BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN MAI ANH
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ
HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRONG LĨNH VỰC
ĐIỆN ẢNH TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Định hướng ứng dụng
HÀ NỘI - 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN MAI ANH
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ
HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRONG LĨNH VỰC
ĐIỆN ẢNH TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật Kinh tế
cứu và hoàn thành luận văn thạc sĩ.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới gia đình - những người đã luôn ở bên cổ vũ,
tiếp thêm sức mạnh tinh thần cho tôi; cảm ơn cơ quan đã tạo điều kiện thuận lợi
trong công việc để tôi có thể dành thời gian cũng như tâm huyết cho công trình
nghiên cứu của mình.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn thầy cô trong Hội đồng chấm luận văn
đã cho tôi những góp ý quý báu để hoàn chỉnh luận văn này.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Mai Anh
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
LCT
: Luật Cạnh tranh
HCCT
TTKT
Megastar
CGV
Lotte
Bộ VHTT&DL
Sở VHTT
: Hạn chế cạnh tranh
: Tập trung kinh tế
: Công ty TNHH Truyền thông Megastar
: Công ty TNHH CJ CGV Việt Nam
: Công ty TNHH Lotte Cinema Việt Nam
1.3. Khái quát pháp luật về hành vi hạn chế cạnh tranh áp dụng trong lĩnh vực
điện ảnh tại Việt Nam........................................................................................ 19
1.3.1. Sự hình thành và phát triển của pháp luật về hành vi hạn chế cạnh tranh áp
dụng trong lĩnh vực điện ảnh tại Việt Nam...…………………………………...19
1.3.2. Nội dung pháp luật về hành vi hạn chế cạnh tranh áp dụng trong lĩnh vực
điện ảnh tại Việt Nam…………………………………………………………...21
Chương 2: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG ĐIỆN ẢNH VÀ THỰC TRẠNG
PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HÀNH VI HẠN CHẾ CẠNH TRANHÁP DỤNG
TRONG LĨNH VỰC ĐIỆN ẢNH TẠI VIỆT NAM ........................................... 23
2.1. Tổng quan về thị trường điện ảnh Việt Nam ............................................... 23
2.1.1. Thị trường sản xuất phim ......................................................................... 23
2.1.2. Thị trường phát hành phim ...................................................................... 23
2.1.3. Thị trường phổ biến phim ........................................................................ 24
2.2. Thực trạng pháp luật điều chỉnh hành vi hạn chế cạnh tranh áp dụng trong
lĩnh vực điện ảnh tại Việt Nam .......................................................................... 26
2.2.1. Thực trạng pháp luật về xác định sức mạnh thị trường của doanh nghiệp
trong lĩnh vực điện ảnh ...................................................................................... 26
2.2.2. Thực trạng pháp luật về kiểm soát thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong lĩnh
vực điện ảnh……………………………………………………………………..31
2.2.3. Thực trạng pháp luật về kiểm soát lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc
quyền trong lĩnh vực điện ảnh…………………………………………………..…45
Chương 3:GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU
QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ HẠN CHẾ CẠNH TRANH ÁP DỤNG
TRONG LĨNH VỰC ĐIỆN ẢNH TẠI VIỆT NAM........................................... 66
3.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật về hạn chế cạnh tranh áp dụng trong lĩnh vực
điện ảnh…………………………………………………………………………...66
3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực điện ảnh. 67
3.2.1.Ban hành Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Cạnh tranh năm 2018 ….…67
Trong khoảng 4 đến 5 năm trở lại đây, tốc độ tăng trưởng doanh thu của thị
trường điện ảnh Việt Nam đạt 35-40%. Theo đó, tổng doanh thu từ các phòng vé năm
2014 khoảng 83 triệu USD và đến năm 2015 đã là 120 triệu USD1. Theo ước tính
tổng doanh thu phòng vé năm 2017 của Việt Nam là 3.250 tỷ, tăng 16% so với năm
2016 (2.800 tỷ)2. Năm 2018, ước tính tổng doanh thu đạt 3.500 tỷ đồng.
Sự gia tăng doanh thu phòng vé tỷ lệ thuận với sự phát triển số rạp trong nước.
Đến cuối năm 2017 ở Việt Nam có 760 phòng chiếu, tăng 32% so với năm 2016trong đó 43% số rạp là của CGV3.
