BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
---------------------------------
NGUYỄN THỊ THÚY HƯỜNG
CƠ CẤU BỆNH TẬTVÀ BẢO HIỂM Y TẾ CHI TRẢ CHO
NGƯỜI BỆNH ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI PHÒNG KHÁM
ĐA KHOAC KHU VỰC XUÂN GIANG, HUYỆN SÓC SƠN,
HÀ NỘI NĂM 2017
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG
HÀ NỘI – 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
-----------------------------------
NGUYỄN THỊ THÚY HƯỜNG
CƠ CẤU BỆNH TẬTVÀ BẢO HIỂM Y TẾ CHI TRẢ CHO
NGƯỜI BỆNH ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI PHÒNG KHÁM
ĐA KHOA KHU VỰC XUÂN GIANG, HUYỆN SÓC SƠN, HÀ
NỘI NĂM 2017
Chuyên ngành : Y tế công cộng
Mã số
: 8720701
2
LỜI CAM ĐOAN
Tôi là Nguyễn Thị Thúy Hường, học viên lớp Cao học Y tế Công cộng, khóa
học 2016-2018 tại Trường Đại học Thăng Long xin cam đoan:
1. Đây là nghiên cứu của tôi, thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của
PGS.TS. Phạm Huy Tuấn Kiệt.
2. Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu là hoàn toàn trung thực và
khách quan, do tôi thu thập và thực hiện.
3. Kết quả nghiên cứu của luận văn này chưa được đăng tải trên bất kỳ
một tạp chí hay một công trình khoa học nào.
Sóc Sơn, ngày
tháng 10 năm 2018
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thúy Hường
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN …………………………………………………………..…….i
LỜI CAM ĐOAN..............................................................................................ii
MỤC LỤC........................................................................................................iii
DANH MỤC BẢNG........................................................................................vi
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT......................................................................viii
ĐẶT VẤN ĐỀ...................................................................................................1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU...........................................................3
3.1.3. Phân bố đối tượng theo nhóm tuổi và giới tính...............................29
3.1.4. Phân bố đối tượng theo nhóm đối tượng/ loại thẻ...........................31
3.2. Cơ cấu bệnh tật điều trị ngọai trú tại phòng khám năm 2017...............33
3.2.1. Phân bố điều trị ngoại trú theo chương/ nhóm bệnh ICD-10..........33
4
3.2.2. Phân bố điều trị ngoại trú một số bệnh phổ biến tại Phòng khám........34
3.2.3. Phân bố điều trị ngoại trú 5 bệnh phổ biến nhất theo nhóm tuổi....35
3.2.4. Phân bố điều trị 5 nhóm bệnh phổ biến nhất theo giới tính năm 2017.....36
3.3. Chi phí Bảo hiểm Y tế chi trả cho 5 bệnh có tỷ lệ mắc cao điều trị ngoại
trú tại phòng khám được nghiên cứu năm 2017....................................37
3.3.1. Chi phí y tế chi trả cho 5 nhóm bệnh điều trị phổ biến...................39
3.3.2. Mức trung bình chi trả BHYT theo hạng thẻ khám chữa bệnh ban đầu
cho 5 bệnh phổ biến..........................................................................44
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN..............................................................................49
4.1. Cơ cấu bệnh tật điều trị tại phòng khám...............................................49
4.1.1. Đặc điểm bệnh nhân điều trị sử dụng thẻ bảo hiểm y tế tại phòng khám....49
4.1.2. Cơ cấu bệnh tật trong nghiên cứu...................................................54
4.2. Chi phí Bảo hiểm Y tế chi trả cho 5 bệnh điều trị phổ biến tại phòng
khám đa khoa ku vực Xuân Giang........................................................56
4.2.1. Chi phí điều trị bệnh chung nhóm các bệnh phổ biến.....................56
4.2.2. Mức BHYT chi trả cho 5 nhóm bệnh điều trị phổ biến..................58
4.3. Hạn chế đề tài........................................................................................62
KẾT LUẬN.....................................................................................................63
KHUYẾN NGHỊ.............................................................................................65
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Bảng 3.15:
Bảng 3.16.
Bảng 3.17.
Bảng 3.18.
Bảng 3.19.
Bảng 3.20.
