Một số giải pháp bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên trường trung học cơ sở hoằng lý năm học 2018 2019 và những năm tiếp theo - Pdf 56

MỤC LỤC
TT

Nội dung

Trang

1

1. Mở đầu

1

2

1.1. Lý do chọn đề tài

1

3

1.2. Mục đích nghiên cứu

2

4

1.3. Đối tượng nghiên cứu

2



8

10

4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động
giáo dục, thực hiện nhiệm vụ của trường Trung học cơ sở
Hoằng Lý

14

11

3. Kết luận và kiến nghị

15

12

3.1. Kết luận

15

13

3.2. Kiến nghị

16

14

trong các nhà trường đã được nâng lên một cách rõ rệt, đặc biệt họ luôn tâm
huyết với nghề, thương yêu học sinh và phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ của
mình, cơ bản đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo trong giai đoạn hiện
nay.
Đối với trường Trung học cơ sở Hoằng Lý, thành phố Thanh Hóa trong
những năm qua, đội ngũ giáo viên nhà trường đại đa số có tinh thần trách nhiệm
cao trong công việc, thường xuyên học tập và tự học tập, tự bồi dưỡng để không
ngừng nâng cao đạo đức, phẩm chất, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và nêu
gương tốt cho người học … nhằm đáp ứng những yêu cầu trong giai đoạn mới.
Vì vậy, nhà trường đã đạt được những thành tích đáng phấn khởi.
Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm, đội ngũ cán bộ, giáo viên của nhà
trường còn bộc lộ một số hạn chế nhất định, như: một số giáo viên trẻ tuy được
đào tạo bài bản nhưng còn thiếu kinh nghiệm giảng dạy; một bộ phận nhỏ giáo
viên tinh thần trách nhiệm chưa cao; một số ít giáo viên lớn tuổi chậm tiếp cận
công nghệ thông tin và chương trình mới theo quy định của nhà nước, giáo viên
dạy chéo ban, … Do đó, ảnh hưởng ít nhiều đến chất lượng đội ngũ và kết quả
1


thực hiện nhiệm vụ của nhà trường. Cho nên, năm học 2018-2019, nhà trường
đã xây dựng những giải pháp phù hợp để nâng cao chất lượng đội ngũ đáp ứng
yêu cầu thực hiện tốt hơn nữa nhiệm vụ năm học và những năm tiếp theo. Trong
năm học vừa qua, các giải pháp đó đã phát huy hiệu quả trong việc nâng cao
chất lượng đội ngũ, qua đó chất lượng giáo dục có những cũng được nâng lên.
Từ những lý do trên, là cán bộ quản lý nhà trường, tôi mạnh dạn chọn đề
tài “Một số giải pháp bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên trường
Trung học cơ sở Hoằng Lý trong năm học 2018-2019 và những năm tiếp theo”
làm nội dung nghiên cứu cho sáng kiến kinh nghiệm của mình.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Khảo sát, đánh giá thực trạng chất lượng đội ngũ giáo viên trường Trung

