BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
--------***--------
ĐỖ PHƯƠNG ANH
NGHIÊN CỨU TÁC DỤNG CẢI THIỆN
SUY GIẢM TRÍ NHỚ VÀ TĂNG SINH TẾ
BÀO THẦN KINH CỦA RAU ĐẮNG BIỂN
(Bacopa monnieri (L.) Wettst) TRÊN MÔ
HÌNH CHUỘT NHẮT MẤT TẾ BÀO THẦN
KINH BỞI TRIMETHYLTIN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ
HÀ NỘI – 2019
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
-------***-------
ĐỖ PHƯƠNG ANH
MÃ SINH VIÊN: 1401017
NGHIÊN CỨU TÁC DỤNG CẢI THIỆN
SUY GIẢM TRÍ NHỚ VÀ TĂNG SINH TẾ
BÀO THẦN KINH CỦA RAU ĐẮNG BIỂN
(Bacopa monnieri (L.) Wettst) TRÊN MÔ
HÌNH CHUỘT NHẮT MẤT TẾ BÀO THẦN
KINH BỞI TRIMETHYLTIN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ
Hà Nội, ngày 18 tháng 5 năm 2019
Sinh viên
Đỗ Phương Anh
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ...........................................................................
DANH MỤC CÁC HÌNH ............................................................................................
DANH MỤC CÁC BẢNG ...........................................................................................
ĐẶT VẤN ĐỀ ............................................................................................................ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN ...................................................................................... 3
1.1. Tổng quan về dược liệu nghiên cứu: Rau đắng biển (Bacopa monnier L.) ......... 3
1.1.1. Tên gọi………………………………………………………………………………3
1.1.2. Đặc điểm thực vật, phân bố ....................................................................................... 3
1.1.3. Bộ phận dùng làm thuốc ............................................................................................ 4
1.1.4. Thành phần hóa học................................................................................................... 4
1.1.5. Tác dụng dược lý ....................................................................................................... 4
1.1.6. Tính vị, công năng ..................................................................................................... 5
1.1.7. Công dụng …………………………………………………………………………5
1.1.8. Bài thuốc có Rau đắng biển ....................................................................................... 5
1.1.9. Một số nghiên cứu về BME....................................................................................... 6
1.2. Tổng quan về suy giảm trí nhớ và sa sút trí tuệ .................................................. 7
1.2.1. Khái niệm sa sút trí tuệ và suy giảm trí nhớ .............................................................. 7
1.2.2. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh ............................................................................. 9
1.2.3. Thuốc điều trị .......................................................................................................... 12
1.2.4. Một số mô hình nghiên cứu ..................................................................................... 15
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU......................... 18
2.1. Nguyên vật liệu, thiết bị .................................................................................... 18
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu .............................................................................................. 18
4.1.3. Về tác dụng cải thiện suy giảm trí nhớ của cao chiết Rau đắng biển bằng thử nghiệm
lẩn tránh thụ động. ............................................................................................................. 39
4.2. Về tác dụng tăng sinh tế bào thần kinh của cao chiết Rau đắng biển trên mô hình
chuột TMT bằng phương pháp nhuộm Nissl. .......................................................... 40
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .................................................................................. 42
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...........................................................................................
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TMT
BME
Trimethyltin
Bacopa monnier (L.)
Trimethyltin
Cao chiết Rau đắng biển
Wettst. Extract
OBX
Olfactory bulbectomized
Mất thùy khứu giác
βAP
Amyloid Precursor Protein
Tiền chất amyloid
Ach
Acetylcholin
Acetylcholin
AchE
Acetylcholinesterase
Acetylcholinesterase
TMT – BME
Chuột được điều trị bằng Trimethyltin
và cao chiết Rau đắng biển
TMT – nước
Chuột được điều trị bằng Trimethyltin
và nước
OLT
PBS
20
Hình 2.2: Sơ đồ thiết kế thí nghiệm
21
Hình 2.3: Sơ đồ thí nghiệm OLT
22
Hình 2.4: Sơ đồ thí nghiệm mê lộ chữ Y cải tiến
23
Hình 2.5: Sơ đồ thí nghiệm lẩn tránh thụ động
24
Hình 2.6: Sơ đồ thiết kế thí nghiệm
25
Hình 3.1: Tác dụng cải thiện suy giảm trí nhớ ngắn hạn của BME (50 mg/kg)
27
trên chuột TMT được đánh giá bằng thử nghiệm OLT.
