thì số gạch cần
dùng để nát nền nhà là tích của hai số tự nhiên đó. Trong trường hợp số gạch mỗi
chiều không là số tự nhiên thì số gạch cần dùng để lát nền nhà phải tính trên thực tế
sẽ khác đi nhiều (khi đó phải cắt, gọt rồi mới lát cho đủ nền nhà và còn phải đảm
bảo thẩm mĩ). Thực tế không được lấy diện tích nhà chia cho diện tích một viên
gạch để tìm số gạch nguyên. Ví dụ: Với bài toán trên nếu lát gạch theo chiều dài ta
được một hàng 22 viên còn thừa 20cm chưa lát (680 : 30 = 22 dư 20), nếu lát theo
chiều rộng ta lát được một hàng là 18 viên còn thừa 10cm chưa lát (550 : 30 = 18
dư 10). Do đó số gạch nguyên dùng để lát là: 22 x 18 = 396 viên. Phần còn lại phải
cắt từ 22 viên gạch nguyên nữa để lát (mỗi viên gạch cắt thành 2 phần 10cm và
20cm). Vậy thực tế số viên gạch dùng để lát là: 396 + 22 = 418 viên Đối với bài
này giáo viên giao nhiệm vụ về nhà ước lượng số viên gạch để lát nền của nhà
mình Giáo viên: Phạm Như Quỳnh - Nguyễn Thị Hường THCS Ninh Hải 10 Một
số biện pháp đưa các bài toán thực tiễn vào giảng dạy môn Toán cấp THCS nhằm
phát triển năng lực học sinh Ví dụ 2: (§5: Tính chất tia phân giác của một góc - Bài
kỳ. Dạng toán“ Giải bài toán bằng cách lập phương trình hoặc hệ phương trình” là
một dạng toán rèn luyện óc phân tích và biểu thị toán học, những mối liên quan của
các đại lượng trong thực tiễn. Trong khi đó vốn kiến thức thực tế của học sinh còn
hạn chế do đó khi dạy về dạng toán này giáo viên cần phân tích để chỉ ra được tính
thực tiễn đối với các đại lượng. Ví dụ như: Quãng đường, vận tốc, thời gian là các
số dương; số người, số cây, số chi tiết máy … là số nguyên dương; năng suất làm
riêng phải nhỏ hơn năng suất làm chung; … Ví dụ 5: (Bài 52/trang 60 – SGK lớp 9
tập 2): Khoảng cách giữa hai bến sông A và B là 30 km. Một ca nô từ bến A đến
bến B, nghỉ 40 phút ở bến B rồi quay lại bến A. Kể từ lúc khởi hành đến khi về tới
bến A hết tất cả 6h. Hãy tìm vận tốc của ca nô trong nước yên lặng, biết rằng vận
tốc của nước chảy là 3km/h Giáo viên: Phạm Như Quỳnh - Nguyễn Thị Hường
THCS Ninh Hải 12 Một số biện pháp đưa các bài toán thực tiễn vào giảng dạy môn
Toán cấp THCS nhằm phát triển năng lực học sinh Đối với bài toán này giáo viên
cần chú ý cho học sinh tính thực tế của hai đại lượng đó là vận tốc thực của ca nô
phải lớn hơn vận tốc dòng nước từ đó học sinh đặt điều kiện của ẩn cho chính xác.