Phân bố bệnh nhân điều trị ngoại trú BHYT theo giới tính và
nhóm tuổi....................................................................................29
Phân bố nhóm đối tượng ngoại trú BHYT sử dụng dịch vụ.......31
Phân bố 5 nhóm đối tượng phổ biến điều trị ngoại trú BHYT theo
chương/nhóm bệnh sử dụng dịch vụ năm 2017..........................33
Bệnh phổ biến điều trị ngoại trú sử dụng thẻ BHYT năm 2017......34
Phân bố 5 bệnh phổ biến nhất theo nhóm tuổi năm 2017...........35
Phân bố 5 nhóm bệnh phổ biến theo giới tính năm 2017............36
BHYT chi trả cho 10 bệnh phổ biến điều trị phổ biến................37
BHYT chi trả cho 5 bệnh phổ biến điều trị phổ biến..................38
Chi phí y tế chi trả cho 1 lần điều trị bệnh viêm họng cấp.........39
Chi phí y tế chi trả cho 1 lần điều trị bệnh viêm mũi họng cấp.........40
Chi phí y tế chi trả cho 1 lần điều trị bệnh viêm phế quản........41
Chi phí y tế chi trả cho 1 lần điều trị bệnh thoái hóa thân đốt sống.....42
Chi phí y tế chi trả cho 1 lần điều trị bệnh điều trị tăng huyết áp vô căn....43
Mức trung bình chi trả BHYT đối với bệnh viêm họng cấp theo
hạng thẻ khám chữa bệnh ban đầu..............................................44
Mức trung bình chi trả BHYT đối với bệnh viêm mũi họng cấp
theo hạng thẻ khám chữa bệnh ban đầu......................................45
Mức trung bình chi trả BHYT đối với bệnh viêm phế quản theo
hạng thẻ khám chữa bệnh ban đầu..............................................46
Mức trung bình chi trả BHYT đối với bệnh thoái hóa thân đốt
sống theo hạng thẻ khám chữa bệnh ban đầu..............................47
Bộ Tài chính
QH
Quốc hội
KCB
Khám chữa bệnh
QTCM
Quy trình chuyên môn
ICD 10
Bảng phân loại bệnh tật quốc tế ICD10
TTLT
Thông tư liên tịch
TTLB
Thông tư liên Bộ
WHO
Tổ chức Y tế Thế giới
hiện nhằm nâng cao khả năng kiểm soát và hạn chế sự gia tăng chi phí y tế
2
như xác định trần thanh toán chi phí khám chữa bệnh bảo hiểm y tế, áp dụng
cơ chế cùng chi trả và quản lý quỹ khám chữa bệnh từ cơ sở y tế ban đầu...
Tuy nhiên, các biện pháp trên vẫn chỉ mang tính giải pháp tình thế, chưa giải
quyết được cơ bản những nhược điểm của phương thức chi trả theo phí dịch
vụ, quỹ bảo hiểm y tế vẫn tiếp tục bị mất cân đối và đe dọa sự tồn tại của
chính sách bảo hiểm y tế [15].
Tại Việt Nam, mô hình bệnh tật thay đổi, chuyển từ điều trị các bệnh cấp
tính sang các bệnh mạn tính, gia tăng các bệnh về đường hô hấp và ung thư,
tăng chi phí điều trị, là gánh nặng tài chính không chỉ đối với người bệnh mà
còn đối với Phòng Khám và bên chi trả thứ ba như Bảo hiểm Y tế. Năm 2008,
Luật Bảo hiểm Y tế số 25/2008/QH12 được ban hành đã tạo điều kiện cho
việc mở rộng độ bao phủ Bảo hiểm Y tế, cũng như quy định cụ thể cơ chế bảo
vệ tài chính cho những đối tượng dễ bị tổn thương, bao gồm: người nghèo,
người cận nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi,… nhằm giảm thiểu mức chi phí y tế mà
người dân phải bỏ tiền túi, tránh dẫn đến chi phí thảm họa.