Hình 3.2: Tác dụng cải thiện suy giảm trí nhớ của BME (50 mg/kg) trên chuột
18
Bảng 2.2: Trang thiết bị
19
ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo một số nghiên cứu thống kê đã được công bố, sẽ có khoảng 63 triệu người bị
sa sút trí tuệ trên toàn thế giới vào năm 2030. Trong số những người sa sút trí tuệ, 60%
sống ở các nước đang phát triển, con số này tăng lên 71% vào năm 2040 [44]. Hội chứng
sa sút trí tuệ thường có tính chất mạn tính, tiến triển dần dần và thường trở nên tồi tệ sau
một vài năm. Chứng sa sút trí tuệ có ý nghĩa quan trọng về mặt kinh tế và xã hội liên quan
đến gánh nặng về chi phí y tế, chi phí chăm sóc, chi phí xã hội. Trong khi đó, các phương
pháp điều trị hiện tại không có hiệu quả kéo dài tuổi thọ, chữa khỏi, hoặc tạm dừng hoặc
đảo ngược quá trình sinh lý bệnh. Mặt khác, đa số các thuốc được sử dụng trong điều trị là
tân dược và có nhiều tác dụng không mong muốn. Do đó, việc nghiên cứu phát triển các
loại thuốc mới không chỉ có hiệu quả trong việc ngăn chặn và điều trị sa sút trí tuệ mà còn
có thể sử dụng trong thời gian dài nhưng không gây ra các phản ứng bất lợi là rất cần thiết.
Rau đắng biển có tên khoa học là Bacopa monnieri (L.) Wettst. (BM) thuộc họ Hoa
mõm chó (Scrophulariaceae), được biết đến như một cây thuốc ở Ấn Độ và Đông Nam Á
để tăng cường trí nhớ và cải thiện chức năng não bộ. Ở Việt Nam, cây Rau đắng biển mọc
hoang dại ở nhiều nơi, được người dân sử dụng làm rau ăn hàng ngày và điều trị một số
bệnh như suy nhược thần kinh, động kinh, mất trương lực cơ... theo kinh nghiệm dân gian.
Các nghiên cứu trước đây sử dụng các mô hình động vật thiếu hụt nhận thức khác
nhau đã chứng minh rằng việc điều trị bằng Rau đắng biển có tác dụng cải thiện trí nhớ và
bảo vệ tế bào thần kinh chống lại sự tổn thương não bộ [33], [36], [48], [50], [57]. Bằng
chứng chỉ ra rằng Rau đắng biển làm giảm stress oxy hóa trong não và do đó bảo vệ các tế
bào thần kinh khỏi các độc tố gây stress oxy hóa [19], [53]. Nó không chỉ làm giảm sự lắng
đọng β-amyloid vùng đồi thị mà còn làm giảm tổn thương vùng đồi thị do stress [15].
Tên khoa học: Bacopa monnier (L.) Wettst, họ Hoa mõm chó (Scrophulariaceae) [1]
1.1.2. Đặc điểm thực vật, phân bố
❖ Đặc điểm thực vật
Rau đắng biển là cây thảo, sống lâu năm, cao 10 – 20cm. Thân nhẵn, phần gốc mọc bò,
bén rễ ở những mấu, phần trên mọc đứng. Lá mọc đối, không cuống, hình trái xoan, mọng
nước, dài 0.8 – 1.2cm, rộng 3 – 5mm, gốc thuôn, đầu tù, hai mặt nhẵn, chỉ gân giữa rõ.
Hoa màu trắng, mọc đơn độc ở kẽ lá trên một cuống dài; lá bắc dạng lá, lá bắc con hình
sợi; đài năm răng không bằng nhau, ba cái hình trái xoan, hai cái hình chỉ; tràng dài gấp hai
lần đài, năm cánh gần bằng nhau; nhị bốn, chỉ nhị nhẵn.
Quả nang, hình trứng nhẵn, có đài tồn tại; hạt nhỏ, có cạnh.
Mùa hoa: tháng 4 – 9 [1].
