BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
BÙI MINH THU
THỰC TRẠNG HÀNH VI NGUY CƠ, SỬ DỤNG
DỊCH VỤ Y TẾ, TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ,
CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG VÀ HIỆU QUẢ
CAN THIỆP ỨNG DỤNG DI ĐỘNG
Ở NGƯỜI NHIỄM HIV ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ
TẠI HÀ NỘI NĂM 2018 - 2019
ĐỀ CƯƠNG DỰ TUYỂN NGHIÊN CỨU SINH
HÀ NỘI - 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
BÙI MINH THU
THỰC TRẠNG HÀNH VI NGUY CƠ, SỬ DỤNG
DỊCH VỤ Y TẾ, TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ,
CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG VÀ HIỆU QUẢ
1.3.3. Ứng dụng của đo lường CLCS trong lâm sàng và hoạch định chính
sách....................................................................................................17
1.3.4. Chất lượng cuộc sống trên bệnh nhân HIV và đồng nhiễm
HIV/HCV..........................................................................................18
1.4. Tình hình sử dụng điện thoại di động thông minh................................20
1.4.1. Trên thế giới....................................................................................20
1.4.2. Tại Việt Nam...................................................................................21
1.5. Tình hình sử dụng ứng dụng sức khỏe trên điện thoại di động thông
minh.......................................................................................................21
1.5.1. Trên thế giới....................................................................................21
1.5.2. Tại Việt Nam...................................................................................22
1.6. Ứng dụng điện thoại trong hỗ trợ điều trị và dự phòng HIV/AIDS,
Viêm gan B, Viêm gan C.......................................................................22
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU..............26
2.1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu.........................................................26
2.2. Đối tượng nghiên cứu............................................................................26
2.3. Thiết kế nghiên cứu...............................................................................27
2.3.1. Sơ đồ thiết kế nghiên cứu................................................................27
2.3.2. Thiết kế ứng dụng...........................................................................28
2.3.3. Quy trình thiết kế ứng dụng............................................................29
2.3.4. Giai đoạn phân tích và thiết kế........................................................29
2.3.5. Giai đoạn phát triển.........................................................................30
2.3.6. Giai đoạn thử nghiệm và đánh giá..................................................31
2.4. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu.......................................................31
2.5. Các biến số/chỉ số nghiên cứu và đo lường...........................................32
2.6. Công cụ thu thập và quy trình thực hiện nghiên cứu............................33
2.6.1. Công cụ thu thập.............................................................................33
2.6.2. Quy trình thực hiện nghiên cứu......................................................35
(Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải)
: Anti Retrovirus (Thuốc kháng retrovirus)
: Cán bộ Y tế
: Genotype (Kiểu gen)
: Geographic Information System (Hệ thống thông tin địa lý)
: Hepatitis B Virus (Vi rút viêm gan B)
: Hepatitis C Virus (Vi rút viêm gan C)
: Human Immunodeficiency Virus
MSM
(Virus gây suy giảm miễn dịch mắc phải ở người)
: Men who have Sex with Men
NCMT
OS
PNBD
QHTD
TCD4
(Quan hệ tình dục đồng giới nam)
: Nghiện chích ma túy