Ngày 15/11/2017, tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khoá XIV thảo luận tại hội
trường về dự thảo LCT sửa đổi, đại biểu Quốc hội Nguyễn Đức Kiên - Đoàn Sóc
Trăng và đại biểu Quốc hội Nguyễn Sỹ Cương - Đoàn Ninh Thuận trên nghị trường
đã nhắc tới thị trường phim Việt Nam như một ví dụ điển hình của việc cạnh tranh
giữa các doanh nghiệp nội và doanh nghiệp ngoại, trong đó doanh nghiệp nội bị chèn
ép, thất thế ngay trên sân nhà. Nhiều đại biểu đã bức xúc về câu chuyện doanh nghiệp
CGV vi phạm luật cạnh tranh, ép các doanh nghiệp Việt về tỷ lệ ăn chia khi chiếu
phim Việt tại hệ thống rạp của mình.
Về mặt lý thuyết, sự cạnh tranh giữa các cơ sở sản xuất, phát hành, phổ biến
phim trong nước và các cơ sở liên doanh nước ngoài có thể góp phần nâng cao tính
1
Hoài Thu (2016), “Điện ảnh Việt và cuộc chiến dành miếng bánh trăm triệu USD”, Báo Điện tử Vnexpress,
tại địa chỉ: ngày truy cập 15/4/2018.
2
Ân Nguyễn (2017), “Phòng vé Việt bội thu năm 2017”, Báo Điện tử Vnexpress, tại địa chỉ:
ngày truy cập 15/4/2018.
3
Ân Nguyễn, tlđd chú thích 2.
2
soát TTKT; phân tích, đánh giá thực trạng quy định pháp luật về kiểm soát TTKT và
thực tiễn áp dụng pháp luật về kiểm soát TTKT ở Việt Nam hiện hành và đề xuất các
phương hướng, hoàn thiện pháp luật về kiểm soát TTKT ở Việt Nam.
3
Tuy nhiên, các công trình này chỉ nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực
trạng thi hành pháp luật về từng hành vi HCCT nói riêng mà chưa có công trình nào
nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện về hành vi HCCT và đặc biệt là HCCT trong
lĩnh vực điện ảnh.
Thực trạng pháp luật về HCCT trong lĩnh vực điện ảnh là một vấn đề mới tại
Việt Nam. Chưa có nhiều bài báo cũng như những công trình nghiên cứu về vấn đề
này cũng như chưa có một công trình nghiên cứu khoa học chuyên sâu về thực trạng
pháp luật về HCCT trong lĩnh vực điện ảnh tại Việt Nam. Chưa có các giáo trình,
sách chuyên khảo về thực trạng pháp luật về HCCT trong lĩnh vực điện ảnh mà chỉ có
những giáo trình, sách chuyên khảo về thực trạng pháp áp dụng pháp luật về cạnh
tranh nói chung hoặc về các lĩnh vực khác như nhượng quyền thương mại, đấu thầu,..
Cho đến nay, đây là đề tài luận văn thạc sĩ đầu tiên nghiên cứu “Thực trạng
pháp luật về hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực điện ảnh tại Việt Nam”. Để hoàn
thành đề tài này, tôi đã tham khảo nhiều luận văn, luận án của các lĩnh vực khác cũng
như sưu tầm nhiều sách, báo cáo của các cơ quan Nhà nước, doanh nghiệp, hiệp hội,
các thông tin trên mạng Internet,…
3. Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn
Dựa trên cơ sở kế thừa những thành tựu nghiên cứu của các công trình khoa học
đã công bố, Luận văn với đề tài “Thực trạng pháp luật về hạn chế cạnh tranh trong
lĩnh vực điện ảnh tại Việt Nam” có đối tượng và phạm vi nghiên cứu cụ thể như sau:
- Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là:
+ Hệ thống các quan điểm, các quy định của LCT năm 2018 về hành vi HCCT
các quy định của pháp luật về hành vi làm HCCTáp dụng trong lĩnh vực điện ảnh. Với
nhiệm vụ này, Luận văn phân tích các quy định của LCT, Luật Điện ảnh; trên cơ sở đó
chỉ ra một số trường hợp có dấu hiệu vi phạm trên thực tế, những tồn tại, hạn chế.
- Thứ ba, đưa ra định hướng và các giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật và
nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về hành vi HCCT áp dụng trong lĩnh vực điện
ảnh tại Việt Nam.
5. Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Đề làm rõ các nhiệm vụ nghiên cứu mà đề tài đặt ra, Luận văn sử dụng nhiều
phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau, như: phương pháp mô tả, tổng hợp,
phân tích, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, kết hợp nghiên cứu lý luận
với thực tiễn. Các phương pháp nghiên cứu trong Luận văn được thực hiện trên nền
tảng của phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác Lênin; trên cơ sở các quan điểm, đường lối về chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của
Đảng Cộng sản Việt Nam. Cụ thể:
- Phương pháp mô tả, tổng hợp, bình luận, phương pháp lịch sử được sử dụng
trong chương 1 để nghiên cứu những vấn đề chung về HCCT và pháp luật về hành vi
HCCTáp dụng trong lĩnh vực điện ảnh tại Việt Nam.
5
- Phương pháp so sánh, đối chiếu, thống kê và phân tích được sử dụng trong
chương 2 để nghiên cứu thực trạng pháp luật về hành vi HCCT đặt trong mối liên hệ
thực tiễn áp dụng trong thị trường điện ảnh Việt Nam những năm gần đây.
- Phương pháp tổng hợp, quy nạp, diễn giải được sử dụng trong chương 3 để
nghiên cứu xác lập định hướng và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp
luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về hành vi HCCTáp dụng trong hoạt
động điện ảnh tại Việt Nam.
Trong số các phương pháp trên, phương pháp phân tích và so sánh được sử
dụng chủ yếu và xuyên suốt hầu hết nội dung của luận văn, thông qua đó làm rõ các
nội dung cần nghiên cứu một cách thuyết phục, có cơ sở lý luận và thực tiễn.
1.1. Khái quát về lĩnh vực điện ảnh tại Việt Nam
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của điện ảnh
1.1.1.1. Khái niệm
Điện ảnh là một ngành công nghiệp giải trí nằm trong công nghiệp văn hóa.
Tác phẩm điện ảnh, vừa chứa đựng những nội dung về tư tưởng, nghệ thuật, vừa chứa
đựng những nội dung về tuyên truyền, giáo dục; vừa chứa đựng giá trị kinh tế, vừa
chứa đựng giá trị văn hóa, xã hội; mang lại những tác động mạnh mẽ đến tư tưởng,
tình cảm của người xem nói riêng và đời sống xã hội nói chung.
Điện ảnh là một khái niệm lớn bao gồm các bộ phim tạo bởi những khung hình
chuyển động (phim); kỹ thuật ghi lại hình ảnh, âm thanh và ánh sáng để tạo thành một
bộ phim (kỹ thuật điện ảnh); hình thức nghệ thuật liên quan đến việc tạo ra các bộ
phim và cuối cùng ngành công nghiệp và thương mại liên quan đến các công đoạn
làm, quảng bá và phân phối phim ảnh (công nghiệp điện ảnh).
Trong tiếngViệt, điện ảnh đôi khi còn được gọi là Xi-nê, xuất phát
từ "cinéma" (điện ảnh trong tiếng Pháp) vốn là từ rút gọn của "cinématographe".
"Cinématographe" (xuất phát từ tiếng Hy Lạp κίνημα - kínēma có nghĩa là chuyển
động, còn γράφειν - gráphein có nghĩa là ghi lại) là cái tên được Léon Bouly đặt cho
chiếc máy ghi lại hình ảnh của ông trong đăng ký bằng sáng chế số 219 350
năm 1892, một trong những mốc sự kiện khai sinh ra ngành điện ảnh.
Khi mới được phát minh, điện ảnh chỉ được coi là các bộ phim ghi lại cảnh
sinh hoạt đời thường, nhưng chỉ ít lâu sau, các bộ phim đã được tạo ra với những ý đồ
văn hóa nhất định và nhanh chóng trở thành một loại hình nghệ thuật quan trọng.
Điện ảnh cũng trở thành một hình thức giải trí không thể thiếu trong đời sống thường
nhật, đôi khi còn phát triển thành những hiện tượng văn hóa hoặc được sử dụng như
các phương tiện tuyên truyền.4
4
truy cập 22/6/2018
tiếp thu tinh hoa văn hoá của các dân tộc khác. Có như vậy, sản phẩm điện ảnh mới
truyền tải được được tính nhân văn, tính giải trí, mới được khán giả trong nước và
quốc tế đón nhận.