❖ Phân bố, sinh thái
3
Bacopa Aubl. là chi tương đối lớn, có khoảng 70 loài, phân bố rải rác khắp các vùng
nhiệt đới và cận nhiệt đới; sống tập trung nhiều ở khu vực Trung và Nam Mỹ. Ở Việt Nam
chỉ có hai loài [1]. Loài Rau đắng biển được coi là cây liên nhiệt đới, đồng thời cũng có thể
thấy ở vùng cận nhiệt đới. Ở châu Á, Rau đắng biển phân bố rộng rãi từ vùng Nam Trung
Quốc, Việt Nam, Lào đến các nước khác ở Đông Nam châu Á.
Ở Việt Nam, Rau đắng biển phân bố ở khắp các vùng đồng bằng và trung du miền Bắc
và miền Nam. Cây ưa sáng, thường mọc trên đất ẩm, pha cát lẫn với các loại vỏ thấp ở bờ
ruộng, bãi sông, bờ kênh mương… Cây ra hoa quả nhiều hàng năm, tái sinh tự nhiên chủ
yếu từ hạt. Cây còn có khả năng mọc chồi khỏe từ kẽ lá, kể cả phần còn sót lại sau khi cắt.
Do đó, Rau đắng biển cũng bị coi là cây cỏ dại ảnh hưởng tới cây trồng [1].
1.1.3. Bộ phận dùng làm thuốc
Phần trên mặt đất, thu hái quanh nắm, dùng tươi hoặc phơi khô [1].
1.1.4. Thành phần hóa học.
Rau đắng biển chứa một triterpene là bacosin [1], [26]. Chất này có tác dụng gây tê.
Ngoài ra, cây còn chứ nhiều saponin triterpenic như bacosaponin A (3-O-α-Larabinopyranosyl-20-O-α-L-arabinopyranosyl-jujubogenin), bacosaponin B (3-O-[α-Larabinopyranosyl (1→2) α-L-arabinopyranosyl] -pseudojujubogenin), bacosaponin C (3O- [β-D-glucopyranosyl (1→3) [α-L-arabinopyranosyl (1→2)] α-L-arabinopyranosyl
nhiệt giải độc, lợi tiểu, tiêu thũng, nhuận tràng [1].
1.1.7. Công dụng
Toàn cây Rau đắng biển được dùng chữa suy nhược thần kinh [9], mất trương lực
cơ, động kinh, thao cuồng, mất tiếng, khản tiếng, viêm phế quản cấp, ho, hen [1]. Còn chữa
bí đái, viêm gan, thấp khớp, rắn cắn và bệnh ngoài da như da sưng dày lên như da voi, lở,
nhọt độc, ghẻ. Ngày 6 – 12g dạng thuốc sắc. Dùng ngoài không kể liều lượng.
Ngọn lá Rau đắng biển có thể dùng như rau sống hoặc nấu chín ăn [1].
1.1.8. Bài thuốc có Rau đắng biển
❖ Chữa động kinh, thao cuồng, suy nhược thần kinh, mất tiếng, khản tiếng (Bài thuốc
Brahmi ghrita ở Ấn Độ):
Dùng bốn lít dịch ép Rau đắng biển tươi, bốn lít bơ, các vị thủy xương bồ, mộc hương
và rễ cỏ bươm bướm (Canscora decussata (Roxb.) Roem et Schult., Gentianaceae) mỗi vị
120g đã tán thành bột mịn. Tất cả cho vào đánh kỹ rồi đun nhỏ lửa cho đến khi bốc hết hơi
5
thành bột nhão. Liều dùng 5 – 10g, ngày 2 lần, uống với sữa, sau khi ăn. Có thể chế thành
siro rồi uống.
❖ Chữa khản tiếng do lao phổi (tài liệu Ấn Độ):
Rau đắng biển, thủy xương bồ, rễ cang mai, quả chiêu liêu, tất bát (Piper longum L.,
Piperaceae). Các vị phơi khô tán bột với lượng bằng nhau. Ngày uống 2 – 3 lần, mỗi lần
10g với mật ong.
❖ Chữa rắn cắn:
Rau đắng biển 30g, dây mơ lông 30g, lá mướp đắng 30g, đọt cây sập 20g, rau cần tươi
20g, rau má 20g. Tất cả dùng tươi, giã nát, vắt lấy nước uống, bã đắp (kinh nghiệm của
nhân dân Minh Hải) [1].