: Operating System (Hệ điều hành)
: Phụ nữ bán dâm
: Quan hệ tình dục
: Tế bào Lympho T mang thụ thể CD4 trên bề mặt
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1:
Bảng 3.7:
Hành vi sử dụng thuốc lá...................................................................43
Bảng 3.8:
Tình trạng lâm sàng, SL tế bào CD4 và câng nặng............................44
Bảng 3.9:
Tuân thủ điều trị của đối tượng nghiên cứu trước can thiệp...............44
Bảng 3.10:
Mức độ hài lòng của NB về chất lượng dịch vụ.................................45
Bảng 3.11:
So sánh chất lượng cuộc sống trước can thiệp giữa 2 nhóm...............45
Bảng 3.12:
Mô hình hồi quy đa biến rút gọn về mối liên quan giữa CLCS và một
số yếu tố của đối tượng nghiên cứu trước can thiệp...........................46
Bảng 3.13:
Đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu sau can thiệp.....47
Tuân thủ điều trị của đối tượng nghiên cứu sau can thiệp..................51
Bảng 3.22:
Mức độ hài lòng của NB về chất lượng dịch vụ sau can thiệp...........52
Bảng 3.23:
So sánh chất lượng cuộc sống sau can thiệp giữa 2 nhóm..................52
Bảng 3.24:
So sánh chất lượng cuộc sống sau can thiệp theo giới tính................53
Bảng 3.25:
So sánh chất lượng cuộc sống sau can thiệp theo số lượng CD4........54
Bảng 3.26:
So sánh CLCS sau can thiệp theo mức độ tuân thủ điều trị................55
Bảng 3.27:
So sánh CLCS sau can thiệp theo số năm điều trị ARV.....................56
Bảng 3.28:
Mô hình hồi quy đa biến rút gọn về mối liên quan giữa CLCS và một
không phải là bệnh nhiễm trùng cơ hội, nhưng các vi rút gây viêm gan, cụ thể là
HBV và HCV đang được đánh giá là những nguyên nhân hàng đầu liên quan với
tình trạng nhập viện và tử vong ở người nhiễm HIV [3]. Các kết quả nghiên cứu
cũng cho thấy ở những người có tình trạng đồng nhiễm HBV hoặc HCV với HIV
thường có tình trạng phá hủy tế bào gan nhanh hơn, bao gồm cả ung thư gan và dẫn
đến tử vong nhanh hơn so với người không có tình trạng đồng nhiễm các vi rút
viêm gan [3, 4]. Do đó, các can thiệp giúp nâng cao hiệu quả chăm sóc các bệnh
nhân HIV đồng nhiễm viêm gan là hết sức cần thiết.
Hiện nay, trên thế giới, việc ứng dụng các thiết bị di động trong can thiệp các
vấn đề sức khỏe đang ngày càng phổ biến. Các thiết bị di động như điện thoại di
động hay máy tính bảng (tablet) có những ưu điểm nổi trội như chi phí thấp và khả
năng tiếp cận thông tin cao đã trở thành các phương tiện truyền thông phổ biến nhất
hiện nay. Các thiết bị này đang trở thành các công cụ không thể thiếu trong đời sống
hàng ngày. Đến cuối năm 2012, trên toàn thế giới có khoảng 4,3 tỷ thuê bao di động
[5]. Đặc biệt, trong giai đoạn gần đây, sự khai sinh của dòng điện thoại di động
thông minh (smartphone) có kèm hệ điều hành (operating system - OS) đã mở ra
một kỷ nguyên mới thông qua việc hình thành các kho ứng dụng, giúp cải thiện hiệu
suất đáng kể và cung cấp nhiều tiện ích hơn so với dòng điện thoại thông thường.
2
Hiện nay tồn tại hai OS chính gồm iOS của công ty Apple và Android của công ty
Google. Thống kê cho thấy, trong năm 2012, có tới 46 tỷ lượt tải ứng dụng trên toàn
thế giới trên hai hệ điều hành này, mang lại lợi nhuận khoảng 12 tỷ đô la Mỹ cho
các công ty phát triển ứng dụng [6]. Có rất nhiều loại hình ứng dụng cho điện thoại
thông minh với nội dung phong phú, bao gồm các chủ đề từ Âm nhạc, Thể thao đến
Giáo dục, Đời sống và Y tế. Trong đó, năm 2014 đánh dấu sự tăng trưởng vượt bậc
về thời gian trung bình một người dành cho các ứng dụng về Sức khỏe [7].
Việc phát triển và nghiên cứu các ứng dụng phần mềm trên điện thoại di động
2. Đánh giá hiệu quả ứng dụng di động trong việc giảm hành vi nguy cơ cải
thiện dịch vụ y tế, tuân thủ điều trị và nâng cao chất lương cuộc sống người
nhiễm HIV mới tham gia ngoại trú tại Hà Nội năm 2018-2019.