5
6
Khoản 2, khoản 3 Luật Điện ảnh năm 2006.
Khoản 1 Điều 4 Luật Điện ảnh năm 2006.
8
Sản phẩm điện ảnh là sản phẩm sáng tạo, duy nhất, không trùng lặp. Mỗi sản
phẩm điện ảnh là một sản phẩm sáng tạo duy nhất và không lặp lại, được tạo ra bởi
nhiều chủ thể sáng tạo (biên kịch, đạo diễn, thiết kế mỹ thuật, hóa trang, quay phim,
dựng phim, thiết kế âm thanh, thiết kế ánh sáng, diễn viên). Do đặc thù của quá trình
sản xuất, từ khâu sáng tác kịch bản đến khâu sản xuất, nên mỗi tác phẩm điện ảnh đều
là một sản phẩm của một tập thể, là sản phẩm duy nhất và không trùng lặp.
Sản phẩm điện ảnh có tuổi thọ kinh doanh ngắn. Thông thường các sản phẩm
điện ảnh (phim) sau khi sản xuất sẽ được chiếu trên màn ảnh rộng tại các rạp chiếu
phim trong một khoảng thời gian nhất định. Ở Việt Nam, thời gian chiếu phim tại rạp
ở các thành phố lớn (vòng 1) thường là 30 ngày đến 45 ngày, sau đó phim được
chuyển đến chiếu tại các địa phương khác để tận thu (vòng 2) cũng trong khoảng 30
đến 45 ngày. Sau khi kết thúc các vòng chiếu tại rạp, phim có thể được bán cho các
kênh truyền hình trả tiền (truyền hình cáp), hoặc chuyển sang đĩa DVD để bán. Và
cuối cùng sau khoảng 02 năm, phim có thể được bán cho các đài truyền hình để chiếu
trên các kênh truyền hình miễn phí.Như vậy, có thể thấy, tuổi thọ kinh doanh của một
bộ phim chỉ khoảng 02 năm7.
Thứ hai, điện ảnh là loại hình nghệ thuật gắn liền với hoạt động bảo hộ quyền
ứng được bất kỳ ý tưởng thể hiện sáng tạo nào của các nghệ sỹ và những nhà làm
phim, tạo ra những bước phát triển mới, năng động, gắn kết hơn của công nghiệp điện
ảnh. Những tác phẩm điện ảnh được sản xuất bằng công nghệ lạc hậu, có chất lượng
kỹ thuật kém hoặc không tương xứng với tiêu chuẩn quốc tế sẽ không được khán giả
trong và ngoài nước chấp nhận.
Thứ tư, điện ảnh là loại hình nghệ thuật mang tính quốc tế cao.
Về sản xuất phim: Hợp tác sản xuất phim giữa các nước, giữa các hãng, hoặc
nước này cung cấp dịch vụ sản xuất phim cho nước khác, hãng này cung cấp dịch vụ
sản xuất phim cho hãng khác, ngày nay đã trở thành phổ biến. Vì thế đa số sản phẩm
điện ảnh hiện nay đều có sự tham gia của rất nhiều quốc gia khác nhau. Đặc điểm này
của điện ảnh cũng dẫn đến sự cạnh tranh giữa các sản phẩm điện ảnh trong nước với
các sản phẩm điện ảnh nước ngoài; giữa các sản phẩm điện ảnh nước ngoài với nhau
hoặc giữa các sản phản điện ảnh trong nước với nhaunhằm thu hút khán giả. Sự cạnh
tranh giữa các sản phẩm điện ảnh này chính là động lực thúc đẩy sản xuất ra các bộ
phim hay, có chất lượng.
Về phát hành, phổ biến phim: Ngày nay, không một nhà sản xuất nào sản xuất
phim chỉ để phục vụ cho khán giả của nước mình. Bất kỳ một sản phẩm điện ảnh nào
cũng có xu hướng giới thiệu, phát hành ra các nước khác thông qua các hệ thống phát
hành, các liên hoan phim/chợ phim quốc tế. Một sản phẩm điện ảnh thực sự xuất sắc
và mang lại hiệu quả kinh tế-xã hội cần phải nhận được sự chấp nhận của khán giả
trên khắp thế giới, chứ không phải chỉ ở một quốc gia riêng biệt. Trên thị trường,
ngoài các công ty phát hành, phổ biến phim của Việt Nam đã xuất hiện các công ty
phát hành, phổ biến phim có vốn nước ngoài.Các công ty nước ngoài hoạt động ngày
càng mạnh mẽ, chiếm thị phần chiếu phim lớn tại Việt Nam.