Tăng cường khai thác các bài toán cực trị vì việc tìm giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ
nhất của dạng toán này chính là việc tìm những cái tối ưu được đặt ra trong đời
sống và kỹ thuật. Tối ưu hóa các hoạt động là một hệ thống tri thức mà người lao
động cần được trang bị nhằm thích ứng kịp thời với tốc độ tiến bộ như vũ bão của
khoa học, kỹ thuật và sản xuất hiện đại. Vì vậy, trong dạy học nói chung và dạy
học Toán nói riêng, cần phải tập dượt và rèn luyện cho học sinh thói quen và ý thức
tối ưu trong suy nghĩ cũng như trong việc làm. Nói cách khác, làm cho học sinh có
ý thức luôn tự tìm cách thức để đạt tới "cực trị" trong học tập, lao động sản xuất và
đời sống. Chẳng hạn tìm cách để tiết kiệm nguyên vật liệu nhất, giá thành thấp
nhất, chất lượng sản phẩm tốt nhất, ... Các kiến thức thường dùng để giải các bài
toán cực trị đó là: sử dụng quan hệ vuông góc, đường xiên, hình chiếu; quan hệ
giữa đường thẳng và đường gấp khúc; các bất đẳng thức trong tam giác, trong
đường tròn; bất đẳng thức Cosi … Ví dụ 6: Trong chương III – Hình học 7 “Quan
A,B,C,D trong đó không có ba điểm nào thẳng hàng. Vẽ các đoạn thẳng có đầu
mút là hai trong bốn điểm đó. Vẽ được mấy đoạn thẳng? Thay vì tìm số đoạn thẳng
đi qua 4 điểm không thẳng hàng, ta có thể thay đổi nội dung bài toán như sau: Bài
toán: Bảng A của giải bóng đá AFF Suzuki Cup 2014 được tổ chức tại Việt Nam
gồm bốn đội Việt Nam, Inđônêxia, Philippin, Lào. Hỏi có bao nhiêu trận bóng đá
trong bảng A, biết các đội thi đấu theo thể thức vòng tròn một lượt? Câu hỏi này
hấp dẫn học sinh hơn mà nội dung thì không hề thay đổi vì mỗi đội phải đá với tất
cả các đội khác, nên số trận đấu chính là số đoạn thẳng đi qua bốn điểm không
thẳng hàng Giáo viên cũng có thể cung cấp cho học sinh biết công thức tính số trận
đấu của một bảng gồm n đội tham gia là : n.(n − 1) 2 Ví dụ 2: (§1. Khái niệm về
biểu thức đại số - Bài 2/SGK trang 26 Toán 7 tập II) Viết biểu thức đại số biểu thị
diện tích hình thang có đáy lớn là a, đáy nhỏ là b, đường cao là h (a, b và h có cùng
đơn vị đo). Giáo viên có thể thay bằng một bài toán phức tạp hơn nhưng cũng phải
viết biểu thức biểu thị diện tích hình thang. Bài toán: Một thửa ruộng hình thang có
đáy lớn là a, đáy nhỏ là b và đương cao h. Người ta muốn chia mảnh đất để diện
tích thửa ruộng trồng ngô, diện tích trồng khoai còn lại trồng đậu. Hãy tính diện
tích trồng ngô, diện tích trồng khoai theo a, b và h. Cũng có thể thay đổi nội dung
bài tập mang tính thực tế này bằng một thưc tế khác, để nâng cao vai trò của kiến
thức. Giáo viên: Phạm Như Quỳnh - Nguyễn Thị Hường THCS Ninh Hải 15 Một
số biện pháp đưa các bài toán thực tiễn vào giảng dạy môn Toán cấp THCS nhằm
phát triển năng lực học sinh Ví dụ 3: (§6. Đối xứng trục - Bài 39b /SGK trang 88
Toán 8 tập I) Bạn Tú đang ở vị trí A, cần đến bờ sông d lấy nước rồi đi đến vị trí B
Tải bản đầy đủ Thích 2 Chia sẻ 6/6/2019 skkn một số BIỆN PHÁP đưa các bài
TOÁN THỰC TIỄN vào GIẢNG dạy môn TOÁN cấp THCS - Tài liệu text
8/12 (Hình 5).