4
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tình hình nhiễm HIV và/hoặc viêm gan HBV/HCV
1.1.1. Trên thế giới
Kể từ ca nhiễm đầu tiên được phát hiện năm 1981 cho đến nay, HIV/AIDS vẫn
đang là một một trong những vấn đề y tế công cộng được ưu tiên hàng đầu.
HIV/AIDS là một trong sáu nguyên nhân hàng đầu gây ra gánh nặng bệnh tật trên
toàn thế giới, góp phần vào 2,8% số ca tử vong hàng năm và 3,3% tổng gánh nặng
bệnh tật toàn cầu [14]. Thống kê cho thấy, kể từ năm 2000 đến nay, đã có 38,1 triệu
người nhiễm HIV và 25,3 triệu người tử vong do các bệnh liên quan đến AIDS.
Theo ước tính của UNAIDS, trong năm 2014, có khoảng 36,9 triệu người đang phải
sống chung với HIV; 2 triệu ca mắc mới (trong đó có 220.000 ca là trẻ em) và 1,2
triệu người tử vong do AIDS [15].
Tính đến cuối năm 2012, số người nhiễm HIV trên thế giới hiện còn sống là
35,3 (32,2 - 38,8) triệu người. Trong đó, có 3,3 (3,1 - 3,8) triệu trẻ em dưới 15 tuổi,
khoảng 50% (48 - 53%) số người nhiễm là phụ nữ. Riêng năm 2012, số người
nhiễm HIV mới phát hiện là 2,3 (1,9 - 2,7) triệu người, trong đó trẻ em dưới 15 tuổi
là 320.000 (270.000 - 380.000) người, số người chết do AIDS là 1,6 (1,4 - 1,8) triệu
người. Cứ mỗi ngày trôi qua có thêm 7.000 trường hợp (1.000 trẻ em và 6.000
người lớn) nhiễm HIV mới phát hiện và 90% trong số này ở các nước đang phát
triển [16, 17].
Châu Phi Cận Sahara: là khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của đại dịch
gần đây, có thể tăng 2 lần vào năm 2015 nếu các biện pháp phòng, chống HIV
không hiệu quả. QHTD rộng rãi và tệ nạn NCMT là lý do chính làm gia tăng nhanh
chóng đại dịch này tại Indonesia. Tỷ lệ phụ nữ bán dâm bị nhiễm HIV là 15% và tỷ
lệ này ở nhóm NCMT là 36% [21].
Thái Lan là một quốc gia điển hình về cam kết mạnh mẽ để giải quyết đại dịch
HIV/AIDS và đã gặt hái những thành công to lớn. Tuy nhiên, thời gian gần đây số
nhiễm mới HIV tăng cao trong nhóm quan hệ tình dục đồng giới nam (MSM), đặc
biệt ở Bangkok, nơi tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm này đã tăng từ 17,3% năm 2003
lên 31,3% năm 2009. Hiện nay, có khoảng 590.000 người nhiễm HIV đang sống,
chiếm tỷ lệ 1,2% dân số Thái Lan [22].
6
Châu Mỹ La Tinh: không có sự biến động lớn và HIV tiếp tục lây truyền ở
nhóm có hành vi nguy cơ cao, bao gồm những người NCMT, hoạt động mại dâm và
đồng tính nam. Ước tính số nhiễm mới HIV ở Châu Mỹ La Tinh trong năm 2012 là
86.000 người, nâng tổng số người đang sống với HIV ở khu vực này lên tới 1,5
triệu người, chiếm 0,4% dân số. Tại một số thành phố ở Argentina gần 50% số
người NCMT nhiễm HIV. Brazil là nơi có số người nhiễm HIV cao nhất ở khu vực
này, tính đến cuối năm 2012, Brazil có 595.000 người nhiễm HIV, chiếm 0,4% dân
số [21].