thông và trường phổ thông có nhiều cấp học;
Thông tư số 28/2009/TT-BGDÐT, ngày 21 tháng 10 nãm 2009 của Bộ
Giáo dục và Đào tạo ban hành quy định chế độ làm việc của giáo viên;
Quyết định số 16/2008/QĐ-BGDĐT ngày 16/4/2008 của Bộ Giáo dục và
Đào tạo về Ban hành Quy định về đạo đức nhà giáo;
Chỉ thị số 2919/CT-BGDĐT, ngày 10 tháng 8 nãm 2018 của Bộ Giáo dục
và Đào tạo về nhiệm vụ chủ yếu nãm học 2018-2019 của ngành giáo dục, phần
nhiệm vụ “Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục
các cấp” nêu rõ “ … Lựa chọn, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý
giáo dục phổ thông cốt cán theo chuẩn hiệu trưởng, chuẩn nghề nghiệp giáo viên
để thực hiện bồi dưỡng giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục thực hiện chương
trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông mới, …”
Các văn bản chỉ thị, hướng dẫn của Tỉnh, Thành phố, Ngành Giáo dục và
Đào tạo về nhiệm vụ giáo dục năm học 2018-2019,
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
2.2.1. Khái quát về Trường Trung học cơ sở Hoằng Lý, thành phố
Thanh Hoá
Trường Trung học cơ sở Hoằng Lý đóng trên địa bàn xã Hoằng Lý, thành
phố Thanh Hóa. Năm học 2018-2019, nhà trường có 4 lớp với 150 học sinh chia
làm 4 khối, với tổng số cán bộ, giáo viên, nhân viên là 13 người (03 nam, 10
nữ). Trong đó:
- Về vị trí việc làm:
+ Quản lý: 02 người;
+ Giáo viên: 9 người;
+ Nhân viên hành chính: 02 người.
- Trình độ đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ:
3


+ Đại học: 9;

Đa số cán bộ, giáo viên của nhà trường luôn chấp hành tốt đường lối, chủ
trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tham gia các hoạt động
chính trị - xã hội; thực hiện nghĩa vụ công dân; yêu nghề, gắn bó với nghề dạy
học; chấp hành tốt Luật Giáo dục, điều lệ, quy chế, quy định của ngành; có ý
thức tổ chức kỉ luật và tinh thần trách nhiệm; giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín
của nhà giáo; sống trung thực, lành mạnh, là tấm gương tốt cho học sinh.
Mỗi cán bộ, giáo viên, nhân viên luôn thương yêu, tôn trọng, đối xử công
bằng với học sinh, giúp học sinh khắc phục khó khăn để học tập và rèn luyện tốt.
Đoàn kết, hợp tác, cộng tác với đồng nghiệp; có ý thức xây dựng tập thể tốt để
4


cùng thực hiện mục tiêu giáo dục. Có lối sống trong sạch lành mạnh, văn minh,
phù hợp với môi trường giáo dục; có tác phong mẫu mực, làm việc khoa học.
Các kế hoạch dạy học được đa số giáo viên xây dựng theo hướng tích hợp
dạy học với giáo dục thể hiện rõ mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học phù
hợp với đặc thù môn học, đặc điểm học sinh và môi trường giáo dục; phối hợp
hoạt động học với hoạt động dạy theo hướng phát huy tính tích cực nhận thức
của học sinh; luôn đảm bảo được kiến thức môn học, chương trình môn học theo
hướng chuẩn kiến thức; xây dựng được môi trường học tập dân chủ, thân thiện,
an toàn và lành mạnh; quản lý hồ sơ dạy học theo quy định tương đối tốt
Đội ngũ giáo viên, đặc biệt là giáo viên chủ nhiệm lớp đã có sự phối hợp
với gia đình và cộng đồng trong hỗ trợ, giám sát việc học tập, rèn luyện, hướng
nghiệp của học sinh và góp phần huy động các nguồn lực trong cộng đồng phát
triển nhà trường.
Đa số giáo viên đều tự học và tự rèn luyện về phẩm chất chính trị, đạo
đức lối sống, chuyên môn nghiệp vụ. Thông qua việc tích luỹ kinh nghiệm trong
công tác, viết sáng kíến kinh nghiệm, bồi dưỡng thường xuyên, tham gia các ý
kiến đóng góp có chất lượng và hiệu quả cho tổ chuyên môn, cho nhà trường
trong việc thực hiện nhiêm vụ năm học, tham gia dự thi giáo viên dạy giỏi các

