BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
----------
NGUYỄN NGỌC MINH
PHÂN TÍCH VIỆC SỬ DỤNG PHÁC ĐỒ
DỰ PHÒNG NÔN VÀ BUỒN NÔN
DO HÓA TRỊ LIỆU
TRÊN BỆNH NHÂN UNG THƯ
TẠI BỆNH VIỆN K CƠ SỞ TÂN TRIỀU
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ
HÀ NỘI - 2019
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
NGUYỄN NGỌC MINH
Mã sinh viên: 1401405
PHÂN TÍCH VIỆC SỬ DỤNG PHÁC ĐỒ
DỰ PHÒNG NÔN VÀ BUỒN NÔN
DO HÓA TRỊ LIỆU
TRÊN BỆNH NHÂN UNG THƯ
TẠI BỆNH VIỆN K CƠ SỞ TÂN TRIỀU
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ
Người hướng dẫn:
1. ThS. Dương Khánh Linh
2. ThS. Vũ Đình Tiến
Nguyễn Ngọc Minh
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH
ĐẶT VẤN ĐỀ…………………………………………………………………….……1
Chương 1. TỔNG QUAN ..............................................................................................3
1.1. Tổng quan về biến cố nôn và buồn nôn do hóa trị liệu .......................................3
1.1.1. Định nghĩa và phân loại biến cố nôn và buồn nôn do hóa trị liệu ..................3
1.1.1.1. Định nghĩa ......................................................................................................3
1.1.1.2. Phân loại ........................................................................................................3
1.1.2. Tần suất và ảnh hưởng của biến cố nôn và buồn nôn do hóa trị liệu trên bệnh
nhân ..............................................................................................................................4
1.1.3. Cơ chế gây nôn và buồn nôn của hóa chất .......................................................5
1.1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc xuất hiện biến cố nôn và buồn nôn do hóa trị
liệu trên bệnh nhân ......................................................................................................6
1.1.4.1. Các yếu tố thuộc về phác đồ điều trị ung thư ................................................7
1.1.4.2. Các yếu tố thuộc về bệnh nhân ......................................................................8
1.1.5. Các biện pháp theo dõi, phát hiện và đánh giá biến cố nôn và buồn nôn trên
bệnh nhân .....................................................................................................................8
1.2. Tổng quan về thuốc dự phòng nôn và buồn nôn do hóa trị liệu ......................10
1.2.1. Các nhóm thuốc được sử dụng trong dự phòng nôn và buồn nôn do hóa trị
liệu ...............................................................................................................................10
1.2.1.1. Nhóm thuốc đối kháng trên thụ thể của serotonin .......................................10
1.2.1.2. Nhóm corticoid .............................................................................................11
1.2.1.3. Nhóm thuốc đối kháng thụ thể neurokinin-1 ................................................11
1.2.1.4. Olanzapin .....................................................................................................12
cấp .............................................................................................................................28
3.1.3.2. Đặc điểm về phác đồ dự phòng nôn và buồn nôn do hóa trị liệu trong pha
muộn ..........................................................................................................................30
3.1.3.3. Tính phù hợp của phác đồ dự phòng nôn và buồn nôn do hóa trị liệu ........31
3.1.3.4. Các vấn đề về sử dụng thuốc chống nôn không phù hợp của phác đồ dự phòng
nôn và buồn nôn do hóa trị liệu ................................................................................33
3.2. Phân tích hiệu quả dự phòng và các yếu tố ảnh hưởng đến việc xuất hiện nôn
và buồn nôn do hóa trị liệu trên bệnh nhân ..............................................................37
3.2.1. Đặc điểm về biến cố nôn và buồn nôn do hóa trị liệu trên bệnh nhân ..........37