Đông Âu và Trung Á: Người nhiễm HIV chỉ mới xuất hiện đầu tiên vào năm
1996 nhưng có sự gia tăng mạnh. Chỉ riêng năm 2012, đã phát hiện thêm 150.000
người nhiễm HIV, nâng tổng số người đang sống với HIV tại Đông Âu và Trung Á
lên 1,4 triệu người so với 630.000 người trong năm 2001, tăng 150%. Gần 90% số
ca nhiễm HIV mới tại khu vực này là từ hai quốc gia: Cộng hòa Liên bang Nga
(66%) và Ukraine (21%). Hiện nay nhiều nước ở Trung Á như Kazakhastan,
Uzbekistan báo cáo đã có sự gia tăng số người nhiễm HIV và hầu hết là những
người NCMT [18].
Đánh giá về tỷ lệ đồng nhiễm HIV với viêm gan C trong thời gian 2004-2005
tại Iran, Seyed Alinaghi S và cộng sự thấy có tới 67,2% bệnh nhân đồng nhiễm
HCV, chủ yếu trong nhóm tiêm chích ma túy tĩnh mạch (85,1%) [29].
Douglas G. Fish [30] nghiên cứu thấy từ 15% đến 30% người nhiễm HIV ở
Hoa kỳ có đồng nhiễm với viêm gan vi rút C, và 90% số trường hợp này là người
tiêm trích ma túy tĩnh mạch. Bệnh lý gan mạn tính ở đối tượng này là xơ gan, ung
thư gan nguyên phát và dẫn tới tử vong.
Liz Highleyman [31] nghiên cứu so sánh 4.280 bệnh nhân đồng nhiễm
HIV/HCV điều trị ARV với 6.079 bệnh nhân HCV đơn thuần từ 1997-2010, thấy
45% bệnh nhân có số lượng CD4 trước điều trị ≤ 200 cells/mm3. Các biểu hiện lâm
sàng: cổ chướng, viêm màng bụng do vi khuẩn và chảy máu do giãn vỡ tĩnh mạch
thực quản. Không thấy bệnh lý não do gan và vàng da vàng mắt. Tỷ lệ suy gan ở
nhóm bệnh nhân đồng nhiễm HIV/HCV cao hơn nhóm viêm gan C đơn thuần (6,3%
và 5,0%) [chỉ số nguy cơ HR = 1,83], ung thư tế bào gan nguyên phát tương đương
ở các 2 nhóm (1,2% và 0,9%) [HR = 1,69]. Tỷ lệ tử vong ở những bệnh nhân đồng
nhiễm cao hơn (32,9% so với 15,4%). Những bệnh nhân đồng nhiễm và có số lượng
tế bào CD4 < 200 TB/mm3 có tỷ lệ xơ gan mất bù cao hơn.
8
Người nhiễm HIV/AIDS nghiện chích ma túy có nguy cơ cao bị lây nhiễm
HBV, HCV và HIV. Trong một nghiên cứu về tỷ lệ đồng nhiễm các tác nhân này
bằng việc xét nghiệm 250 mẫu huyết tương của người tiêm chích ma túy tại Hoa kỳ,
các tác giả nhận thấy: 140 (59,6%) có xét nghiệm khẳng định HIV (+), 226 (90,4%)
có anti HCV (+) và 27 (10,8%) có HbsAg (+). Tỷ lệ đồng nhiễm cả 3 loại HIV,
HBV và HCV là 15 (6%). Đồng nhiễm HBV và HCV là 12 (4,8%) và đồng nhiễm
HIV với HIV là 131 (52,4%) [26].
1.1.2. Tại Việt Nam
Việt Nam là một quốc gia thuộc khu vực Châu Á – châu lục có tỷ lệ người
tình của họ.