dục hiệu quả.
Thứ ba là, hạn chế về năng lực dạy học
Việc vận dụng hợp lý các kiến thức liên môn theo yêu cầu cơ bản, hiện
đại, thực tiễn còn rất nhiều hạn chế. Nhiều giáo viên còn lúng túng trong việc
vận dụng các phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động
và sáng tạo của học sinh, phát triển năng lực tự học và tư duy của học sinh. Đặc
biệt việc tổ chức cho học sinh hoạt động nhóm còn rất nhiều hạn chế.
Việc sử dụng các phương tiện dạy học còn nhiều bất cập như: Một số giáo
viên sử dụng đồ dùng dạy học chỉ mang tính hình thức; Nhiều tiết dạy không có
đồ dùng hoặc có nhưng độ chính xác của phương tiện dạy học không đảm bảo;
Nhiều tiết dạy thực hành nhưng không có giáo viên thực hành thí nghiệm;
Phương tiện, đồ dùng dạy học cấp về chỉ sử dụng đến năm thứ 2, thứ 3 là đã hư
hỏng..., tất cả những yếu tố nêu trên làm hạn chế hiệu quả dạy học.
Việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh chưa thực sự bảo
đảm yêu cầu chính xác, toàn diện, công bằng, khách quan, công khai và phát
triển năng lực tự đánh giá của học sinh; chưa kích thích và tạo động lực cho học
sinh, chuyển từ bị kiểm tra sang tự kiểm tra do đó công tác kiểm tra chưa thực
sự thúc đẩy quá trình học tập của học sinh; cũng có lúc này lúc khác giáo viên
còn nương nhẹ với số học sinh yếu, kém.
Thứ tư là, hạn chế về năng lực giáo dục
Phương pháp giáo dục thể hiện khả năng hợp tác, cộng tác với các lực
lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường; việc giáo dục tư tưởng, tình cảm, thái
độ thông qua việc giảng dạy môn học và tích hợp các nội dung giáo dục khác
trong các hoạt động chính khoá và ngoại khoá; việc vận dụng các nguyên tắc,
phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục còn gặp nhiều hạn chế.
Việc đánh giá kết quả rèn luyện đạo đức của học sinh đôi khi chưa chính
xác, khách quan, công bằng, thường thì giáo viên có sự suy luận cứ em nào học
lực giỏi thì hạnh kiểm tốt, khá. Chính sự đánh giá theo ý kiến chủ quan của giáo
viên đôi khi kìm hãm sự thúc đẩy, sự phấn đấu vươn lên của học sinh.
Một số giáo viên việc tự học và tự rèn luyện về chuyên môn nghiệp vụ

về, chỉ cần chỉnh sửa đôi chút là có thể in ra giáo án cho cả tuần, cả tháng. Với
những giáo viên này có đọc và suy ngẫm, tìm ra phương pháp truyền thụ bài
giảng cho học sinh của mình dễ hiểu nhất không, chắc chắn là không, lại mõ tre
- sách in, chất lượng và hiệu quả giờ dạy chắc chắn không đạt yêu cầu.
Sinh hoạt tổ chuyên môn không có chất lượng, đôi khi chỉ là những buổi
nhận xét kết quả tuần trước, triển khai kế hoạch chuyên môn tuần này, trường có
nhiều giáo viên giỏi cấp huyện (TP) nhưng trong các buổi sinh hoạt chuyên môn
các giáo viên này không có ý tưởng hay ý kiến đóng góp cho hoạt động chuyên
môn của tổ, sức lan toả của nhiều giáo viên giỏi trong nhà trường không cao.
Thi giáo viên giỏi các cấp, từ cấp trường trở lên đều qua 3 vòng thi, đúng
quy trình, bài bản. Tuy nhiên thực trạng thi giáo viên giỏi trong nhiều năm qua
có nhiều vấn đề bất cập, đánh giá thực chất không mang tính toàn diện nhiều
giáo viên chỉ cần tập giảng nhiều lần 2 tiết dạy cho thật thành thạo, có sử dụng
phương pháp mới…là đã đạt giáo viên giỏi, sau đó thì trở lại với đọc - chép,
chiếu - chép? Thực tế hiện nay, nhiều giáo viên tỏ ra ngại đi thi giáo viên giỏi
các cấp.
Thông qua việc tích luỹ kinh nghiệm trong công tác, giáo viên viết sáng
kíến kinh nghiệm hàng năm, nhưng sáng kiến ít có giá trị sử dụng trong hoạt
động dạy học, giáo dục của nhà trường. Thậm chí có những sáng kiến viết cho
có, cho xong một nhiệm vụ, sau khi được đánh giá, nhận xét, xếp loại thì cất vào
tủ, hỏi tác dụng ở đâu?
Hiện nay ở các nhà trường nói chung và trường Trung học cơ sở Hoằng
Lý nói riêng, việc đánh giá, xếp loại thi đua mang nặng tính chủ quan, chung
chung, nhìn nhân mọi vấn đề một cách phiến diện đang xảy ra khá phổ biến,
theo cách đánh giá trên thì hầu hết giáo viên đều là “Lao động tiên tiến”, “Hoàn
7