3.2.2. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc xuất hiện biến cố nôn và buồn nôn
do hóa trị liệu trên bệnh nhân ...................................................................................38
3.2.2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc xuất hiện biến cố nôn và buồn nôn do hóa trị
liệu pha cấp ...............................................................................................................38
3.2.2.2. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc xuất hiện biến cố nôn và buồn nôn
do hóa trị liệu pha muộn ...........................................................................................40
Chương 4. BÀN LUẬN ...............................................................................................43
4.1. Bàn luận về đặc điểm biến cố nôn và buồn nôn do hóa trị liệu trên bệnh nhân
.......................................................................................................................................43
4.2. Bàn luận về đặc điểm của bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu ..........................44
4.3. Bàn luận về đặc điểm về phác đồ hóa chất điều trị ung thư trong nghiên cứu
.......................................................................................................................................45
4.4. Bàn luận về hiệu quả của phác đồ dự phòng nôn và buồn nôn do hóa trị liệu
trên bệnh nhân ung thư...............................................................................................46
4.4.1. Bàn luận về phác đồ dự phòng trong pha cấp ................................................46
4.4.1.1. Bàn luận về lựa chọn thuốc dự phòng nôn cấp............................................46
4.4.1.2. Bàn luận về liều dùng ...................................................................................49
4.4.2. Bàn luận về phác đồ dự phòng trong pha muộn ............................................50
4.4.2.1. Bàn luận về lựa chọn thuốc ..........................................................................50
CINV 24h
Biến cố nôn và buồn nôn do hóa trị liệu pha cấp
CINV 120h
Biến cố nôn và buồn nôn do hóa trị liệu pha muộn
CTCAE
Tiêu chuẩn về thuật ngữ chung cho các biến cố bất lợi của Viện ung
thư quốc gia Hoa Kỳ
(Common Terminology Criteria for Adverse Events)
CTZ
Vùng kích thụ thể hóa học
(Chemoreceptor Trigger Zone)
EC
Tế bào enterochromaffin
(Enterochromaffin cell)
ESMO
Hiệp hội Ung thư châu Âu
(European Society of Medical Oncology)
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Các yếu tố nguy cơ được đưa vào phân tích trong mô hình hồi quy logistic đa
biến với các biến cố CINV 24h và 120h .......................................................................23
Bảng 3.1. Đặc điểm chung của bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu ................................25
Bảng 3.2. Đặc điểm về phác đồ hóa chất của bệnh nhân ..............................................27
Bảng 3.3. Đặc điểm của phác đồ dự phòng nôn và buồn nôn do hóa trị liệu pha cấp trên
từng lượt sử dụng ...........................................................................................................28
Bảng 3.4. Đặc điểm của phác đồ dự phòng nôn và buồn nôn do hóa trị liệu pha muộn
được dùng trên bệnh nhân .............................................................................................30
Bảng 3.5. Tính phù hợp của phác đồ dự phòng pha cấp nôn và buồn nôn do hóa trị liệu
trên phác đồ hóa chất của từng bệnh nhân ....................................................................32
Bảng 3.6. Tính phù hợp của phác đồ dự phòng pha muộn nôn và buồn nôn do hóa trị
liệu trên phác đồ hóa chất của từng bệnh nhân .............................................................33
Bảng 3.7. Các vấn đề về sử dụng thuốc chống nôn không phù hợp của phác đồ dự phòng