Con đường ngắn nhất mà bạn Tú nên đi là con đường nào? B A d Hình 5 Có thể
thay nội dung bài tập trên bằng bài tập sau: Hai làng A và B nằm cùng phía đối với
dòng sông (như hình vẽ). Cần xây dựng một trạm bơm nước M ở bờ sông để phục
ứng dụng của toán học trong cuộc sống có thể là nguồn cung cấp tư liệu hữu ích
cho hoạt động học tập và giảng dạy. Các câu hỏi phân ra nhiều mức độ giúp đánh
giá đầy đủ được năng lực tư duy, năng lực ngôn ngữ, năng lực vận dụng toán học
vào thực tiễn của HS. Giáo viên: Phạm Như Quỳnh - Nguyễn Thị Hường THCS
Ninh Hải 17 Một số biện pháp đưa các bài toán thực tiễn vào giảng dạy môn Toán
cấp THCS nhằm phát triển năng lực học sinh Theo tôi có thể vận dụng những bài
toán của PISA vào rất nhiều khâu trong qua trình dạy học theo ba hướng sau: + Sử
dụng nguyên văn một số bài toán PISA vào dạy học. + Sử dụng một số bài toán sau
khi có điều chỉnh cho phù hợp với bối cảnh đời sống xã hội và thực tiễn dạy học ở
Việt Nam. + Đề xuất những bài toán tương tự hoặc sáng tác những bài toán mới có
cách hỏi như các bài toán PISA dựa trên các tình huống, bài tập liên hệ thực tế đã
có trong sách giáo khoa, bổ sung vào chương trình dạy học môn Toán ở nước ta. Ví
dụ 1: Chiếc đồng hồ có hai kim (Trích câu hỏi Pisa) (Dạy trong bài “ Số đo góc “ –
Toán 6 – Tập II) Một chiếc đồng hồ gồm có hai kim: Một kim giờ và một kim phút.
Hiện tại kim giờ chỉ số 3 và kim phút chỉ số 12 Câu hỏi 1: Hỏi sau 10 tiếng đồng
hồ góc giữa hai kim đồng hồ là bao nhiêu? A. 300 B. 150 C. 00 Tải bản đầy đủ
Thích 2 Chia sẻ 6/6/2019 skkn một số BIỆN PHÁP đưa các bài TOÁN THỰC
TIỄN vào GIẢNG dạy môn TOÁN cấp THCS - Tài liệu text
9/12 D. 100
Câu hỏi 2: Hỏi sau 10 tiếng hai kim đồng hồ gặp nhau bao nhiêu lần. Ví dụ 2: Sau
khi học bài “Phép cộng và phép nhân” - Toán 6 / Tập 1 giáo viên có thể đưa ra bài
toán: Đầu năm học bố mẹ cho em mua bộ SGK lớp 6. Tính tổng số tiền bố mẹ đã
cho em để mua bộ SGK đó. (Trích câu hỏi PISA) Mặc dù bài toán rất đơn giản
nhưng học sinh sẽ phải tìm hiểu xem, toàn bộ sách giáo khoa lớp 6 là bao nhiêu
cuốn, giá tiền mỗi cuốn, rồi mới làm phép cộng để tính tổng số tiền mua sách. Ví
dụ 3: Diện tích lục địa (Trích câu hỏi PISA) (Đưa vào khi dạy bài Ôn tập chương
II: Đa giác. Diện tích đa giác - Toán 8, tập I) Dưới đây là bản đồ của Châu Nam
Cực (hình 6) Giáo viên: Phạm Như Quỳnh - Nguyễn Thị Hường THCS Ninh Hải
18 Một số biện pháp đưa các bài toán thực tiễn vào giảng dạy môn Toán cấp THCS
động cơ không phải là việc đặt vấn đề một cách hình thức mà phải giúp biến những
mục tiêu sư phạm thành mục tiêu của cá nhân học sinh nhằm tạo ra động lực bên
trong thúc đẩy học sinh hoạt động. Kinh nghiệm cho thấy không có động lực nào
thúc đẩy mạnh mẽ động cơ học tập của học sinh bằng các tình huống thực tế. Rõ
ràng cách gợi động cơ này dễ hấp dẫn, lôi cuốn học sinh, tạo điều kiện để các em
thực hiện tốt các hoạt động kiến tạo tri thức trong quá trình học tập về sau. Giáo
viên thường thực hiện nhiệm vụ đó ở khâu đặt vấn đề vào bài bài mới hoặc khâu