thành nhiệm vụ”, hiếm có trường hợp nào không hoàn thành nhiệm vụ. Điều này
góp phần tạo sự trì trệ, triệt tiêu động lực phấn đấu, làm thui chột đội ngũ giáo

cao chất lượng đội ngũ giáo viên là rất cần thiết, người làm công tác quản lý
phải tìm ra biện pháp khả thi bồi dưỡng đội ngũ giáo viên để đưa chất lượng
giáo dục đi lên, đây là một việc làm cần thiết và thiết thực phải thực hiện ngay
đối với mỗi nhà trường.
2.3. Một số giải pháp bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ giáo
viên của trường Trung học cơ sở Hoằng Lý, thành phố Thanh Hóa trong
giai đoạn hiện nay.
2.3.1. Bồi dưỡng, tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức về tư
tưởng chính trị, đạo đức, tác phong cho giáo viên; làm cho cán bộ, giáo viên
8


trong nhà trường nhận thức rõ vai trò quan trọng của giáo dục và đào tạo
trong thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Nêu cao vai trò lãnh đạo của Đảng trong quá trình chỉ đạo thực hiện
nhiệm vụ chính trị, các cuộc vận động, các phong trào thi đua của đơn vị. Chi bộ
lãnh đạo, định hướng các lĩnh vực một cách toàn diện. Thường xuyên cho cán
bộ, đảng viên, giáo viên sinh hoạt nâng cao tư tưởng chính trị, coi trọng công tác
dân chủ đặc biệt khâu đoàn kết trong nội bộ, giáo dục tập thể để thấy rõ vai trò
to lớn của đoàn kết. Xây dựng mối đoàn kết gắn bó giữa giáo viên và cha mẹ
học sinh, nêu rõ được trách nhiệm của mỗi bên để cùng phối hợp giáo dục. Do
vậy, chi ủy chi bộ phải đoàn kết thống nhất tập trung nâng cao nhận thức cho
từng Đảng viên để mọi Đảng viên trong chi bộ đều thấy được trách nhiệm của
từng Đảng viên trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên nhà trường.
Công tác phê bình và tự phê bình để đi đến đồng thuận; tranh luận sôi nổi để tìm
được những giải pháp hay; từng Đảng viên phải tự giác rèn luyện để xứng đáng
là tấm gương đạo đức tự học, sáng tạo.
Trong quá trình bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ, phẩm chất đạo
đức của người thầy phải được coi trọng. Trong bất cứ hoàn cảnh nào người thầy
cũng phải xứng đáng là tấm gương cho học sinh noi theo. Người hiệu trưởng khi

