Chế định mang thai hộ theo luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và tình hình thực hiện trên địa bàn thành phố hà nội - Pdf 56

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG LINH

ĐỀ TÀI
CHẾ ĐỊNH MANG THAI HỘ THEO LUẬT HÔN NHÂN
VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014 VÀ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
(Định hướng Nghiên cứu)

HÀ NỘI – 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG LINH

ĐỀ TÀI
CHẾ ĐỊNH MANG THAI HỘ THEO LUẬT HÔN NHÂN
VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014 VÀ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng
tôi.
Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình
nào khác. Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguôn gốc rõ ràng, được
trích dẫn đúng theo quy định.
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của luận văn này.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Thị Phương Linh


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

: Luật HNGĐ 2014

Nghị định số 10/2015/NĐ-CP quy định về sinh con : Nghị định số 10/2015/NĐ-CP
bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện
mang thai hộ vì mục đích nhân đạo
Bộ luật Dân sự năm 2015

: BLDS 2015


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1.


CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHẾ ĐỊNH
MANG THAI HỘ VÌ MỤC ĐÍCH NHÂN ĐẠO ....................................... 6
1.1. Khái quát chung về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo ............... 6
1.1.1.

Khái niệm mang thai hộ vì mục đích nhân đạo .......................... 6

1.1.2.

Phân biệt giữa mang thai hộ vì mục đích nhân đạo với mang thai

hộ vì mục đích thương mại ........................................................................ 9
1.2. Ý nghĩa của chế định mang thai hộ vì mục đích nhân đạo........... 11
1.2.1.

Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo góp phần đảm bảo quyền con

người……………………………………………………………………………11
1.2.2.

Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là căn cứ giúp gia đình thực

hiện tốt chức năng sinh đẻ ...................................................................... 12
1.2.3.

Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo góp phần làm lành mạnh các

quan hệ hôn nhân và gia đình, ổn định đời sống xã hội ......................... 13




đạo………………………………………………………………………………35
2.2.2.

Quyền và nghĩa vụ của bên mang thai hộ vì mục đích nhân

đạo………………………………………………………………………………42
2.3. Xác định cha, mẹ, con trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích
nhân đạo ..................................................................................................... 46
2.4. Thủ tục thực hiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo ................ 49
2.5. Giải quyết tranh chấp và xử lý hành vi vi phạm liên quan đến mang
thai hộ vì mục đích nhân đạo ................................................................... 51
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 .............................................................................. 55


CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ MANG THAI
HỘ VÌ MỤC ĐÍCH NHÂN ĐẠO TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ
NỘI………………………………………………………………………….56
3.1. Nhận xét chung về tình hình thực hiện pháp luật về mang thai hộ vì
mục đích nhân đạo trên địa bàn thành phố Hà Nội ..................................... 56
3.2. Một số vướng mắc, bất cập trong việc thực hiện pháp luật về mang thai
hộ vì mục đích nhân đạo ............................................................................. 59
3.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về mang thai hộ vì
mục đích nhân đạo ...................................................................................... 68
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 .............................................................................. 78
KẾT LUẬN .................................................................................................... 80


1


còn mới, hết sức phức tạp, gây nhiều ý kiến trái chiều và văn bản hướng dẫn
Lan Anh (2018), “Vô sinh ở Việt Nam lên đến mức đáng báo động”, ngày 3/2/2018.
1


2
còn thiếu nên việc áp dụng quy định này vào thực tiễn còn gặp nhiều vướng
mắc, bất cập, thiếu tính thống nhất.
Xuất phát từ những lý do trên, người viết đã lựa chọn đề tài: “Chế định
mang thai hộ theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và tình hình thực hiện
trên địa bàn thành phố Hà Nội.”. Luận văn phân tích nhiều khía cạnh của vấn
đề mang thai hộ, tập trung nghiên cứu, tổng hợp và phân tích một cách chuyên
sâu và toàn diện các vấn đề pháp lý về mang thai hộ nhằm tìm ra những hạn
chế, vướng mắc và đưa ra phương hướng hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.
2.

TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

Vấn đề mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là vấn đề mới được quy định
trong Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, vì thế mới chỉ được nghiên cứu một
cách khái quát trong một số bài viết như: bài viết của tác giả Nguyễn Quế Anh:
“Quy định về mang thai hộ - một nội dung mới trong Luật HNGĐ 2014” (Tạp
chí Luật sư Việt Nam số 8/2015) phân tích các quy định của pháp luật hôn nhân
và gia đình về chế định mang thai hộ như điều kiện pháp lý để được mang thai
hộ, nội dung thỏa thuận về mang thai hộ, quyền, nghĩa vụ của các bên và vấn
đề giải quyết tranh chấp liên quan đến việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh
sản, mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Bài viết của TS. Nguyễn Thị Lan:
“Mang thai hộ và những vấn đề phát sinh” (Tạp chí Luật học số 04/2015) tập
trung nghiên cứu các quy định của pháp luật về chế định mang thai hộ vì mục
đích nhân đạo đồng thời đưa ra đánh giá, bình luận và một số kiến nghị hoàn

dụng về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.
3.

Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

Luận văn tập trung nghiên cứu, phân tích những vấn đề pháp lý cơ bản của
chế định mang thai hộ vì mục đích nhân đạo cũng như tình hình thực hiện các
quy định này trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong quá
trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo,
tài liệu tham khảo nghiên cứu và học tập môn Luật Hôn nhân và gia đình trong
các cơ sở đào tạo luật.


4
4.

MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

Mục đích của đề tài là nghiên cứu, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực
tiễn của chế định mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Từ đó phát hiện những
quy định còn thiếu sót, chưa cụ thể cũng như tìm ra những điểm bất cập trong
thực tiễn áp dụng pháp luật về vấn đề mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Trên
cơ sở đó, luận văn đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp
luật về vấn đề này, nâng cao hiệu quả áp dụng trên thực tế.
Nhiệm vụ nghiên cứu là phân tích và bình luận các quy định của pháp luật
hôn nhân và gia đình về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Đồng thời nghiên
cứu và đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật về vấn đề này trên địa bàn thành
phố Hà Nội. Thông qua đó, luận văn phải tìm ra những vấn đề còn bất cập để
có giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật về

thực hiện các quy định này trên địa bàn thành phố Hà Nội. Từ đó, đưa ra các
kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này, nâng cao khả năng áp dụng
pháp luật vào đời sống thực tiễn.
8.

CƠ CẤU CỦA LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
bao gồm ba chương được kết cấu như sau:
- Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về chế định mang thai hộ vì
mục đích nhân đạo.
- Chương 2: Nội dung các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành
về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.
- Chương 3: Thực tiễn thực hiện pháp luật về mang thai hộ vì mục đích
nhân đạo trên địa bàn thành phố Hà Nội.


6
CHƯƠNG 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN
VỀ CHẾ ĐỊNH MANG THAI HỘ VÌ MỤC ĐÍCH NHÂN ĐẠO
1.1.

Khái quát chung về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

1.1.1. Khái niệm mang thai hộ vì mục đích nhân đạo
Dù mang thai hộ đã xuất hiện từ rất lâu trên thế giới và đã được nhiều quốc
gia pháp điển hóa, nhưng phải đến gần đây, khái niệm “mang thai hộ” mới được
biết đến ở Việt Nam. Tuy nhiên, khái niệm này trước đây vẫn bị đa số người
dân đánh đồng với “đẻ thuê, đẻ mướn” mà hầu hết được hiểu với nghĩa, người