10
Ngoài ra, mỗi sản phẩm điện ảnh đều phải sử dụng ngôn ngữ riêng của quốc
gia, dân tộc để truyền tải nội dung. Tuy nhiên, với đặc tính quốc tế vốn có, trong quá
Khoản 6 Điều 4 Luật Điện ảnh năm 2006.
Khoản 7 Điều 4 Luật Điện ảnh số năm 2006.
10
Vũ Xuân Quang - Trần Thanh Tùng (2009), Thuật ngữ Điện ảnh - Truyền hình,Hội Điện ảnh xuất bản, Hà
Nội, tr.273.
9
11
cảnh quay, hướng dẫn diễn viên, hướng dẫn kỹ thuật viên và quay phim, ghi âm, thu
thanh đồng bộ, in tráng phim (nếu có).
+ Hậu kỳ: Là giai đoạn được thực hiện sau khi hoàn thành công đoạn quay
phim (tiền kỳ) bao gồm: ráp dựng; điều chỉnh độ sáng, lồng tiếng; hòa âm; ghép nhạc;
bổ sung hiệu ứng, kỹ xảo âm thanh; thực hiện các kỹ xảo hình ảnh; trình bày phụ đề;
chiếu thử. Trước đây, hầu hết phim Việt Nam thường không sử dụng các kỹ xảo hình
ảnh và kỹ xảo âm thanh, không sử dụng kỹ thuật thu âm đồng bộ. Ngày nay, với công
nghệ kỹ thuật số hiện nay, hầu hết các công việc của công đoạn này đều được thực
hiện trên các bàn dựng kỹ thuật số hiện đại.
1.1.2.2. Phát hành phim
Là công đoạn các nhà sản xuất, sau khi hoàn thành phim, ký kết hợp đồng (bao
gồm cả bản quyền, phân chia khu vực phát hành) với các nhà phát hành để bán bản
quyền chiếu phim những bộ phim do mình sản xuất11.
Để được phép phát hành phim, các nhà phát hành phải tiến hành các thủ tục
đăng ký phân loại phim theo độ tuổi, xin cấp giấy phép phổ biến phim ở từng quốc
gia. Để việc phát hành phim có hiệu quả, các nhà phát hành sẽ tiến hành các công
việc nghiên cứu thị trường, quảng cáo, ký kết hợp đồng với các chủ rạp để chiếu
phim. Các nhà phát hành có thể phát hành phim trên hệ thống các rạp chiếu phim, hệ
thống video gia đình (DVD), trên truyền hình, trên internet và các phương tiện thông
tin khác. Trong thời đại công nghiệp số và sự bùng phát của các phương tiện thông
các điều tra xã hội học về nhu cầu, thị hiếu và đối tượng khán giả đến xem phim để
phục vụ cho việc định hướng sáng tác, sản xuất phim.
Theo quy định của Luật Điện ảnh năm 2006: “Phổ biến phim là việc đưa phim
đến công chúng thông qua chiếu phim, phát sóng trên truyền hình, đưa lên mạng
Internet và phương tiện nghe nhìn khác”14.
1.2.Khái quát về hành vi hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực điện ảnh
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm hành vi hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực điện ảnh
1.2.1.1. Khái niệm hành vi hạn chế cạnh tranh
Hành vi HCCT là những hành vi gây tác động tiêu cực đến môi trường cạnh
tranh, loại trừ, làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường. Do đó, hành vi
HCCT có hại tới sự phát triển của nền kinh tế và làm giảm phúc lợi xã hội.
LCT năm 2004 quy định:“Hành vi hạn chế cạnh tranh là hành vi của doanh
nghiệp làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường, bao gồm hành vi thoả
thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc
quyền và tập trung kinh tế”15.
Như vậy, theo khái niệm trên, hành vi HCCT bao gồm bốn hình thức sau:
Thỏa thuận HCCT; lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền và
TTKT.