1.1.9. Một số nghiên cứu về BME
Nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng việc điều trị bằng BME sau một khoảng thời gian
cải thiện rõ rệt khả năng học tập và trí nhớ ở chuột so với nhóm chứng sinh lý thông qua
thử nghiệm mê lộ chữ T và thử nghiệm lẩn tránh thụ động [58].
do oxy hóa và glucose (OGD) thông qua PKC và PI3 [38]. Tuy nhiên, hiện tại vẫn chưa rõ
liệu tác dụng chống mất trí nhớ của cao chiết Rau đắng biển có liên quan đến sự hình thành
thần kinh nội sinh hay không.
1.2.
Tổng quan về suy giảm trí nhớ và sa sút trí tuệ
1.2.1. Khái niệm sa sút trí tuệ và suy giảm trí nhớ
Theo định nghĩa của WHO: “Sa sút trí tuệ là một hội chứng cấp tính hay mạn tính
do bệnh của não, gây rối loạn chức năng thần kinh cao cấp bao gồm trí nhớ, tư duy, phương
hướng, sự hiểu biết, tính toán, khả năng học hỏi, ngôn ngữ và phán xét nhưng ý thức chưa
bị mất hoàn toàn. Hội chứng đi kèm sự suy giảm chức năng nhận thức do suy giảm trong
kiểm soát cảm xúc, động cơ và hành vi xã hội. Hội chứng xảy ra trong bệnh Alzheimer,
bệnh mạch máu não và trong các điều kiện khác trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng đến
não” [54].
Hoạt động của trí nhớ gồm có ba quá trình cơ bản [6]:
❖ Quá trình ghi nhận:
Quá trình hưng phấn ở những hệ thống cấu trúc cơ động của bộ não trước những kích
thích của thực tại: Càng chú ý và càng thích thú với kích thích bao nhiêu thì quá trình ghi
nhận càng chắc chắn, rõ ràng bấy nhiêu.
❖ Quá trình bảo tồn:
7
Quá trình hình thành những đường liên hệ tạm thời để duy trì dấu vết của những kích
thích đã tác động vào bộ não. Kích thích càng mạnh, càng được lặp lại thì quá trình bảo tồn
càng bền vững.
❖ Quá trình nhớ lại:
Quá trình hồi phục những đường liên hệ tạm thời đã được bảo tồn trong những hệ thống
cấu trúc cơ động của bộ não. Nhớ lại tốt chứng tỏ quá trình bảo tồn tốt. Thường nhớ lại
8
Sa sút trí tuệ cần được phân biệt với tình trạng giảm trí nhớ sinh lý của người lớn
tuổi (quên lành tính của tuổi già) vốn là hệ quả của sự lão hóa, trong đó các quá trình thần
kinh bị chậm đi. Người có chứng quên lành tính của tuổi già học các thông tin mới bị chậm
hơn và cũng nhớ lại các thông tin mới học được chậm hơn người bình thường, tuy nhiên
nếu họ được cho thêm thời gian để được thực hiện những hoạt động này thì họ vẫn đạt được
các thành tích trí tuệ ở mức chuẩn của người bình thường. Các hoạt động thường ngày của
họ cũng không bị ảnh hưởng [20].
1.2.2. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh
Có nhiều nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh dẫn tới suy giảm trí nhớ:
❖ Nguyên nhân do bệnh lý thoái hóa:
Suy giảm trí nhớ thường gặp trong bệnh Alzheimer. Alzheimer là một bệnh lý thoái hóa
thần kinh tiến triển, các rối loạn thần kinh không thể đảo ngược và được đặc trưng về mặt
lâm sàng bởi mất trí nhớ và suy giảm nhận thức [30]. Tuy nhiên, nguyên nhân và cơ chế
bệnh sinh của bệnh Alzheimer chưa được biết chính xác. Tuổi tác và yếu tố gen di truyền
là những nguy cơ quan trọng nhất.
Hình 1.2: Sơ đồ bệnh sinh
9
-
Giả thuyết beta amyloid:
β - amyloid peptid (βAP) là những sản phẩm tự nhiên của quá trình chuyển hóa bao
gồm 36-43 acid amin, βA42 ít phổ biến hơn so với các βAP nhưng lại dễ bị kết tụ và hình
thành mảng bám. Sự mất cân bằng giữa sản xuất, thanh thải của các peptid làm cho các
suy giảm nhận thức trong bệnh Alzheimer, do đó, việc tăng cường chức năng hệ cholinergic
có thể cải thiện triệu chứng mất trí nhớ [14], [55], [22].