CINV pha cấp trên từng ngày (lượt) dự phòng .............................................................34
Bảng 3.8. Các vấn đề về sử dụng thuốc chống nôn không phù hợp của phác đồ dự phòng
CINV muộn trên từng phác đồ hóa chất của bệnh nhân ...............................................36
Bảng 3.9. Đặc điểm về biến cố CINV ghi nhận trên bệnh nhân nghiên cứu ................37
Bảng 3.10. Mô hình hồi quy đa biến của các yếu tố ảnh hưởng đến việc xuất hiện biến
cố CINV cấp ..................................................................................................................39
Bảng 3.11. Mức độ ảnh hưởng của yếu tố về dự phòng đến việc xuất hiện biến cố CINV
cấp ..................................................................................................................................40
Bảng 3.12. Mô hình hồi quy đa biến của các yếu tố ảnh hưởng đến việc xuất hiện biến
cố CINV muộn...............................................................................................................41
Bảng 3.13. Mức độ ảnh hưởng của yếu tố thuộc về dự phòng đến việc xuất hiện biến cố
CINV muộn ...................................................................................................................41
DANH MỤC CÁC HÌNH MINH HỌA
Hình 1.1. Cơ chế gây nôn và buồn nôn của hóa chất ......................................................6
Tại Việt Nam, dự phòng nôn và buồn nôn do hóa trị liệu trên bệnh nhân còn gặp
nhiều thách thức. Một số thuốc được chứng minh có hiệu quả trong dự phòng và được
khuyến cáo trong các hướng dẫn điều trị chưa được cấp phép lưu hành, như các thuốc
thuộc nhóm đối kháng thụ thể neurokinin-1 (NK-1 RA). Nhiều yếu tố khác nhau thuộc
về phác đồ hóa chất và thuộc về bệnh nhân có thể làm thay đổi nguy cơ và mức độ xuất
hiện biến cố nôn và buồn nôn [9]. Những đặc điểm này khiến cho việc áp dụng các phác
đồ dự phòng nôn và buồn nôn do hóa trị được khuyến cáo rộng rãi trên thế giới vào thực
hành lâm sàng còn nhiều hạn chế. Mặt khác, tại các bệnh viện chuyên khoa ung bướu ở
1
Việt Nam, chưa có nghiên cứu nào tiến hành phân tích về việc sử dụng và hiệu quả của
các phác đồ dự phòng nôn và buồn nôn do hóa trị liệu trên bệnh nhân ung thư.
Bệnh viện K là cơ sở chuyên khoa đầu ngành của cả nước về phòng chống và điều
trị ung thư, trong đó điều trị bằng hóa chất chiếm đa số với trên 20.000 lượt bệnh nhân
mỗi năm. Với mục đích cung cấp thêm hiểu biết, giúp nâng cao hiệu quả điều trị và chất
lượng cuộc sống cho các bệnh nhân ung thư tại bệnh viện K cơ sở Tân Triều, cụ thể là
trong việc kiểm soát biến cố nôn và buồn nôn do hóa trị, nghiên cứu “Phân tích việc sử
dụng phác đồ dự phòng nôn và buồn nôn do hóa trị liệu trên bệnh nhân ung thư tại
bệnh viện K cơ sở Tân Triều” được thực hiện với hai mục tiêu:
1. Phân tích việc sử dụng phác đồ dự phòng nôn và buồn nôn do hóa trị liệu trên bệnh
nhân ung thư được điều trị hóa chất đường tĩnh mạch tại bệnh viện K cơ sở Tân Triều.
2. Phân tích hiệu quả dự phòng và các yếu tố ảnh hưởng đến nguy cơ xuất hiện nôn và
buồn nôn do hóa trị liệu trên bệnh nhân ung thư.
2
Chương 1. TỔNG QUAN
1.1. Tổng quan về biến cố nôn và buồn nôn do hóa trị liệu
3
cyclophosphamid. Đối với cisplatin, nôn muộn thường xuất hiện với tần suất nhiều nhất
từ 48 đến 72 giờ và có thể kéo dài tới 6 đến 7 ngày sau khi sử dụng hóa chất [7], [49].
CINV xảy ra trước khi điều trị (hay còn gọi là nôn và buồn nôn tâm lý) là một phản
xạ có điều kiện có thể xuất hiện ở những bệnh nhân đã từng có nôn và buồn nôn ở các
chu kỳ hóa trị trước đó [7], [49]. Tỷ lệ gặp nôn và buồn nôn tâm lý dao động trong
khoảng từ 18% đến 57% số bệnh nhân, triệu chứng buồn nôn thường gặp nhiều hơn nôn
[36], [43]. Những bệnh nhân trẻ tuổi được cho là dễ gặp nôn và buồn nôn tâm lý hơn do
thường được chỉ định các phác đồ hóa chất có nguy cơ gây nôn cao hơn và có tâm lý lo
lắng nhiều hơn so với đối tượng bệnh nhân cao tuổi [45].