chuyển ý từ mục trước sang mục sau trong bài học. Khi gợi động cơ giáo viên có
thể đưa ra những thực tế gần gũi xung quanh học sinh; thực tế xã hội rộng lớn
(kinh tế, kĩ thuật, quốc phòng,…); thực tế ở những môn học và khoa học khác. Tuy
nhiên ta cũng cần phải chú ý các bài toán thực tế đưa ra cần đảm bảo tính chân
thực, không đòi hỏi quá nhiều tri thức bổ sung, con đường từ lúc nêu Giáo viên:
Phạm Như Quỳnh - Nguyễn Thị Hường THCS Ninh Hải 20 Một số biện pháp đưa
các bài toán thực tiễn vào giảng dạy môn Toán cấp THCS nhằm phát triển năng lực
học sinh cho đến lúc giải quyết vấn đề càng ngắn càng tốt. Ví dụ 1: (Đặt vấn đề
vào bài khi dạy bài : Làm quen với số nguyên âm- Toán 6) * Khi xem truyền hình
ở bản tin thời tiết viết : Mát-xcơ-va: - 100C đến -50C Xơ-un: - 50C đến -10C Bắc
Kinh: -20C đến 30C Tải bản đầy đủ Thích 2 Chia sẻ 6/6/2019 skkn một số BIỆN
PHÁP đưa các bài TOÁN THỰC TIỄN vào GIẢNG dạy môn TOÁN cấp THCS Tài liệu text />10/12 Ta hiểu cách viết đó như thế nào ? Tại sao lại có dấu “ – ” ở đằng trước mỗi
số ? * Khi tham quan du lịch trên biển hoặc trên sông hồ chúng ta gặp biển báo viết
- 15m , các em hiểu như thế nào về biển báo này ? * Trong sách địa lí viết : Dân số
nước Pháp tăng trưởng -0,1 % Dân số nước Đức tăng trưởng -0,15 % Dân số nước
Nhật tăng trưởng -0,05 % Hãy giải thích cách viết này ? Ví dụ 2: (Đặt vấn đề trong
khi dạy ba bài toán cơ bản về phân số - Toán 6) Xoay quanh vấn đề đồ dùng học
tập giảm giá nhân dịp khai giảng năm học mới, giáo viên đặt ra các câu hỏi liên
quan đến giá sau giảm, giá trước giảm, mức giảm giá. Học sinh sẽ thấy một nhu
cầu rất tự nhiên là cần phải làm như thế nào. Sau đó giáo viên sẽ giới thiệu được
các nội dung kiến thức về 3 bài toán phân số ở kì II lớp 6. Cùng một bối cảnh để
thực tiễn vào giảng dạy môn Toán cấp THCS nhằm phát triển năng lực học sinh
Câu hỏi: Vậy chiếc bàn đã được giảm giá bao nhiêu phần trăm so với mức giá ban
đầu? Ví dụ 3: (Gợi động cơ mở đầu của bài: Căn bậc ba - Toán 9) Bài toán: Một
bác thợ muốn xây 1 chiếc bể chứa nước hình lập phương có thể tích là 8m³. Vậy
bác thợ phải đo kích thước móng như thế nào để xây được chiếc bể đó? Nếu thể
tích của bể lần lượt là 27m³, 11m³, và a (m³) thì kích thước móng là bao nhiêu. Đối
với bể có thể tích là 8m³, 27m³ thì học sinh sẽ tìm được ngay kết quả là kích thước
móng hình vuông có cạnh lần lượt là 2m, 3m? Nhưng đối với bể có thể tích 11m³, a
(m³) thì ta làm như thế nào? Kích thước của móng khi đó bằng bao nhiêu. Để trả
lời câu hỏi đó, ta vào bài hôm nay: §9 Căn bậc ba Ví dụ 4: (Vận dụng chuyển ý
trong bài: Quan hệ giữa đường vuông góc và đường xiên, đường xiên và hình chiếu
- hình học lớp 7 tập II) Sau khi học sinh đã được làm quen với các khái niệm mở
đầu là đường vuông góc, đường xiên, hình chiếu của đường xiên, giáo viên có thể
vừa kết hợp nhận dạng vừa gợi động cơ cho phần tiếp theo “Quan hệ giữa đường
vuông góc và đường xiên” bằng bài tập tình huống: Một người thợ mộc có 32 mét