Phòng khám đa khoa khu vực Xuân Giang thực hiện chăm sóc sức khỏe
ban đầu cho người dân Huyện Sóc Sơn. Khu vực Sóc Sơn là khu vực ngoại
thành đang trong quá trình đô thị hóa, phát sinh các vấn đề về y tế, môi trường
cần phải quan tâm. Đô thị hóa kéo theo dòng người di cư hình thành các bệnh
ngoài thống kê, mô hình bệnh tật thay đổi… Ảnh hưởng trực tiếp tới chính
sách y tế của vùng cũng như chi trả Bảo hiểm y tế đối với người dân. Phòng
khám Xuân Giang chủ động kiểm soát chi phí, thực hiện thanh toán theo chi
phí dịch vụ chi trả các bệnh phổ biến được khám và điều trị ngoại trú. Với lí
do đó, chúng tôi thực hiện nghiên cứu: “Cơ cấu bệnh tật và Bảo hiểm Y tế
chi trả cho người bệnh điều trị ngoại trú tại Phòng khám đa khoa khu
vực Xuân Giang, huyện Sóc Sơn, Hà Nội năm 2017 ” với 2 mục tiêu:
chỉ tiêu đánh giá sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, vùng miền đó. Nó
4
có tính chất dự báo xu hướng bệnh tật tương lai và giúp chúng ta có cái nhìn
tổng thể để hoạch định chính sách ở tầm vĩ mô [37], [48].
1.1.2.2. Phân loại theo tỷ lệ mắc cao nhất
Đặc điểm cơ bản của cách phân loại này là đưa ra tên bệnh hoặc nhóm
bệnh có tỷ lệ mắc cao nhất, có thể chia theo từng lứa tuổi tùy vào từng tác giả
hoặc yêu cầu của nghiên cứu.
Cách phân loại này đưa ra thứ tự của các bệnh thường gặp cũng như mức
độ nguy hiểm của một số bệnh dựa trên tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong, từ đó
có những chính sách đầu tư thích hợp nhằm can thiệp làm giảm tỷ lệ mắc
bệnh và tử vong của các bệnh đó [48].
1.1.2.3. Phân loại theo ICD 10
Để tạo tính thống nhất trên toàn thế giới về việc xây dựng các thông tin y
tế, Tổ chức y tế thế giới đã xây dựng bảng phân loại quốc tế bệnh tật. Qua
nhiều lần hội nghị, cải biên, đã chính thức xuất bản Bảng phân loại quốc tế
bệnh tật lần thứ X vào năm 1992. Bảng phân loại này được tổ chức y tế thế
giới triển khai xây dựng từ tháng 09 năm 1983.
Đặc điểm nổi bật của ICD 10 là phân loại theo từng chương bệnh, trong
mỗi chương lại chia ra từng nhóm bệnh. Từ mỗi nhóm bệnh chia nhỏ thành
các tên bệnh và cuối cùng là các bệnh chi tiết theo nguyên nhân hay tính
chất đặc thù của bệnh. Như vậy một bệnh theo ICD 10 được mã hóa bởi 3
ký tự chính, ký tự thứ 4 mã hóa bệnh chi tiết (không bắt buộc nếu không đủ
điều kiện). Với điều kiện của Việt Nam và một số nước đang phát triển
WHO chỉ yêu cầu mã hóa đến tên bệnh (3 ký tự), các chuyên khoa sâu có
thể vận dụng hệ thống mã hóa 4 ký tự để phân loại chi tiết hơn, phù hợp
với từng chuyên khoa.
Hệ thống phân loại này giúp chúng ta có một mô hình bệnh tật đầy đủ,
- Ký tự thứ tư (chữ số thứ ba sau dấu (.): Mã hóa một bệnh chi tiết theo
nguyên nhân gây bệnh hay tính chất đặc thù của nó.
Ví dụ: một bệnh có mã J02.9 Tra cứu theo hệ thống phân loại sẽ được
dịch mã như sau:
6
J: chỉ chương bệnh X: Bệnh hô hấp
0: chỉ nhóm bệnh: Nhiễm khuẩn đường hô hấp
2: chỉ tên bệnh: viêm họng cấp
9: chỉ tên một bệnh cụ thể: viêm họng cấp, không xác định
1.1.3. Cơ cấu bệnh tật
1.1.3.1 Khái niệm cơ cấu bệnh tật
Cơ cấu bệnh tật của một cộng đồng trong một giai đoạn là cơ cấu phần
trăm các nhóm bệnh tật, các bệnh và tử vong của các bệnh của cộng đồng đó
trong giai đoạn đó. Từ cơ cấu bệnh tật người ta có thể xác định được các nhóm
bệnh phổ biến nhất; các nhóm bệnh có tỷ lệ tử vong cao nhất để có cơ sở xây
dựng kế hoạch phòng chống bệnh tật trước mắt và lâu dài cho cộng đồng đó.