CINV bộc phát được định nghĩa là tình trạng nôn và/ hoặc buồn nôn vẫn xảy ra
trong vòng 5 ngày sau hóa trị liệu, mặc dù bệnh nhân đã được dự phòng đầy đủ theo các
khuyến cáo và/ hoặc bệnh nhân cần có các liệu pháp điều trị kiểm soát nôn (liệu pháp
giải cứu - rescue therapy) [50], [60].
CINV không đáp ứng với điều trị được định nghĩa là nôn và/hoặc buồn nôn xuất
hiện ở các chu kỳ hóa trị tiếp theo, mặc dù bệnh nhân đã được dự phòng phù hợp theo
khuyến cáo và/ hoặc liệu pháp điều trị kiểm soát nôn (rescue therapy) không đem lại
hiệu quả ở các chu kỳ trước đó [12].
1.1.2. Tần suất và ảnh hưởng của biến cố nôn và buồn nôn do hóa trị liệu trên bệnh
nhân
Nôn và buồn nôn là một tác dụng không mong muốn rất thường gặp của hóa trị
liệu, có thể ảnh hưởng tới 60% đến 80% số bệnh nhân ung thư [69]. Một nghiên cứu
được tiến hành tại 14 trung tâm ung bướu ở 6 quốc gia cho thấy có khoảng 35% số bệnh
nhân nghiên cứu gặp biến cố CINV cấp. Trong đó có hơn 35% số bệnh nhân có triệu
chứng buồn nôn cấp và hơn 10% gặp nôn cấp; biến cố CINV muộn xuất hiện ở khoảng
60% số bệnh nhân [33]. Nghiên cứu của Vazin và cộng sự tại Iran cho thấy có 74,4% số
bệnh nhân ung thư gặp phải biến cố nôn và buồn nôn, trong số đó, tỷ lệ gặp biến cố ở
pha cấp là 44,8% và pha muộn là 29,6% [73]. Về phân loại mức độ buồn nôn, có 25,6%
Từ đó, thông tin liên quan đến các kích thích hóa học được dẫn truyền đến não bộ, một
mặt kích thích trực tiếp gây ra phản xạ nôn (CINV cấp). Mặt khác, tín hiệu này làm tăng
nhạy cảm của dây thần kinh phế vị với các chất giải phóng khác từ tế bào
enterochromaffin hoặc các tế bào chết (ví dụ như chất P), làm kéo dài kích thích nôn,
gây ra CINV muộn. Kết quả từ các nghiên cứu đã đưa đến một giả thuyết cho rằng sự
có mặt của hóa chất, serotonin và thụ thể 5-HT3 đóng vai trò quan trọng trong cơ chế
của CINV cấp; tuy nhiên, lại có vai trò hạn chế trong CINV muộn [5].
Biến cố CINV muộn chủ yếu được kích hoạt bởi con đường dẫn truyền trung tâm
liên quan đến chất dẫn truyền thần kinh là chất P, thuộc nhóm các peptid loại tachykinin
ở động vật có vú [19]. Chất P được giải phóng ra từ các nơ-ron thần kinh khi có kích
5
thích bởi hóa chất và gắn vào các thụ thể neurokinin-1 (NK-1) ở vùng nhận cảm hóa học
(postrema) và vùng nhân bó đơn độc (nucleus tractus solitarii - NTS), qua đó gián tiếp
gây nên triệu chứng nôn [56]. Vai trò quan trọng của chất P trong dẫn truyền tín hiệu
nôn muộn được khẳng định qua bằng chứng về hiệu quả của các thuốc nhóm NK-1 RA
trong dự phòng CINV ở pha này [53]. Các thụ thể NK-1 cũng có mặt ở tận cùng dây
thần kinh phế vị hướng tâm nằm ở đường tiêu hóa, điều này cho thấy chất P giải phóng
ra từ các tế bào enterochromaffin khi gặp kích thích do hóa trị liệu có thể có vai trò đối
với pha cấp của CINV [30].