Tuy nhiên, việc coi hành vi TTKT là một hành vi HCCT là chưa phù hợp do
không phản ánh đúng bản chất và ảnh hưởng của hành vi này đến môi trường cạnh
tranh.TTKT là những hoạt động như mua bán doanh nghiệp, chuyển nhượng, tái cơ
cấu, tái cấu trúc và quyền sở hữu của doanh nghiệp… TTKT thực chất là hoạt động
giành quyền kiểm soát, chi phối doanh nghiệp hoặc bộ phận doanh nghiệp, hoặc
14
15
Khoản 8 Điều 4 Luật Điện ảnh năm 2006.
Khoản 3 Điều 3 Luật cạnh tranh số 27/2004/QH11 ngày 03/12/2004.
trong nước, các doanh nghiệp nước ngoài có sức mạnh thị trường và chiếm thị phần
đáng kể (Ví dụ CGV, Lotte,...). Thực tế, các doanh nghiệp thực hiện hành vi HCCT
16
Bộ Công thương (2017), Báo cáo Tổng kết 12 năm thi hành Luật Cạnh tranh, Hà Nội, tr 12.
Khoản 2 Điều 3 Luật Cạnh tranh số 23/2018/QH14.
18
Khoản 3 Điều 3 Luật Cạnh tranh năm 2018.
17
14
trong lĩnh vực điện ảnh tại Việt Nam thường là nhà phát hành phim có vốn nước
ngoài, có vị trí thống lĩnh thị trường với số lượng rạp lớn.
Thứ hai, các hành vi được thực hiện nhằm mục tiêu làm biến dạng cạnh tranh,
sự biến dạng của cạnh tranh có thể là làm thay đổi cấu trúc thị trường, thay đổi tương
quan cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, loại trừ đối thủ, ngăn cản đối thủ tiềm năng
để làm giảm đi sức ép cạnh tranh, cản trở cạnh tranh và có thể dẫn tới triệt tiêu cạnh
tranh hiện có hoặc sẽ có, bóc lột khách hàng... Các hành vi HCCT được thực hiện
trong lĩnh vực điện ảnh sẽ làm cạnh tranh trong lĩnh vực này bị cản trở, bị giảm đi sức
ép cạnh tranh. Điện ảnh đang ngày càng phát triển, số lượng khán giả ra rạp ngày
càng cao. Vấn đề khuyến khích cạnh tranh lành mạnh là rất quan trọng, điều đó góp
phần tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đang tham gia trên thị trường hoặc thúc đẩy
các doanh nghiệp mới tham gia vào thị trường điện ảnh, tạo môi trường kinh doanh
lành mạnh, bình đẳng hơn. Điều này sẽ có lợi cho cả doanh nghiệp tham gia, khán giả
và cho cả nền kinh tế.
Thứ ba, hành vi HCCT trong lĩnh vực điện ảnh có thể tồn tại dưới các hình
thức: thỏa thuận HCCT, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường và lạm dụng vị trí độc
hàng hoá, dịch vụ;
4. Thoả thuận hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư;
5. Thoả thuận áp đặt cho doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp đồng mua,
bán hàng hoá, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không
liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng;
6. Thoả thuận ngăn cản, kìm hãm, không cho doanh nghiệp khác tham gia thị
trường hoặc phát triển kinh doanh;
7. Thoả thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các
bên của thoả thuận;
8. Thông đồng để một hoặc các bên của thoả thuận thắng thầu trong việc cung
cấp hàng hoá, cung ứng dịch vụ”.
Cách tiếp cận quy định hành vi thỏa thuận HCCT theo cách liệt kê, mô tả biểu
hiện bên ngoài của hành vi một cách cứng nhắc là không phù hợp, không phản ánh
đúng bản chất của hành vi, đồng thời, có thể dẫn đến bỏ sót các hành vi phản cạnh
tranh diễn ra trên thực tế nhưng chưa được mô tả, liệt kê trong Luật, chẳng hạn, thỏa
thuận ấn định giá sàn, giá trần; thỏa thuận tăng giá hoặc giảm giá (không chỉ ở mức
cụ thể) hoặc thỏa thuận duy trì giá bán lại cho bên thứ ba…19
Khoản 4 Điều 3 LCTnăm 2018 quy định: “Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là
thoả thuận giữa các bên dưới mọi hình thức gây tác động hoặc có khả năng gây tác
động hạn chế cạnh tranh”.