thụ tinh trong ống nghiệm. Trước khi kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm ra đời,
khi người vợ không thể có con hay mang thai, người chồng có thể giao hợp với
một người phụ nữ khác hoặc bơm tinh trùng vào tử cung của phụ nữ này để có
thai và việc này thời đó cũng được xem là “mang thai hộ”. Người phụ nữ này
có thể có thai, sau đó trao con lại cho cặp vợ chồng có nhu cầu. Trong trường
hợp này, đứa trẻ là con sinh học giữa người chồng và người phụ nữ mang thai
hộ. Ngày nay, vấn đề này không được luật pháp và đạo đức xã hội chấp nhận.
Các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản ra đời, cho phép lấy tinh trùng và noãn của một
cặp vợ chồng ra khỏi cơ thể, cho tinh trùng và noãn thụ tinh để tạo phôi, nuôi
cấy phôi và cho đưa phôi vào tử cung một phụ nữ khác để mang thai. Nhờ đó,
việc mang thai hộ chính danh mới có thể được thực hiện. Với thụ tinh trong
ống nghiệm, chúng ta mới có thể tiến hành mang thai hộ một cách đúng nghĩa.
Như vậy, dưới góc độ y học, mang thai hộ được hiểu là việc một người phụ
nữ mang thai cho một cặp vợ chồng khác trên cơ sở lấy trứng (noãn) của người
vợ và tinh trùng của người chồng sử dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản để kết hợp,
phát triển thành phôi, phôi này được cấy trở lại dạ con của người phụ nữ mang
thai hộ. Về mặt sinh học, đứa trẻ do người phụ nữ mang thai hộ sinh ra sẽ mang
gen của cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ mà không có sự liên quan về mặt huyết
thống giữa người phụ nữ mang thai và đứa trẻ.4
Với kỹ thuật mang thai hộ hiện nay, yếu tố huyết thống sẽ được đảm bảo.
Huyết thống được hiểu là quan hệ máu mủ, ruột thịt, trước hết là quan hệ về di
truyền sinh học giữa cha, mẹ và con. Đó chính là cơ sở để xác lập quan hệ cha,
mẹ, con. Trong trường hợp mang thai hộ, bên mang thai hộ mang và nuôi dưỡng
phôi, đứa trẻ được bên mang thai hộ “mang nặng đẻ đau” nhưng giữa đứa trẻ
và bên mang thai hộ không có mối quan hệ huyết thống với nhau. Phôi mà bên
mang thai hộ mang là do sự kết hợp giữa noãn và tinh trùng của cặp vợ chồng
Nguyễn Văn Lâm (2015), "Từ những quy định pháp luật về mang thai hộ quan niệm thế nào về "Huyết thống"
và "Mẹ"", Dân chủ và Pháp luật, (09), tr. 50 - 52
4


thuật hỗ trợ sinh sản . Mang thai hộ được tiến hành thông qua thụ tinh trong
ống nghiệm, cụ thể là lấy noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng để


9
thụ tinh trong ống nghiệm, sau đó cấy vào tử cung của người phụ nữ tự nguyện
mang thai để người này mang thai và sinh con. Đây là hoạt động mang thai phi
tự nhiên với sự can thiệp của con người cùng các kỹ thuật y học để đảm bảo
việc thụ thai diễn ra thành công trên cơ sở các quy luật tự nhiên về sinh sản.
+ Việc mang thai hộ phải được tiến hành tự nguyện trên cơ sở các quyền tự
nhiên của con người. Việc tiến hành mang thai hộ bằng sự can thiệp của kỹ
thuật công nghệ chỉ có thể được thực hiện khi có sự đồng ý và thỏa thuận của
bên nhờ mang thai hộ và bên mang thai hộ.
+ Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là một hoạt động phi thương mại.
Quan hệ này chỉ được xác lập vì mục đích nhân đạo mà không nhằm hưởng lợi
về kinh tế hay các lợi ích khác.
Như vậy, việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo đòi hỏi phải được quy
định đầy đủ và chặt chẽ trong pháp luật thì mới phản ánh được giá trị nhân văn
của việc mang thai hộ. Vì vậy, pháp luật về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo
phải dự liệu cụ thể các điều kiện của bên mang thai hộ và bên nhờ mang thai
hộ vì mục đích nhân đạo; quyền và nghĩa vụ của các bên cũng như việc xác
định cha, mẹ con đối với trường hợp này và cách thức giải quyết các tranh chấp
phát sinh từ việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Trong khoa học pháp lý,
tổng hợp các quy định của pháp luật điều chỉnh về việc mang thai hộ vì mục
đích nhân đạo tạo thành chế định pháp lý về mang thai hộ vì mục đích nhân
đạo,
1.1.2. Phân biệt giữa mang thai hộ vì mục đích nhân đạo với mang
thai hộ vì mục đích thương mại
Thực tiễn cho thấy rằng, nhu cầu mang thai hộ đã tồn tại từ trước khi Luật
HNGĐ 2014 được thông qua. Vì thế, song song với hoạt động mang thai hộ vì

tiền từ bên nhờ mang thai hộ, thì vợ chồng nhờ mang thai hộ cũng khó có căn
cứ để có thể đòi lại con. Trong trường hợp này, bên bị vi phạm không có ràng
buộc pháp lý để có thể yêu cầu bên vi phạm thực hiện nghĩa vụ của mình.
Không những thế, mang thai hộ vì mục đích thương mại sẽ khiến người mang
thai hộ có nguy cơ trở thành một công cụ sản xuất và đứa trẻ là một món hàng.
Khác với mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, bên mang thai hộ chỉ được mang
thai hộ một lần, đối với mang thai hộ vì mục đích thương mại, bên mang thai


11
hộ thường thực hiện rất nhiều lần, trở thành “máy đẻ” gây ảnh hưởng nghiêm
trọng đến sức khỏe của bên mang thai hộ.
Kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là một thành tựu khoa học trong lĩnh vực y học đã
và đang là mối quan tâm của nhiều người trong xã hội. Song để vấn đề này phát
triển đúng hướng, đúng ý nghĩa xã hội thì cần phải có cơ chế điều chỉnh một
cách kịp thời, cụ thể, tránh hiện tượng lạm dụng đi ngược lại bản chất xã hội
của mang thai hộ và tránh những tranh chấp có thể phát sinh giữa các chủ thể
của quan hệ này.
1.2.