Hin
̀ h 1.1. Cơ chế gây nôn và buồn nôn của hóa chất
1.1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc xuất hiện biến cố nôn và buồn nôn do hóa trị
liệu trên bệnh nhân
Các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến việc xuất hiện biến cố nôn và buồn nôn do hóa
trị liệu có thể được phân chia thành hai nhóm: nhóm yếu tố thuộc về phác đồ điều trị
ung thư và nhóm yếu tố thuộc về bệnh nhân. Ngoài ra, một yếu tố khác liên quan trực
6
tại sọ não, đầu cổ, lồng ngực và khung chậu có mức nguy cơ thấp; còn xạ trị vùng ngực
và các chi có nguy cơ rất thấp [63]. Đối với phác đồ điều trị ung thư hóa xạ đồng thời,
dùng thuốc dự phòng nôn và buồn nôn theo nguy cơ của hóa chất, trừ khi nguy cơ gây
nôn của xạ trị cao hơn [49], [63].
7
1.1.4.2. Các yếu tố thuộc về bệnh nhân
Các yếu tố nguy cơ thuộc về bệnh nhân có thể ảnh hưởng đến tấn suất xuất hiện
và mức độ của biến cố CINV gồm có:
• Giới: những bệnh nhân nữ thường có nguy cơ gặp biến cố nôn và buồn nôn cao
hơn nhóm bệnh nhân nam, kết quả này tương đồng giữa các nghiên cứu [7], [66].
• Tuổi: các nghiên cứu đã chỉ ra rằng những bệnh nhân trẻ tuổi có nguy cơ gặp biến
cố nôn và buồn nôn cao hơn, tuy nhiên ngưỡng tuổi ảnh hưởng còn có sự khác biệt giữa
các nghiên cứu. Trong nghiên cứu của Hesketh và cộng sự năm 2009, các tác giả đã chỉ
ra rằng nhóm bệnh nhân có tuổi từ 65 trở lên có nguy cơ gặp biến cố thấp hơn so với
nhóm dưới 65 tuổi (p=0,021) [28]. Trong khi đó, kết quả nghiên cứu của Warr và cộng
sự lại cho thấy tuổi dưới 55 là một yếu tố nguy cơ làm xuất hiện nôn và buồn nôn
(p=0,006) [75].
• Tiền sử nôn và buồn nôn ở các chu kỳ hóa trị trước đó: việc kiểm soát tốt biến cố
nôn và buồn nôn trong chu kỳ hóa trị đầu tiên có liên quan đến việc làm giảm tần suất
gặp biến cố này trong các chu kỳ tiếp theo [17], [30], [46]. Hơn nữa, những bệnh nhân
từng gặp biến cố CINV có thể dẫn đến nôn và buồn nôn tâm lý (xảy ra trước khi điều trị
hóa chất) ở các chu kỳ sau đó [62].
• Thói quen sử dụng rượu bia: những bệnh nhân có thói quen dùng rượu thường
xuyên dường như ít có nguy cơ gặp biến cố nôn và buồn nôn hơn, có thể do sự giảm
nhạy cảm của vùng kích thụ thể hóa học (chemoreceptor trigger zone - CTZ) [5].
• Các yếu tố nguy cơ khác thuộc về bệnh nhân gồm có: tiền sử say tàu xe, tiền sử
nôn và buồn nôn khi mang thai ở những bệnh nhân nữ, tâm lý lo lắng trước khi truyền
hóa chất là những yếu tố có thể làm tăng nguy cơ xuất hiện biến cố nôn và buồn nôn
đánh giá theo bộ câu hỏi 6 lần, cách 12 giờ đánh giá một lần [57].
Tuy nhiên, các bằng chứng về khả năng ứng dụng, mức độ tin cậy và hiệu quả của
các thang đánh giá này còn hạn chế; đồng thời nhiều công cụ có nhiều câu hỏi và cần
nhiều thời gian để hoàn thành [45]. Điều này là những rào cản trong áp dụng các thang
phát hiện và đánh giá vào thực hành lâm sàng. Bên cạnh đó, các công cụ tự đánh giá
được cho là phù hợp nhất để đánh giá CINV, đặc biệt là trong pha muộn của CINV [44].