Huy động được các nguồn lực, phối hợp các lực lượng giáo dục, xây dựng
mối quan hệ đoàn kết giữa giáo viên chủ nhiệm với lãnh đạo Đảng, chính quyền
địa phương, với Ban giám hiệu, Ban đại diện cha mẹ học trường, lớp cũng như
các tổ chức đoàn thể, cùng phối hợp làm công tác giáo dục, xã hội hoá giáo dục
tốt để giáo dục đào tạo thực sự là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân.
2.3.2. Xây dựng quy chế làm việc khoa học nhằm nâng cao hiệu quả
của các hoạt động trong nhà trường
Thực hiện mục tiêu kế hoạch, chỉ đạo các tổ, các cá nhân làm việc theo kế
hoạch, tất cả công việc phải được kế hoạch hoá, cụ thể hóa, tiêu chuẩn hoá.
Thông qua các quy chế đó để cán bộ giáo viên có lề lối làm việc khoa học, từ đó
siết chặt được kỷ cương, nề nếp trong nhà trường. Một số quy chế, quy định của
đơn vị là Quy định về trực lãnh đạo, trực tuần của giáo viên, Quy định về hồ sơ
giáo viên, Quy định về soạn bài, chấm, chữa bài, Quy định về lịch hội họp, chế
độ thông tin báo cáo, …
Hàng tuần, nhà trường thực hiện giao ban nghiêm túc, chất lượng nhằm
đánh giá công tác tuần qua, đề ra nhiệm vụ tuần tới đồng thời đây cũng là dịp để
đánh giá toàn diện các mặt hoạt động của cán bộ, giáo viên, nhân viên và học
sinh trong tuần; nó giúp mỗi thành viên nhà trường nhìn nhận rõ ưu, khuyết
điểm của mình, từ đó nhân lên ưu điểm và khắc phục hạn chế thiếu sót trong
tuần tới, từng bước chuyển biến và ổn định tác phong lề lối làm việc, nâng cao
chất lượng, năng suất và hiệu quả công tác.
2.3.3. Xây dựng củng cố hoạt động của tổ chuyên môn làm làm nền
tảng cho công tác bồi dưỡng đội ngũ giáo viên
Đây là một nội dung quan trọng của công tác quản lý, nó có vai trò rất lớn
trong công tác bồi dưỡng đội ngũ giáo viên và chất lượng giáo dục. Hoạt động
hiệu quả của mỗi giáo viên sẽ tạo ra điều kiện tốt nhất để mỗi giáo viên tự học
hỏi lẫn nhau về kiến thức, chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm, từ đó nâng cao
trình độ năng lực của mình. Với vai trò như vậy đòi hỏi tổ chuyên môn phải
được tổ chức hợp lý và hoạt động có nề nếp và khoa học.
Nhà trường phân cấp quản lý, giao nhiệm vụ cho các tổ chuyên môn rõ

từng mặt.
Ngoài ra, hàng năm chú trọng phát động phong trào viết sáng kiến kinh
nghiệm trong toàn trường hơn, tập trung vào yêu cầu đổi mới phương pháp
giảng dạy.
Làm tốt công tác thi đua khen thưởng ngay trong trong từng đợt thi đua.
Cho dù giá trị vật chất không đáng là bao nhưng cũng đã động viên được giáo
viên kịp thời, khích lệ được phong trào ngày càng hiệu quả.
Thông qua các phong trào thi đua, giáo viên đã có thêm được rất nhiều
kinh nghiệm trong công tác giảng dạy. Hoạt động này thật sự thiết thực cho công
tác tự học, tự rèn luyện của mỗi người.
2.3.4. Thường xuyên bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ
giáo viên
Bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ là một việc không thể thiếu của giáo
viên trong suốt quá trình giảng dạy. Mỗi giáo viên cần có một trình độ chuyên
môn vững chắc, sâu rộng về bộ môn của mình. Vì vậy trong quá trình giảng dạy
giáo viên cần được bồi dưỡng những kiến thức cập nhật, nâng cao của bộ môn
khoa học mà mình dạy. Trên cơ sở những kiến thức chuyên môn vững chắc, giáo
viên mới thể hiện kỹ năng sư phạm nhuần nhuyễn. Có nghĩa là người giáo viên
có một trình độ chuyên môn vững chắc, kiến thức sâu sắc và toàn diện là cơ sở
cho việc cải tiến các phương pháp dạy học và hoàn thiện nghệ thuật sư phạm của
mình.
Đặc biệt, hiện tại giáo viên của trường đang dạy chéo ban như: giáo viên
chuyên môn đào tạo Hóa, Sinh phải dạy Lý, giáo viên chuyên môn Địa phải dạy
Sử, giáo viên chuyên môn Tiếng Anh dạy GDCD, … họ sẽ phải làm gì để dạy
11