Thống kê bệnh tật và tử vong tại Phòng Khám thể hiện trình độ, khả năng chẩn
đoán, phân loại người bệnh theo các chuyên khoa để đảm bảo điều trị có hiệu
quả, thực chất là khả năng đảm bảo phục vụ, chăm sóc người bệnh của Phòng
Khám bởi lẽ có phân loại chẩn đoán đúng mới có thể tiên lượng, điều trị đúng
và có hiệu quả kinh tế cao: Giảm tỷ lệ tử vong, tiết kiệm chi phí thuốc men và
các phương tiện khác. Thống kê bệnh tật và tử vong là đặc thù riêng của ngành
y tế và là nội dung quan trọng của quản lý bệnh tật và tử vong [11].
1.1.3.2. Phương pháp nghiên cứu cơ cấu bệnh tật.
Nghiên cứu cơ cấu bệnh tật chủ yếu tiến hành trong Phòng Khám dựa
vào hồ sơ lưu trữ tại các Phòng Khám theo bệnh án mẫu thống nhất toàn
ngành y tế. Đối với Phòng Khám nghiên cứu cơ cấu bệnh tật chủ yếu với các
bệnh điều trị ngoại trú, cũng sử dụng chung mẫu thống nhất toàn ngành y tế.
quầy thuốc của mình kéo theo một lượng lớn bệnh nhân tự mua thuốc điều trị
làm ảnh hưởng tới việc xác định cơ cấu bệnh tật thực tế [11], [22], [48].
1.1.4. Cơ cấu bệnh tật trên thế giới và tại Việt Nam
1.1.4.1. Cơ cấu bệnh tật trên thế giới
Trên thế giới thường có 3 cơ cấu bệnh tật:
8
- Cơ cấu bệnh tật ở các nước chậm phát triển: Bệnh nhiễm trùng chiếm
tỷ lệ cao.
- Cơ cấu bệnh tật ở các nước phát triển: Bệnh tim mạch, đái tháo đường
và bệnh lý người già là chủ yếu.
- Cơ cấu bệnh tật ở các nước đang phát triển: Bệnh nhiễm trùng chiếm tỷ
lệ thấp, bệnh mạn tính và không nhiễm trùng là chủ yếu.
Cơ cấu bệnh tật được cụ thể hóa ở các nhóm tuổi, giới tính, nghề nghiệp,
phụ thuộc vào từng khu vực, có sự khác biệt giữa ghi nhận tại cộng đồng và
ghi nhận tại cơ sở điều trị, và cũng khác biệt giữa các cơ sở điều trị [33], [37].
Cơ cấu bệnh tật thường tập hợp và đánh giá dựa trên dịch tễ học lâm
sàng, chuyên ngành dịch tễ học lâm sàng là ngành chuyên sâu nghiên cứu nội
dung này.
1.1.4.2. Cơ cấu bệnh tật tại Việt Nam
Tại Hội nghị chuyên đề về công tác Y tế dự phòng, Bộ Y tế cho biết nếu
như trước kia chủ yếu là các bệnh nhiễm trùng thì nay cơ cấu bệnh tật đã hoàn
toàn thay đổi: chỉ có 27% là các bệnh do vi trùng gây nên, có đến 62% các bệnh
không phải do vi trùng (các bệnh lây nhiễm do siêu vi trùng)[22], [48].
Cơ cấu bệnh tật nước ta đan xen giữa bệnh nhiễm trùng, bệnh cấp tính và
bệnh mãn tính. Xu hướng bệnh không nhiễm trùng và mãn tính ngày càng
cao. Nguyên nhân biến đổi này là:
- Phát triển xã hội với xu thế công nghiệp hóa tạo ra nhiều ngành nghề và
đó là các bệnh nghề nghiệp; đô thị hóa làm tăng tai nạn giao thông, các tai nạn
bảo đảm. Người nghèo, đối tượng chính sách xã hội và trẻ em dưới 6 tuổi đã
được Nhà nước cấp BHYT, sự tiếp cận các dịch vụ y tế của những đối tượng
này đã được cải thiện rõ rệt. Tới hết năm 2015, trên phạm vi cả nước, đã có
hơn 70 triệu người tham gia bảo hiểm y tế, chiếm 77% dân số. Từ chỗ cả
nước có 29 địa phương có tỷ lệ bao phủ BHYT dưới 65% dân số, đến cuối
10
năm 2015, địa phương thấp nhất đã đạt tỷ lệ bao phủ 69% dân số. Tỷ lệ bao
phủ chung của cả nước đạt 77% dân số, vượt 1,6% so với kế hoạch được giao
[13], [23].