gỗ và muốn làm một hàng rào xung quanh một khu vườn. Ông ấy cân nhắc hai
mẫu thiết kế sau cho khu vườn của mình (hình 7 Mẫu Thiết kế 1 6m Mẫu Thiết kế
2 6m 10m 10 m Tải bản đầy đủ Thích 2 Chia sẻ 6/6/2019 skkn một số BIỆN PHÁP
đưa các bài TOÁN THỰC TIỄN vào GIẢNG dạy môn TOÁN cấp THCS - Tài liệu
text 11/12 Hình 7
. Mẫu thiết kế khu vườn Câu hỏi: Người thợ mộc có đủ gỗ để rào khu vườn theo
hai thiết kế trên không? Vì sao? Giáo viên: Phạm Như Quỳnh - Nguyễn Thị Hường
THCS Ninh Hải 23 Một số biện pháp đưa các bài toán thực tiễn vào giảng dạy môn
Toán cấp THCS nhằm phát triển năng lực học sinh Ở tình huống trên học sinh phải
chuyển được yêu cầu bài toán đưa ra thành một vấn đề toán học đó là : tính chu vi
của một hình cho trước. Ở mẫu thiết kế thứ 1, học sinh dễ dàng tìm được chu vi là
32m nhưng ở thiết kế thứ 2 thì học sinh chưa thể có ngay câu trả lời vì chưa có đủ
dữ kiện cần thiết. Giáo viên có thể gợi ý cho học sinh tìm được mối liên hệ giữa cái
để mắc ít nhất thì các điểm A,B,C,D,E,G, H... phải thẳng hàng, tức là các cột điện
phải chôn thẳng hàng với nhau Ví dụ 4: (Củng cố sau khi học xong bài tính chất ba
đường trung trực của tam giác ở lớp 7) Tại ngã ba tam giác Thành phố Ninh Bình
có một bồn hoa hình tam giác. Công ty môi trường đô thị thành phố muốn đặt một
cây đèn chiếu sáng toàn bộ khuôn viên đồng thời làm đẹp cảnh quan. Người ta nên
đặt nó ở đâu? Giáo viên có thể dẫn dắt để học sinh hình dung được trong đề bài
bồn hoa được thể hiện như một hình tam giác và quầng sáng từ cây đèn như là một
hình tròn mà cây đèn là tâm của nó. Để cây đèn chiếu sáng được toàn bộ khuôn
viên thì điểm cần tìm phải cách đều ba đỉnh của tam giác (hay chính là tâm đường
tròn ngoại tiếp của tam giác). Từ đó suy ra tìm vị trí đặt cột đèn trong tam giác
Giáo viên: Phạm Như Quỳnh - Nguyễn Thị Hường Tải bản đầy đủ Thích 2 Chia sẻ
6/6/2019 skkn một số BIỆN PHÁP đưa các bài TOÁN THỰC TIỄN vào GIẢNG
dạy môn TOÁN cấp THCS - Tài liệu text
12/12 THCS
Ninh Hải 25 Tài liệu liên quan Một số phương pháp giải các bài toán biên Elliptic
SKKN một số phương pháp giải các bài toán về tỉ lệ thức trong chương trình toán
lớp 7 Một số phương pháp giải các bài toán trong chủ để giải phương trình vô tỷ
SKKN Một số biện pháp giúp trẻ mẫu giáo bé 3 đến 4 tuổi tích cực vận động để
phát triển thể chất skkn Một số biện pháp ứng dụng công nghệ thông tin vào trong
việc xây dựng giáo án điện tử dạy trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo skkn Một số biện pháp
sử dụng Bản đồ tư duy trong việc dạy và học môn Ngữ Văn THCS Sáng kiến kinh
nghiệm một số biện pháp khai thác bài toán để tìm lời giải cho một bài toán SKKN
Một số phương pháp giải các bài toán về sự tiếp xúc giữa các đường Xây dựng và
sử dụng hệ thống bài tập hóa học phần phi kim lớp 10 nhằm phát triển năng lực
học sinh theo hướng tiếp cận Pisa Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập hóa học
phần phi kim lớp 11 nhằm phát triển năng lực học sinh theo hướng tiếp cận pisa