Trong nhóm nghiện chích ma túy, theo số liệu giám sát trọng điểm, tỉ lệ hiện
nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma túy giảm dần trong giai đoạn từ năm 2004
đến 2013, lần đầu tiên xuống dưới 11% trong năm 2013 kể từ năm 1997. Tuy tỉ lệ
hiện nhiễm trong nhóm nghiện chích ma túy đang giảm dần ở một số tỉnh, ở hầu hết
các tỉnh thực hiện giám sát, dịch HIV/AIDS vẫn đang cao ở mức đáng báo động
[32]. Tất cả các vùng trong cả nước tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma
túy đều giảm, tuy nhiên tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma túy có sự
khác nhau giữa các khu vực, tỷ lệ này ở các tỉnh đồng bằng Bắc bộ là 14,9%, khu
vực miền núi phía bắc 12,1%, ở các tỉnh miền Đông Nam bộ là 9,6%, các tỉnh Bắc
Trung bộ là 7,9%, khu vực đồng bằng sông Cửu Long 9,1%, khu vực Tây Nguyên
5,7%, khu vực duyên hải miền Trung 3,8%. Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm nghiện
chích ma túy tập trung cao ở các tỉnh ở khu vực ở miền núi phía Bắc, đồng bằng
Bắc bộ và Tp. Hồ Chí Minh (Thái Nguyên 32%; Lai Châu 27,7%; Hà Nội 24%;
Quảng Ninh 22,4%; thành phố Hồ Chí Minh 18,24%; Cao Bằng 17,2%; Lạng Sơn
15,6%; Hải Phòng 14,67%; Sơn La 14,3%) [32].
Trong những năm gần đây, dịch HIV trong nhóm nam bán dâm đồng tính
(MSM) ngày càng được ghi nhận rõ hơn. Số liệu báo cáo cho thấy tỉ lệ hiện nhiễm
trung bình là 3,7% [32]. Tỉ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm MSM ở các thành phố
lớn có xu hướng cao hơn, đang có xu hướng gia tăng tại thành phố Hà Nội và TP
Hồ Chí Minh; tỉ lệ hiện nhiễm HIV ước tính lên tới khoảng 16% tại đây [32]. Quan
hệ tình dục qua đường hậu môn không được bảo vệ là con đường lây truyền HIV
chính trong nhóm MSM. Bên cạnh đó, tỉ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm MSM tiêm
10
chích ma túy khá cao và không thể bỏ qua. Ước tính có khoảng 191.000 đến
573.000 MSM trên cả nước [32]. Tuy nhiên số liệu về MSM tại Việt Nam vẫn còn
hạn chế.
MEDIC, 327 trường hợp. Các tác giả thấy: 3 kiểu gen chính là 1, 6 và 2: kiểu gen
HCV 1 chiếm 58,4% (1: 5,8%; 1a: 6,4%; 1a/1b: 0,3%; 1b: 45,9%), tiếp theo là kiểu
gen 6 (toàn bộ là 6a: 23,9%) và kiểu gen 2 là 13,1% (2: 1,5%; 2a/2c: 11,6%). Chỉ có
một trường hợp là kiểu gen 3b (0,3%). Có 14 trường hợp (4,3%) không xác định
được kiểu gen HCV bằng kỹ thuật LiPA tiếp tục thực hiện kỹ thuật giải trình tự
chuỗi (Sequencing) để xác định kiểu gen HCV (Hệ thống Trugene, Bayer) và xác
định được tất cả kiểu gen của 14 trường hợp đó: Kiểu gen 1 : 2 trường hợp; 1b: 2;
2a: 1; 2c: 1; 6a: 8. Có 229 trường hợp thực hiện định lượng siêu vi C trong máu.
Lượng siêu vi dao động từ 3.200 bản sao/ml (Copies/ml) đến trên 40.000.000 bản
sao/ml, trung bình 6,46x106 ± 8,50x106 bản sao/ml. Kiểu gen HCV 1, 2, 6 có lượng
siêu vi C trên 2x106 bản sao/ml là 91, 18, 32 trường hợp; và có lượng siêu vi C
dưới 2x106 copies/ml là 46, 15, 27 trường hợp. Qua đó các tác giả nhận thấy rằng
không có sự khác nhau có ý nghĩa giữa lượng siêu vi C trong máu và kiểu gen 1, 2,
6 của siêu vi C (p > 0,05) [35].
Tại Viện Y Dược học Dân tộc TP. HCM, 136 người nhiễm HIV/AIDS
nghiện ma tuý được nghiên cứu về đồng nhiễm HIV/HCV, kết quả cho thấy: tỷ lệ
đồng nhiễm HIV/HCV là 68,24%, đồng thời nhiễm cả HCV/HBV và HIV (+) là
18,75% [36].