học đạt chất lượng theo yêu cầu bộ môn, và đây cũng là bước chuẩn bị cho hai
năm tới sẽ thực hiện chương trình mới?
- Trước hết mỗi giáo viên phải tự học, tự nghiên cứu củng cố kiến thức có

sinh: Nhà trường, tổ chuyên môn thực hiện nghiêm túc quy chế đánh giá xếp
loại học sinh theo thông tư 58 của Bộ Giáo dục và Đào tạo đảm bảo công bằng,
khách quan, bên cạnh đó nhà trường đề cao và khuyến khích việc đánh giá học
sinh trên cơ sở sự tiến bộ của các em theo thời gian, kết quả thực hiện nhiệm vụ
được giao và quan trọng nhất là các em có ý thức và thực sự đã vượt qua chính
mình, giúp các em tự tin hơn trong học tập và tham gia các hoạt động giáo dục.
2.3.5. Tăng cường công tác kiểm tra nội bộ, kiểm tra của Ban giám hiệu và
của tổ chuyên môn
12


Kiểm tra là một trong bốn nội dung, chức năng của người cán bộ quản lý
trong công việc quản lý nhà trường. Kiểm tra là vũ khí, là động lực cho sự phát
triển. Trong nhà trường, thực hiện thường xuyên công tác kiểm tra chính là nhắc
nhở mọi người làm việc đúng, đồng thời phát hiện kịp thời những mặt tốt để
phát huy, tìm ra những mặt hạn chế để khắc phục. Thói quen nghiêm túc, làm
việc có kế hoạch khoa học trong công việc không phải tự nhiên ai cũng có mà
hầu hết được hình thành và phát triển trong suốt cả quá trình công tác mà lúc
đầu thường là chưa tự giác. Làm tốt công việc này chúng ta đã và đang làm cho
giáo viên chuyển đổi từ lượng sang chất, làm tôt công tác kiểm tra theo đúng
nguyên tắc, thiết thực sẽ tạo nên hiệu quả đích thực, giúp mỗi người ngày càng
tự giác và nghiêm túc hơn.
Cần xác định nội dung kiểm tra phải mang tính chất toàn diện, đó là việc
thực hiện các quy định về chuyên môn như: kế hoạch giảng dạy, soạn giáo án,
thực hiện chương trình, thực hiện chế độ kiểm tra cho điểm, việc chấm, chữa bài
cho học sinh, việc dự giờ thăm lớp, tự học, công tác chủ nhiệm và một số công
tác khác. Ngoài kiểm tra theo lịch cần chú trọng việc kiểm tra đột xuất, nhất là
dự giờ đột xuất và việc thực hiện quy chế chuyên môn. Việc dự giờ đột xuất
giúp quản lý đánh giá chất lượng giáo viên một cách chính xác, khách quan hơn.
Sử dụng kết quả kiểm tra để nhắc nhở, rút kinh nghiệm những giáo viên