Bảng 1.1. Tình hình tham gia Bảo hiểm y tế tại Việt Nam [3]
Đơn vị tính: nghìn người
Số người có thẻ BHYT
Năm
* Dân số
bình quân
Tổng số
% so với
dân số
Bắt buộc
1993
7.100
9,86
4.870
-
2.230
1996
73.157
8.630
11,80
5.560
-
3.070
1997
74.307
9.540
6.355
493
3.384
2000
76.734
10.622
13,84
6.394
841
3.387
2001
77.655
11.340
14,60
6.685
5.099
2004
80.484
18.356
22,81
8.190
3.772
6.394
2005
81.450
23.434
28,77
9.574
4.726
9.133
84.417
39.749
47,09
13.529
15.530
10.690
2009
86.025
50.069
58,20
19.609
15.113
15.347
2010
86.866
50
Bắt buộc
50.07
46.85
Tổng
40
39.8
36.87
Tự nguyện
36.55
34.77
30
23.3
25.66
20
20
10
3.79
9.38
10.69
3.92
2006
2007
2008
2009
2010
Biểu đồ 1.1. Số người tham gia BHYT từ năm 1993 đến 2010 theo nhóm
BHYT bắt buộc và tự nguyện [3]
70
60
50
4 4 .4 3
4 3.52
2006
2007
2004
2005
Năm
2008
12
Biểu đồ 2.2. Tỷ lệ bao phủ BHYT từ năm 1993 đến 2010 [3]
Nguồn: - Số liệu từ năm 1993 - 2006 theo Báo cáo 15 năm tình hình thực hiện chính sách BHYT
(1992 – 2007) của Bộ Y tế.
- Số liệu từ năm 2007 - 2009 theo Báo cáo quyết toán hằng năm của BHXH Việt Nam.
- Số liệu năm 2010 theo Công văn số 32/BHXH-CSYT ngày 06/01/2011 của BHXH Việt Nam về
việc Báo cáo tình hình triển khai thực hiện Luật BHYT năm 2010.
13
1.2.3. Bảo hiểm y tế chi trả cho Phòng Khám
1.2.3.1. Tổng quan về các phương thức bảo hiểm chi trả cho Phòng Khám
Phương thức bảo hiểm y tế chi trả chi phí dịch vụ Phòng Khám là cách
thức để ngân sách từ Quỹ bảo hiểm hoàn trả phần chi phí của Phòng Khám đã tiêu
tốn cho hoạt động cung cấp dịch vụ y tế đối với người tham gia bảo hiểm y tế.
Mỗi phương thức hoàn phí đều có những ưu điểm, hạn chế và có ảnh hưởng khác
nhau đến tính hiệu quả sử dụng nguồn lực, chất lượng dịch vụ được bệnh viện
cung cấp và mức độ sử dụng dịch vụ của người dân [4], [5], [39], [42], [44].
Bảng 1.1: Đặc điểm các phương thức bảo hiểm chi trả cho Phòng khám
Hê thống
chi trả
BHYT
Ưu điểm
Cho phép quản lý
tập trung cao
Hiệu quả thấp
Cho tính năng
động cao
Nguy cơ hạn chế thái
quá dịch vụ cần thiết
Thúc đẩy năng suất
cung cấp dịch vụ
nói chung (đặc biệt
là dịch vụ có lợi
nhuận lớn)
Tất cả các dịch vụ Tăng hiệu quả
y tế cho một người thông qua tiết kiệm
cho một giai đoạn dịch vụ và loại bỏ
cụ thể, thường là 1 lạm dụng dịch vụ
năm
do bên cung cấp
Từng trường hợp
bệnh/ ca bệnh cụ
thể
Hạn chế
1.2.3.2. Phí dịch vụ chi trả Bảo hiểm y tế
Cơ sở cho phương thức thanh toán theo dịch vụ là phí (hoặc phần phí)
cung cấp dịch vụ được chi trả (trực tiếp từ người sử dụng dịch vụ hoặc
BHYT) theo từng dịch vụ đơn lẻ mà Phòng Khám đã cung cấp theo mức phí
ấn định được xác lập bởi cơ quan quản lý việc cung cấp dịch vụ. Ưu điểm nổi
bật nhất là cơ chế này thúc đẩy năng suất cung cấp dịch vụ Phòng Khám và xa
hơn là thúc đẩy công suất hoạt động của cả hệ thống cung cấp dịch vụ y tế.