Nguyễn Tiến Hòa [37] nghiên cứu tỷ lệ nhiễm HIV/HCV ở nhóm NCMT,
PNBD ở Hà Nội (2008, 2009, 2010) cho kết quả: Ở nhóm nghiện chích ma túy thấy
tỷ lệ đồng nhiễm HIV/HCV là 86,0%, 92,0%, 100%). Ở nhóm phụ nữ bán dâm tỷ lệ
đồng nhiễm HIV/HCV là 32,2%. Kiểu gen HIV của NCMT và PNBD được xác
định là CRF_AE01 và kiểu gen HCV được xác định là HCV-6 (-6a, -6e) và HCV-1
(-1a, -1b). NCMT đồng nhiễm HIV/HBV/HCV thì kiểu gen HCV đa số là HCV-1a.
NCMT và PNBD đồng nhiễm HBV/HCV thì nhiễm kiểu gen HCV-6 và HCV-1
tương đương nhau.
Với mục đích xác định tỷ lệ nhiễm HBV, HCV và tỷ lệ viêm gan ở bệnh nhân
đồng nhiễm HBV, HCV, HIV điều trị ngọai trú, một nghiên cứu đã được thực hiện
tại Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Thành phố Hồ chí Minh trên 304 bệnh nhân nhiễm
HIV theo dõi ngọai trú, chưa điều trị ARV và không có biểu hiện nhiễm khuẩn cơ
HCV thấp ở nhóm này”.
13
1.2. Tình hình Điều trị HIV
1.2.1. Điều trị ARV
+ Mục đích điều trị thuốc ARV:
Ức chế sự nhân lên của vi rút, kìm hãm lượng vi rút ở trong máu ở mức thấp
nhất.
Phục hồi hệ thống miễn dịch thông qua sự phục hồi về số lượng tế bào CD4,
giảm nguy cơ mắc các bệnh nhiễm trùng cơ hội.
Tăng sức đề kháng của cơ thể và kéo dài tuổi thọ.
+ Nguyên tắc, tiêu chuẩn điều trị và các thuốc điều trị ARV:
Điều trị ARV là một phần trong tổng thể các dịch vụ chăm sóc hỗ trợ về y tế,
tâm lý và xã hội cho người nhiễm HIV/AIDS. Điều trị ARV chủ yếu là điều trị
ngoại trú và được chỉ định khi người bệnh có đủ tiêu chuẩn lâm sàng và/hoặc xét
nghiệm, bản thân người bệnh hoàn toàn tự nguyện sẵn sàng điều trị. Người nhiễm
HIV được điều trị ARV vẫn phải áp dụng các biện pháp dự phòng lây nhiễm vi rút
cho người khác. Người nhiễm HIV được điều trị ARV khi tình trạng miễn dịch chưa
phục hồi cần tiếp tục điều trị dự phòng các bệnh nhiễm trùng cơ hội. Điều trị ARV
phải phối hợp ít nhất 3 loại thuốc ARV, điều trị liên tục, suốt đời và tuân thủ điều trị
tốt mới có tác dụng ức chế vi rút phát triển, không gây kháng thuốc [69].
Tháng 3 năm 2010, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã đưa ra bản cập nhật
hướng dẫn điều trị ARV cho người lớn với các điểm thay đổi chính như sau [72]:
Điều trị kháng retrovirus (ARV) nên bắt đầu ở tất cả bệnh nhân có số
lượng CD4 ≤ 350 TB/cm3 và những bệnh nhân nhiễm HIV ở giai đoạn
lâm sàng 3 hoặc 4 không phụ thuộc số lượng CD4.
ART nên bắt đầu ở phụ nữ có thai, bệnh nhân có bệnh não do HIV và
những bệnh nhân đồng nhiễm HBV khi có chỉ định điều trị HBV bất kể
- ZDV + 3TC + NVP
- ZDV + 3TC + EFV
Đến năm 2011 các phác đồ điều trị ARV bậc 1: [68]
+ Phác đồ chính:
TDF + 3TC + NVP hoặc TDF + 3TC + EFV.