Hiê ̣p hô ̣i Đa quố c gia về Chăm sóc giảm nhẹ trong ung thư (Multinational
Association of Supportive Care in Cancer – MASCC) đã phát triển bô ̣ công cu ̣ đánh giá
nôn và buồn nôn (MAT - MASCC Antiemesis Tool) vào năm 2004, một bộ công cụ do
bệnh nhân tự đánh giá và đã được dịch sang hơn 10 thứ tiếng trên thế giới [44]. Bệnh
nhân ghi nhận lại biến cố nôn và buồn nôn và cho điểm mức độ của CINV trong khoảng
thời gian 5 ngày đầu sau hóa trị liệu [44]. Ưu điểm chính của MAT so với các bộ công
cụ khác đó là bệnh nhân chỉ cần hoàn thành bộ câu hỏi một lần duy nhất trong mỗi chu
kỳ hóa trị và vì thế không cần lặp lại đánh giá hàng ngày, giúp giảm nhẹ gánh nặng cho
9
cả bệnh nhân và nhân viên y tế [44]. Đồng thời, MAT là bộ công cụ đầu tiên tách riêng
hai pha cấp và muộn của CINV và do đó có thể hỗ trợ nhân viên y tế trong việc đánh
giá tổng thể hiệu quả của phác đồ dự phòng nôn do hóa trị [44]. Các báo cáo tại Hoa Kỳ
và Trung Quốc cho thấy mối tương quan chặt chẽ giữa ghi nhận trong sổ tự theo dõi
hàng ngày của bệnh nhân với bộ MAT về độ tin cậy và hiệu quả trong đánh giá CINV
[44], [70]. Một nghiên cứu khác tại Nhật Bản cũng cho thấy MAT là một bộ công cụ
hữu ích để đánh giá mức độ của biến cố CINV ở những bệnh nhân ung thư huyết học và
có mối tương quan giữa việc đánh giá mức độ theo bộ MAT và Tiêu chuẩn về thuật ngữ
chung cho các biến cố bất lợi của Viện ung thư quốc gia Hoa Kỳ (Common Terminology
Criteria for Adverse Events – CTCAE) [72].
1.2. Tổng quan về thuốc dự phòng nôn và buồn nôn do hóa trị liệu
1.2.1. Các nhóm thuốc được sử dụng trong dự phòng nôn và buồn nôn do hóa trị liệu
Nôn và buồn nôn do hóa trị liệu có thể được dự phòng hoàn toàn ở 70% đến 80%
trung bình trong trường hợp phác đồ dự phòng không có nhóm thuốc NK-1 RA [49].
1.2.1.2. Nhóm corticoid
Nhóm corticoid (hay glucocorticosteroid) là một phần không thể thiếu của các phác
đồ dự phòng CINV, cả trong pha cấp và muộn [5]. Cơ chế tác dụng của corticoid trong
dự phòng nôn và buồn nôn do hóa trị liệu chưa thực sự rõ ràng, tuy nhiên có một số giả
thuyết được đưa ra [16]. Đầu tiên, corticoid ức chế giải phóng các chất trung gian hóa
học trong đáp ứng viêm của cơ thể đối với hóa chất điều trị ung thư, qua đó làm giảm
mức độ nặng của CINV [16]. Thứ hai, corticoid tác động trực tiếp vào vùng nhân bó
đơn độc ở não có liên quan đến phản xạ nôn [16]. Và thứ ba, corticoid ức chế biểu hiệu
của serotonin, là một chất dẫn truyền thần kinh của các kích thích gây nôn [16]. Ngoài
ra, khi phối hợp với các thuốc chống nôn khác, corticoid có tác dụng làm tăng ngưỡng
đáp ứng nôn của cơ thể, do đó làm tăng cường tác dụng chống nôn [5].