Ý nghĩa của chế định mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

1.2.1. Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo góp phần đảm bảo quyền
con người
Quyền làm cha, mẹ là một trong những quyền tự nhiên của con người được
pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Đó cũng chính là quyền được mưu cầu hạnh phúc
của mỗi cá nhân. Đặc biệt, từ xa xưa, người Việt Nam đã đề cao việc duy trì
nòi giống gia đình: “đông con hơn nhiều của”, Bởi vậy, với mỗi người Việt
Nam, mong mỏi có con để nối dõi, duy trì nòi giống không chỉ là nguyện vọng
chính đáng mà còn phù hợp với truyền thống, phong tục tập quán của dân

Thứ ba, về quyền và nghĩa vụ của bên nhờ mang thai hộ và bên mang thai
hộ:
- Quy định quyền và nghĩa vụ của bên nhờ mang thai hộ đối với con phát
sinh kể từ thời điểm đứa trẻ được sinh ra là một quy định hợp lý. Tuy nhiên,
quy định này dẫn đến bất cập trong trường hợp cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ
vì lý do nào đó mà chết trước khi đứa trẻ được sinh ra, đứa trẻ đó sẽ không


65
được thừa hưởng di sản, vì thời điểm phát sinh quan hệ cha mẹ - con là “kể từ
thời điểm con được sinh ra”. Điều này là trái với nguyên tắc phân chia di sản
thừa kế theo pháp luật luôn xếp những người có quan hệ huyết thống gần nhất
vào hàng thứ nhất. Nếu áp dụng quy định tại Khoản 3 Điều 98: “Trong trường
hợp bên nhờ mang thai hộ chết thì con được hưởng thừa kế theo quy định của
pháp luật đối với di sản của bên nhờ mang thai hộ.” thì trong trường hợp này
sẽ nảy sinh sự mâu thuẫn giữa hai điều luật, gây khó khăn cho việc áp dụng
pháp luật trong thực tế.
- Bên mang thai hộ phải tuân thủ quy định về thăm khám, sàng lọc để phát
hiện, điều trị các bất thường, dị tật của bào thai theo quy định của Bộ y tế. Tuy
nhiên, trên thực tế, có không ít trường hợp bên mang thai hộ không thực hiện,
không tuân thủ quy định. Pháp luật hiện nay cũng chưa có chế tài nào áp dụng
trong trường hợp này để buộc họ phải thực hiện quy định.
- Việc giải quyết trong trường hợp khi sàng lọc trước sinh, thai nhi có vấn
đề và bên nhờ mang thai hộ không đồng ý bỏ thai theo chỉ định của cơ sở ý tế
vẫn chưa được pháp luật quy định. Trong trường hợp thông thường sẽ do bố mẹ
là người quyết định cuối cùng, tuy nhiên đối với trường hợp mang thai hộ, pháp
luật chỉ cho phép bên mang thai hộ có quyền quyết định tiếp tục hay không tiếp
tục mang thai. Trong khi đó, người có nghĩa vụ cuối cùng trong việc chăm sóc
và nuôi dưỡng em bé kể từ thời điểm được sinh ra lại là người nhờ mang thai
hộ. Nếu xảy ra trường hợp người mang thai được bác sỹ khuyên nên cân nhắc

trường hợp này, cần phải đáp ứng một số điều kiện nhất định, trong đó có việc
cung cấp giấy chứng sinh hoặc các giấy tờ khác do cơ quan có thẩm quyền nước
ngoài cấp xác nhận về việc trẻ em được sinh ra ở nước ngoài và quan hệ mẹ con nếu có. Nếu cha mẹ cung cấp thỏa thuận mang thai hộ được công nhận ở
nước ngoài để chứng minh cho mối quan hệ cha, mẹ, con và nội dung của thỏa
thuận cho thấy việc mang thai hộ được thực hiện vì mục đích thương mại thì
mối quan hệ cha, mẹ con này có được xác lập hay không? Việc pháp luật hộ
tịch không quy định các trường hợp bị từ chối đăng ký khai sinh tại Việt Nam
sẽ dẫn đến khó khăn trong việc xác định có thừa nhận hoặc không thừa nhận
những trường hợp mang thai hộ ở nước ngoài nhưng có sự vi phạm pháp luật
Việt Nam.