+ Phác đồ thay thế:
15
- AZT + 3TC + EFV hoặc AZT +3TC + NVP
Hướng dẫn 2009 của Bộ Y tế Việt Nam đưa ra các lựa chọn phác đồ bậc hai
tùy theo phác đồ bậc một mà bệnh nhân đã sử dụng (xem Bảng 3) [69] và bản cập
nhật 2011 bổ sung thêm các lựa chọn do có sự thay đổi các phác đồ bậc một trong
giai đoạn hiện nay với việc ưu tiên sử dụng tenofovir và loại bỏ stavudine trong các
phác đồ bậc một (Xem Bảng 4) [68].
Bảng 1.1. Các lựa chọn phác đồ HAART bậc hai (Việt Nam- 2009) [69]
Phác đồ bậc một
AZT/d4T + 3TC + NVP
Phác đồ bậc hai
ddI + ABC + LPV/r (hoặcATV/r)
AZT/d4T + 3TC + EFV
AZT/d4T + 3TC + ABC
ddI + EFV + LPV/r (hoặc ATV/r)
ABC + 3TC + NVP/EFV
kháng vi rút (ARV) ở Việt Nam đã có những tiến bộ đáng kể giúp bệnh nhân kéo
16
dài tuổi thọ, nâng cao chất lượng cuộc sống. Tuy nhiên việc tăng cường tuân thủ là
việc làm quan trọng luôn được các y bác sỹ đặt ra trong quá trình điều trị nhằm
phát hiện sớm và chuyển đổi phác đồ kịp thời. Do điều trị ARV là điều trị suốt đời
nên việc phải tuân thủ điều trị là rất quan trọng. Tuân thủ điều trị là một trong
những yếu tố quyết định sự thành công của điều trị ARV. Nếu không tuân thủ điều
trị sẽ dẫn đến không đạt được liều điều trị ức chế vi rút tối đa và dẫn đến khả năng
thất bại điều trị và kháng thuốc [73]. Từ năm 2005, với sự đầu tư quyết liệt của Chính
phủ và sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế, mọi chương trình điều trị thuốc ARV miễn
phí được triển khai và mở rộng trên toàn quốc. Năm 2005 Bộ Y tế cũng đã ban hành
hướng dẫn quốc gia về việc điều trị kháng retrovirus hoạt tính cao trong đó phác đồ bậc
1 gồm 2 thuốc NRTI kết hợp với 1 thuốc thuộc nhóm NNRTI và phác đồ bậc 2 bao
gồm 1 nhóm thuốc PI kết hợp với 2 thuốc nhóm NRTI. Trong đó, hướng dẫn này cũng
nhấn mạnh tầm quan trọng của tuân thủ thuốc điều trị. Người bệnh phải được tư vấn
tuân thủ điều trị trước khi điều trị ARV và giám sát tuân thủ trong suốt quá trình điều
trị. Công tác này đã giúp cho hiệu quả điều trị ARV cải thiện rõ rệt trên lâm sàng .
Tính đến tháng 9 năm 2017, phòng khám ngoại trú bệnh viện Bạch Mai cấp
phát thuốc ARV cho 1444 người nhiễm HIV/AIDS; Chiến lược Quốc gia về phòng
chống HIV/AIDS đến năm 2020 và tầm nhìn 2030 đề ra đến năm 2020, 80% số
bệnh nhân sẽ được điều trị [70].
1.3. Chất lượng cuộc sống
1.3.1. Khái niệm chất lượng cuộc sống
CLCS có thể được định nghĩa là: “nhận thức của mỗi cá nhân về vị trí của họ
trong cuộc sống, trong bối cảnh về hệ thống văn hóa và giá trị mà họ đang sống, có
liên quan đến các mục tiêu, kỳ vọng, tiêu chuẩn và các mối quan tâm của mỗi cá
nhân. CLCS bị ảnh hưởng bởi tình trạng thể chất, tâm lý, mức độ độc lập, mối quan