Dexamethason là loại corticoid được sử dụng thường xuyên nhất, mặc dù chưa có
nghiên cứu nào chứng minh hiệu quả vượt trội của thuốc so với các corticoid khác trong
dự phòng CINV [5]. Các thử nghiệm lâm sàng tại Ý được thực hiện nhằm xác định mức
liều tối ưu trong dự phòng CINV của dexamethason đã cho thấy liều 20 mg/ngày cho
hiệu quả tốt hơn các mức liều 4 hoặc 8 mg và tương đương với liều 12 mg trong dự
phòng nôn cấp. Tuy nhiên, trong dự phòng buồn nôn cấp cũng như nôn và buồn nôn
muộn, hiệu quả giữa các mức liều này là tương đương nhau [34], [35].
1.2.1.3. Nhóm thuốc đối kháng thụ thể neurokinin-1
Nhóm NK-1 RA (bao gồm aprepitant, fosaprepitant, netupitant và rolapitant) là
một nhóm thuốc mới trong dự phòng nôn và buồn nôn do hóa trị liệu; aprepitant là thuốc
đầu tiên trong nhóm được Mỹ và châu Âu phê duyệt lưu hành vào năm 2003 [12]. Các
11
thuốc này có tác dụng ức chế chất P gắn vào thụ thể NK-1 ở não, một cơ chế khác trong
dự phòng nôn và buồn nôn so với nhóm 5-HT3 RA [12]. Một tổng quan hệ thống về vai
trò của các thuốc NK-1 RA trong dự phòng CINV cho thấy, nhóm thuốc này giúp cải
thiện hiệu quả kiểm soát nôn và buồn nôn trong cả pha cấp và muộn đối với những bệnh
Benzodiazepin: thường được dùng với mục đích điều trị lo âu căng thẳng và làm
giảm nguy cơ nôn xảy ra trước khi điều trị (anticipatory), đồng thời cũng có thể được
dùng ở các bệnh nhân có nôn bộc phát (breakthrough) và nôn không đáp ứng với điều
trị (refractory) [5].
1.2.2. Các khuyến cáo về phác đồ dự phòng nôn và buồn nôn do hóa trị liệu
Từ cuối những năm 1990, ba tổ chức ung thư trên thế giới là Hiệp hội đa quốc gia
về Chăm sóc hỗ trợ ung thư/ Hiệp hội Ung thư châu ÂU (MASCC/ ESMO), Hiệp hội
Ung thư lâm sàng Hoa Kỳ (ASCO) và Mạng lưới Ung thư quốc gia Hoa Kỳ (NCCN) đã
xây dựng các khuyến cáo về dự phòng nôn và buồn nôn do hóa trị liệu. Một số nghiên
cứu cho thấy việc dự phòng nôn và buồn nôn tuân thủ theo các hướng dẫn điều trị này
làm giảm nguy cơ gặp biến cố CINV trên bệnh nhân [4], [20]. Mặc dù có một vài sự
khác biệt, cả ba khuyến cáo trên đều đưa ra những sự lựa chọn tối ưu trong việc dự
phòng nôn và buồn nôn do hóa trị liệu [39].
Tại Việt Nam, hiện chưa có hướng dẫn điều trị nào về việc dự phòng nôn và buồn
nôn do hóa trị liệu. Năm 2013, Bộ Y tế đã ban hành hướng dẫn “Chăm sóc và điều trị
cho người bệnh có nôn và buồn nôn do hóa trị” theo “Hướng dẫn Quy trình kỹ thuật
khám bệnh, chữa bệnh chuyên ngành Ung bướu” [1].