67
Thứ năm, một số vấn đề khác trong việc thực hiện quy định về mang thai
hộ vì mục đích nhân đạo:
- Trường hợp cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ có thể ly dị hoặc ly thân hay
một trong hai bên vợ chồng chết trong khi tiến hành mang thai hộ, pháp luật
chưa có quy định nào cụ thể trong việc giải quyết mối quan hệ giữa cha mẹ và
con. Điều này gây khó khăn trong việc áp dụng quy định của pháp luật, ảnh
hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đứa trẻ.
- Cặp vợ chồng vô sinh muốn nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo sẽ
phải gửi hồ sơ đề nghị gồm 12 loại giấy tờ đến cơ sở khám chữa bệnh được
phép thực hiện kỹ thuật này theo Nghị định số 10/2015/NĐ-CP. Như vậy, thủ
tục hành chính là một trong những rào cản dẫn đến việc người dân ngần ngại
thực hiện quyền lợi hợp pháp này của mình.
- Các quy định về điều kiện thực hiện kỹ thuật mang thai hộ vì mục đích
nhân đạo đối với các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh còn lỏng lẻo, kéo theo gánh
nặng quản lý hành chính lên các cơ quan nhà nước khi số lượng các cơ sở cung
cấp dịch vụ kỹ thuật mang thai hộ vì mục đích nhân đạo gia tăng. Điều này sẽ
nảy sinh ra nhiều tiêu cực trên thực tế.

mang thai hộ là sự thừa nhận và phù hợp với pháp luật của các nước trên thế
giới, đồng thời đảm bảo sự bình đẳng, tôn trọng và thực thi các quyền cơ bản
của con người trong đời sống thực tiễn. Tuy nhiên, nhằm tránh xảy ra các biến
tướng gây ảnh hưởng tiêu cực lên đời sống xã hội cũng như đảm bảo các điều
kiện thực hiện phương pháp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, cần có sự
nghiên cứu kỹ lưỡng và cụ thể việc áp dụng quy định này đối với các đối tượng
là người độc thân và những người thuộc cộng đồng LGBT.
- Cần xác định rõ cách thức thực hiện việc xác nhận đối với điều kiện “Có xác
nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về việc người vợ không thể mang thai và
sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản” cũng như trách nhiệm
của cơ sở khám chữa bệnh có thẩm quyền để tránh sự tùy tiện trong thực tiễn,
áp dụng pháp luật, lợi dụng pháp luật để thực hiện mang thai hộ bừa bãi. Về
nguyên tắc, tổ chức y tế cấp giấy xác nhận phải là tổ chức có thẩm quyền cấp.
Trong trường hợp cấp sai, tổ chức đó sẽ chịu trách nhiệm trước cơ quan quản
lý nhà nước về y tế. Để thực hiện thống nhất trong phạm vi địa phương và có
cơ sở hướng dẫn các chủ thể đến đúng tổ chức y tế có thẩm quyền lấy giấy xác
nhận, tại mỗi địa phương (cấp tỉnh), cơ quan quản lý nhà nước là Sở Tư pháp


69
và Sở Y tế cần trao đổi với nhau để lập Danh sách các tổ chức y tế chuyên khoa
trên địa bàn địa phương có thẩm quyền cấp giấy xác nhận y tế nhằm tạo điều
kiện cho các cặp vợ chồng muốn nhờ mang thai hộ thực hiện quy định pháp
luật một cách dễ dàng, thuận tiện hơn.
- Cho phép các cặp vợ chồng vô sinh được quyền nhờ mang thai hộ trong trường
hợp đã có con chung nhưng con chung bị các bệnh về tâm thần hoặc thể chất
khiến đứa con không thể phát triển bình thường. Đây là trường hợp con chung
của cặp vợ chồng bị tàn tật, tật nguyền hay thiểu năng trí tuệ… đồng thời người
vợ lại bị tai biến sản khoa, như bị cắt tử cung, không thể mang thai. Trong
trường hợp này, việc cho phép họ được nhờ mang thai hộ là hợp lý. Điều này


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status