Tuy nhiên, bằng chứng ở nhiều nước khác nhau cho thấy rõ ràng là
phương thức phí theo dịch vụ chi trả khuyến khích nhà cung cấp dịch vụ cung
cấp dịch vụ quá mức cần thiết vì động cơ lợi nhuận [4], [39]. Phương thức
này còn được xem là nguyên nhân cơ bản hàng đầu dẫn đến tình trạng bội chi
Quỹ BHYT hiện nay. Chi phí hành chính cho hệ thống thanh toán phí dịch vụ
trực tiếp là rất cao [23].
Các nước châu Á và châu Phi đã sử dụng phương thức này lúc bắt đầu
thực hiện thanh toán cho bệnh viện. Phương thức này phản ánh chính xác hơn
các công việc thực sự mà các bệnh viện thực hiện và các nguồn lực đã tiêu
hao so với phương thức phân bổ theo dòng ngân sách, do đó các nhà cung cấp
có động cơ làm việc nhiều giờ hơn và/hoặc cung cấp nhiều dịch vụ hơn.
Phương pháp chi trả theo phí dịch vụ được cho là cải thiện tiếp cận và sử
dụng dịch vụ y tế cho các khu vực xa xôi (chẳng hạn như các khu vực nông
thôn), cho các nhóm người nghèo như ở Campuchia, Myanmar và Cộng hòa
Dân chủ Nhân dân Lào, và cho các dịch vụ ưu tiên (Cộng hòa Séc, Đan Mạch,
Haiti, Vương quốc Anh) [5].
15
Ở Việt Nam, ngay từ năm 1995, Chính phủ cho phép các cơ sở y tế công
lập thu một phần viện phí cho các dịch vụ y tế để đảm bảo bù chi phí do nhà
nước đầu tư. Luật Bảo hiểm Y tế Việt Namm quy định “Thanh toán theo giá
dịch vụ là thanh toán dựa trên chi phí của thuốc, hóa chất, vật tư, thiết bị y tế,
việc cung cấp dịch vụ hiệu quả nhất để có được lợi nhuận thông qua kiểm soát
chi phí và hạ giá thành dịch vụ.
Định suất thiếu yếu tố khuyến khích cải tiến và cung cấp dịch vụ với
chất lượng cao vì nhà cung cấp đã được chi trả một lượng ổn định cho mỗi
thành viên tham gia quỹ đó. Phương thức hoàn phí theo định suất cũng đặt ra
yêu cầu về thông tin chi phí dịch vụ với khả năng dự báo/ ước tính ngân sách
một cách chính xác, và các yêu cầu về năng lực kỹ thuật quản lý và tài chính.
Phương thức này không thích hợp cho việc bao phủ các dịch vụ được chi trả
trực tiếp ở người sử dụng dịch vụ theo yêu cầu hay người không có BHYT.
Từ tháng 9/2010, Bảo hiểm xã hội Việt Nam triển khai thí điểm việc thanh
toán theo định suất tại các cơ sở đăng ký khám chữa bệnh (KCB) ban đầu.
Phương thức này được đánh giá là tạo sự chủ động cho các BV trong điều hành
ngân sách, kiểm soát quỹ BHYT, hạn chế tình trạng lạm dụng thuốc, xét
nghiệm để tiết kiệm chi phí KCB và nâng cao chất lượng KCB. Nhưng thực tế,
tình trạng bội chi quỹ diễn ra tại nhiều cơ sở KCB. Trong thực tế điều kiện ở
Việt Nam khi bộ phận người sử dụng dịch vụ trả phí trực tiếp còn chiếm đa số
và tiền thu từ viện phí là phần ngân sách chủ yếu của Phòng Khám thì phương
thức định suất chỉ đáp ứng được một phần yêu cầu [10], [32].
1.3. Điều trị ngoại trú tại Phòng khám
Khám ngoại trú là việc chăm sóc và điều trị y tế mà bệnh nhân không
cần ở lại qua đêm tại cơ sở y tế. Dịch vụ khám ngoại trú bao gồm cả thăm
khám chuyên sâu cũng như các hình thức kiểm tra sức khỏe tổng quát và đánh
giá lâm sàng.