trang thiết bị dạy học, đáp ứng yêu cầu đổi mới trong dạy học hiện đại. Để làm
được điều này cả cán bộ, giáo viên đều phải làm tốt công tác xã hội hoá giáo dục
để phụ huynh học sinh, chính quyền địa phương cùng tham gia thực hiện.
2.3.7. Đấy mạnh công tác thi đua khen thưởng
Nhà trường, giáo viên có nhận thức đúng đắn về việc công tác thi đua,
đánh giá, xếp loại kể cả giáo viên và học sinh phải hết sức khách quan, toàn
diện, phải nhh́n nhận mọi vấn đề trên nhiều phương diện khác nhau, đánh giá phải
mang tính tiến bộ, thúc đẩy phát triển chứ không nên đánh giá để làm thui chột ý
chí phấn đấu của giáo viên trong qua trình công tác. Công tác động viên tuyên
truyền, mạnh dạn đặt niềm tin vào giáo viên để khơi dậy sự năng động sáng tạo,
dám nghĩ, dám làm trong đội ngũ.
Xây dựng quy chế, bảng điểm thi đua dựa trên nhiệm vụ của đơn vị, cá
nhân, tiêu chuẩn nghề nghiệp giáo viên Trung học cơ sở và qui chế dân chủ
trong cơ quan. Bảng điểm được đưa ra công khai và được hội thảo ở các tổ
chuyên môn, bộ phận chức năng sau đó được tập hợp về ban thi đua điều chỉnh,
bổ sung và thống nhất trình Hội nghị cán bộ công chức, viên chức và người lao
động vào đầu các năm học thông qua.
Trong năm học ban thi đua chỉ đạo các tổ chuyên môn bình xét theo bảng
điểm và xếp loại theo thứ tự trong tổ từ cao đến thấp. Sau đó Ban thi đua họp và
xét duyệt theo từng tiêu chuẩn đối với từng cá nhân và đảm bảo vô tư, khách
quan, công bằng thật sự.
* Cách thức tổ chức thực hiện các giải pháp trên:
Hàng năm, Ban giàm hiệu căn cứ vào nhiệm vụ năm học của Bộ Giáo dục
và Đào tạo, Sở Giáo dục và Đào tạo Thanh Hóa, Phòng Giáo dục và Đào tạo
thành phố Thanh Hoá và điều kiện thực tế của nhà trường để xây dựng kế hoạch
thực hiện nhiệm vụ năm học cho phù hợp, khả thi; xây dựng các kế hoạch hoạt
động học kỳ, hàng tháng, hàng tuần chi tiết và tổ chức thực hiện đạt chất lượng
cao.
Ban giám hiệu chỉ đạo, phân công nhiệm cụ thể đến từng giáo viên thực
hiện nhiệm vụ, tổ chức kiểm tra đánh giá kết quả dưới nhiều hình thức để kịp thời

- Thi giáo viên giỏi cấp trường 1 lần/ năm học, kết quả 9/9 giáo viên tham
gia, kết quả: xếp loại Giỏi 9/9 giáo viên, đạt tỷ lệ 100%;
- Dự giờ, góp ý “Giờ dạy theo phương pháp học sinh nghiên cứu bài học”
18 giờ, kết quả: 100% giờ dạy đạt yêu cầu trở lên;
- Dự giờ đột xuất được 4 giáo viên, mỗi giáo viên 1-2 tiết, đạt 100% giờ
Khá;
- Tổ chức thao giảng, có 9/9 giáo viên tham gia, kết quả: xếp loại Giỏi có
4/9 = 44%, xếp loại Khá 5/9 = 56%.
- Kiểm tra kế hoạch giảng dạy, giáo án hàng tuần và kiểm tra hồ sơ cá
nhân, tổ nhóm chuyên môn hàng tháng. Kết quả xếp loại Tốt: 8/9 = 88,9%, Khá:
1/9 = 11,1%.
- Kiểm tra đột xuất được hai giáo viên kết quả đạt loại Khá 2/2 = 100%.
Kiểm tra toàn diện 3 giáo viên, cả ba giáo viên đều được xếp loại “Hoàn thành
tốt nhiệm vụ”.
- Công tác Bồi dưỡng thường xuyên có 9/9 = 100% giáo viên thực hiện
đầy đủ theo kế hoạch.
- Tổng kiểm tra sách giáo khoa, vở ghi, đồ dùng học tập học sinh các lớp
2 lần/học kỳ, tổ cờ đỏ kiểm tra thường xuyên hàng tuần. Kết quả: 100% học sinh
có đủ sách, vở, đồ dùng học tập, trong đó đạt loại Tốt: 81%, đạt loại Khá:14%,
loại Trung bình: 5% (chủ yếu ở khối 6).
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận:
15