Các phác đồ dự phòng nôn và buồn nôn do hóa trị liệu của bốn hướng dẫn trên
được trình bày tóm tắt trong phụ lục 3. Điểm khác biệt lớn nhất giữa hướng dẫn của Việt
Nam so với ba hướng dẫn trên thế giới đó là không có nhóm thuốc NK-1 RA trong dự
phòng CINV cho phác đồ hóa chất có nguy cơ gây nôn cao. Cụ thể là, phác đồ dự phòng
cho mức độ nguy cơ cao của hóa chất trong pha cấp theo Bộ Y tế là kết hợp nhóm 5HT3 RA và dexamethason. Trong khi đó, theo các hướng dẫn quốc tế, phác đồ dự phòng
gồm có ba thuốc (5-HT3 RA, dexamethason và NK-1 RA hoặc palonosetron,
dexamethason và olanzapin) hoặc bốn thuốc (5-HT3 RA, dexamethason, NK-1 RA và
olanzapin). Nguyên nhân của sự khác biệt này là do nhóm NK-1 RA chưa được cấp
phép lưu hành tại thị trường Việt Nam.
13
nhóm NK-1 RA có sự dao động lớn giữa các nước, từ 0% ở Trung Quốc đến 91% ở
Australia. Kết quả cũng tương tự đối với phác đồ hóa chất có nguy cơ trung bình. Trong
14
dự phòng CINV pha muộn, corticoid thường không được sử dụng trên các bệnh nhân
châu Á được điều trị bằng phác đồ hóa chất có nguy cơ cao và trung bình. Nghiên cứu
còn chỉ ra rằng giới tính nữ và tuổi dưới 50 là các yếu tố làm gia tăng nguy cơ xuất hiện
biến cố CINV trên bệnh nhân [76].
1.3.2. Các nghiên cứu trong nước
Tại Việt Nam, hiện chưa có nghiên cứu nào được thực hiện nhằm phân tích, đánh
giá hiệu quả của các phác đồ dự phòng nôn và buồn nôn do hóa trị liệu. Một số nghiên
cứu phân tích về đặc điểm sử dụng thuốc của bệnh nhân ung thư, trong đó các thuốc
chống nôn là các thuốc sử dụng đồng thời thường gặp với phác đồ hóa chất của bệnh
nhân.
Mới đây nhất, nghiên cứu của Ngô Thị Duyên và cộng sự đã ghi nhận tần suất gặp
các biến cố bất lợi và cách xử trí trên bệnh nhân ung thư đại trực tràng dùng 2 phác đồ
hóa chất là FOLFOX4 và XELOX, trong đó có biến cố nôn và buồn nôn. Hai phác đồ
hóa chất được sử dụng trên bệnh nhân đều có nguy cơ gây nôn trung bình, phác đồ
FOLFOX4 được truyền trong 2 ngày còn phác đồ XELOX có 1 ngày truyền hóa chất.
Kết quả của nghiên cứu cho thấy tỷ lệ bệnh nhân gặp biến cố buồn nôn của phác đồ
FOLFOX4 là 48,7%, và 54,5% số bệnh nhân dùng phác đồ XELOX gặp buồn nôn. Tỷ
lệ bệnh nhân có nôn ở cả 2 phác đồ đều ở mức thấp, 5,3% đối với phác đồ FOLFOX4
và 6,0% đối với phác đồ XELOX. Mức độ nặng của cả hai biến cố chủ yếu ở độ 1 trong
phân loại theo CTCAE. Về phác đồ dự phòng nôn và buồn nôn, tất cả các bệnh nhân
dùng hóa chất FOLFOX4 đều được dự phòng trong 2 ngày, trong đó ngày 1 dùng
ondansetron kết hợp với methylprednisolon và ngày 2 dùng ondansetron. Đối với phác
đồ XELOX, các bệnh nhân đều được dự phòng vào ngày truyền oxaliplatin bằng
granisetron hoặc ondansetron kết hợp với methylprednisolon. Tác giả đưa ra kết luận tỷ
lệ buồn nôn là khá cao ở cả hai phác đồ hóa chất và cần cân nhắc dự phòng pha muộn
phỏng vấn bệnh nhân nghiên cứu.
2.2.2. Phương pháp lấy mẫu
Phương pháp lấy mẫu thuận tiện.
2.2.3. Quy trình nghiên cứu
Sơ đồ tóm tắt quy trình nghiên cứu được trình bày ở Hình 2.1.
16