So với LCT năm 2004, ngoài 08 thỏa thuận HCCT đã được liệt kê, LCT năm
2018 bổ sung thêm một số thỏa thuận HCCT20:
19
20
Bộ Công thương (2017), Báo cáo đánh giá tác động của dự án Luật Cạnh tranh (sửa đổi), tr 3.
Điều 11 Luật Cạnh tranh năm 2018.
16
Kiểm soát và xử lý các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc
quyền là một trong những nhiệm vụ quan trọng của pháp luật cạnh tranh nhằm bảo
vệ môi trường cạnh tranh lành mạnh, không phân biệt đối xử giữa các chủ thể tham
gia. Đối tượng của hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền là
17
những doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp đang có vị trí thống lĩnh thị trường, doanh
nghiệp có vị trí độc quyền trên thị trường.
LCT năm 2004 và các văn bản hướng dẫn thi hành chưa đưa ra khái niệm
hoặc các tiêu chí xác định hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc
quyền mà liệt kê cụ thể các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền để
HCCT. Điều này khiến doanh nghiệp lúng túng đồng thời có thể dẫn đến nhiều cách
hiểu khác nhau, từ đó dẫn tới thiếu định hướng, thậm chí nhầm lẫn trong quá trình
thực thi. Việc thiếu một định nghĩa chung hoặc các tiêu chí đó đồng thời dẫn tới việc
phân nhóm, liệt kê các hành vi chưa rõ ràng và chưa hợp lý. Ngoài ra, quy định về
hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, độc quyền chưa thể hiện được bản chất, mục tiêu
phản cạnh tranh của hành vi. Bản chất của cạnh tranh thường được xem xét dưới góc
độ kinh tế. Quy định theo cách liệt kê, mô tả sẽ hành vi dẫn đến không phản ánh đúng
bản chất, đồng thời có thể không bao quát hết hoặc bỏ sót các hành vi có bản chất
HCCT.Theo đó, chỉ khi doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị
trường, doanh nghiệp có vị trí độc quyền thực hiện những hành vi được quy định tại
Điều 13 và Điều 14 LCT năm 2004 mới bị coi là lạm dụng vị trí thống lĩnh thị
trường, vị trí độc quyền để HCCT.
Theo Bộ quy tắc về cạnh tranh của Liên Hợp Quốc được thông qua ngày
22/4/1980 và Luật mẫu về cạnh tranh của UNCTAD, “Hành vi lạm dụng vị trí thống
lĩnh và vị trí độc quyền để HCCT là hành vi HCCT mà doanh nghiệp có vị trí thống
lĩnh hoặc độc quyền sử dụng để duy trì hay tăng cường vị trí của nó trên thị trường
bằng cách hạn chế khả năng gia nhập thị trường hoặc hạn chế quá mức cạnh
quan trọng của doanh nghiệp trong cung ứng sản phẩm trên thị trường liên quan bởi
họ là nguồn cung hoặc nguồn cầu chủ yếu của thị trường, khi số lượng rạp của CGV
ngày càng lớn và có mặt tại nhiều tỉnh thành, chất lượng phòng chiếu hơn hẳn so với
các doanh nghiệp trong nước, hơn nữa thường nằm ở vị trí đắc địa. Vì thế, quyền lựa
chọn của khán giả đã bị hạn chế, nhu cầu của khách hàng bị lệ thuộc vào khả năng
đáp ứng của doanh nghiệp.Các doanh nghiệp có vốn nước ngoài này có cơ hội để
bóc lột khán giả bằng cách đặt ra những điều kiện giao dịch không công bằng hoặc
chèn ép các doanh nghiệp sản xuất, phát hành phim khác phải chấp nhận điều kiện
của mình thì phim mới đến được với khán giả.
Thứ hai, doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường,
doanh nghiệp độc quyền đã hoặc đang thực hiện hành vi HCCT được quy định trong
LCT. Căn cứ vào các quy định hiện hành, doanh nghiệp thống lĩnh thị trường hoặc
độc quyền trong lĩnh vực điện ảnh không thể bị quy kết là đã có hành vi lạm dụng
nếu thực hiện những hành vi không thuộc những trường hợp được liệt kê tại Điều 27
LCTnăm 2018.
Thứ ba, hậu quả của hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường,vị trí độc
quyền là loại trừ, làm giảm, sai lệch hoặc cản trở cạnh tranh trên thị trường. Đặc
trưng này cho thấy tác hại của hành vi lạm dụng đối với thị trường. Doanh nghiệp