Đội ngũ giáo viên là lực lượng chủ yếu và quan trọng nhất trong tập thể
sư phạm nhà trường, ở bất cứ thời điểm nào, giai đoạn nào người giáo viên cũng
là nhân tố quyết định chất lượng dạy học, giáo dục. Một nhà trường có đội ngũ
giáo viên đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đảm bảo về chất lượng là nền tảng
vững chắc giúp nhà trường đạt được mục tiêu giáo dục đã đề ra. Trong giai đoạn

b. Về phía Ngành giáo dục và các cấp lãnh đạo :
- Sở Giáo dục và Đào tạo Thanh Hóa, Phòng Giáo dục và Đào tạo thành
phố Thanh Hóa nên tổ chức thêm các đợt học bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp
vụ, ngoại ngữ và công nghệ thông tin giúp giáo viên được tiếp cận và hội nhập
với các nền giáo dục hiện đại trên thế giới.

16


- Cán bộ quản lí các nhà trường cần gương mẫu trong việc thực hiện quy
chế, qui định của Ngành; thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ của mình trong đó
chú trọng đến công tác bồi dưỡng giáo viên.
- Qua các đợt kiểm tra thì các cấp quản lý của ngành giáo dục phải có chế
độ khen thưởng thích đáng để khích lệ động viên giáo viên, giúp họ có thêm
động lực trong giảng dạy và thực hiện nhiệm vụ.
- Có chế độ ưu đãi, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho cán bộ,
giáo viên, nhân viên và người lao động trong ngành Giáo dục, để họ an tâm và
đầu tư hơn nữa cho công tác chuyên môn, công tác chủ nhiệm… mới nâng cao
được chất lượng giảng dạy toàn diện trong nhà trường.
Xin chân thành cám ơn!
XÁC NHẬN
CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Hoằng Lý, ngày 05 tháng 4 năm 2019
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình
viết, không sao chép nội dung của người
khác.
Người viết:

Lê Ngọc Kiện

đội ngũ giáo viên ở trường
THCS Hoằng Lý-TP. Thanh
Hóa
Một số biện pháp huy động
xã hội hóa xây dựng cơ sở vật
chất nhằm nâng cao chất
lượng giáo dục toàn diện tại
trường trung học cơ sở Hoằng
Lý giai đoạn 2012-2017

Kết quả
Cấp đánh
đánh giá
giá xếp loại
xếp loại
(Phòng, Sở,
(A, B,
Tỉnh...)
hoặc C)

Nãm học
đánh giá xếp
loại

Phòng Giáo
dục và Đào
tạo, TPTH

A


…………………….………………………………………………..…….………
………………………………………….…….……………………..
………………………………….………………………………………………..
…….………
………………………………………….…….……………………..……………
……………………….………………….……………….…………..…………...
…………………………...……………….…………………….…………………
…………………….………………………………………………..…….………
………………………………………….…….……………………..……………
Ý KIẾN NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC CẤP THÀNH PHỐ
…………………….………………………………………………..…….………
………………………………………….…….……………………..……………
……………………….………………….……………….…………..…………...
…………………………...……………….…………………….…………………
…………………….………………………………………………..…….………
………………………………………….…….……………………..……………
……………………….………………….……………….…………..…………...
…………………….………………………………………………..…….………
………………………………………….…….……………………..……………
Ý KIẾN NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC CẤP TỈNH
…………………….………………………………………………..…….………
………………………………………….…….……………………..……………
……………………….………………….……………….…………..…………...
…………………………...……………….…………………….…………………
…………………….………………………………………………..…….………
………………………………………….…….……………………..……………
20


……………………….………………….……………….…………..…………...


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status