10
-
Giả thuyết apolipoprotein E
Những nghiên cứu trước đây đã tìm thấy nhiều mối liên hệ giữa cholesterol và sự
xuất hiện của bệnh Alzheimer. Apolipoprotein E (Apo E) là một lipoprotein có nhiệm vụ
vận chuyển cholesterol trong não. Apoliprotein E4 có liên quan đến tăng tính lắng đọng của
βAP và được cho là đóng vai trò như một chất điều hòa thúc đẩy trong quá trình bệnh sa
sút trí tuệ mạch máu. Cholesterol được vận chuyển bằng LDL vào tế bào thần kinh và liên
kết với NFTs. Mức cholesterol cao trong tế bào thần kinh não có thể làm thay đổi chức
năng màng tế bào, dẫn đến hình thành các βAP và các mảng bám [22], [55], [14].
-
Các chất trung gian gây viêm
Giả thuyết cho rằng, khi βAP tích tụ, các thực bào tiểu thần kinh đệm được kích hoạt và
tăng cường phản ứng của các tế bào hình sao với các mảng bám. Các thực bào tiểu thần
kinh đệm làm giảm βAP bằng cơ chế thực bào. Các tế bào hình sao đưa βAP vào tế bào
chất gián tiếp qua receptor và vận chuyển βAP vào tuần hoàn chung, do đó cũng làm giảm
βAP. Tuy nhiên, việc kích hoạt mạn tính các tiểu thần kinh đệm dẫn tới giải phóng các
cytokin như interleukin-1 (IL-1), interleukin-6 (IL-6) và yếu tố hoại tử khối u (TNF-α),
nitric oxid ... làm tổn thương các tế bào thần kinh và thúc đẩy quá trình viêm liên tục. Trên
thực tế, nhiều cytokin và chemokin tăng lên trong não bệnh nhân Alzheimer, và một số kiểu
đa hình gen tiền viêm được báo cáo là có liên quan với bệnh Alzheimer [55], [14], [22].
❖ Nguyên nhân không do bệnh lý thoái hóa
hệ thần kinh trung ương ở các bệnh nhân sa sút trí tuệ do bệnh Alzheimer và những khiếm
khuyết gây suy giảm trí nhớ, nhận thức.
Cho tới nay, thuốc kháng enzym cholinesterase được xem là nhóm thuốc chính trong
điều trị Alzheimer và các bệnh sa sút trí tuệ khác, đã được chứng minh là có hiệu quả trong
việc điều trị các triệu chứng của bệnh Alzheimer và các bệnh sa sút trí tuệ khác khi được
sử dụng ở giai đoạn bệnh nhẹ hay nặng trung bình (10-24 điểm MMSE), tuy nhiên các
thuốc này không ngăn chặn được diễn tiến tự nhiên của bệnh. Các thuốc thuộc nhóm này
bao gồm: tacrin, donepezil, rivastigmin, galantamine [3].
❖ Nhóm thuốc kháng thụ thể N-methyl D aspartate (NMDA)
Glutamat là một chất dẫn truyền thần kinh kích thích có thể đóng vai trò quan trọng
trong việc phát triển và tiến triển của bệnh thoái hóa thần kinh. Một giả thuyết cho rằng vai
trò của glutamate là phát quá mức xung động thần kinh dẫn đến kích thích quá mức của các
thụ thể glutamate NMDA, gây tăng nhập calci vào tế bào gây phá hủy các neuron [5]. Do
đó, các thuốc tác động vào thụ thể NMDA sẽ làm cải thiện được tình trạng bệnh.
Memantin, một thuốc thuộc nhóm NMDA, là thuốc đối kháng không cạnh tranh trên
thụ thể NMDA của hệ thống glutamat. Memantin giảm ức chế receptor NMDA đối với
12
glutamate sinh lý và tăng ức chế receptor này đối với glutamate bệnh lý, do đó cải thiện trí
nhớ và chức năng nhận thức [28]. Điều trị Alzheimer vừa và nặng với memantin không cải
thiện chức năng và hành vi, nhưng cải thiện ít tổng thể và tình trạng nhận thức [22], [14],
[28].
❖ Chất tác dụng trên amyloid bệnh lý
Tuy dòng thác amyloid là một trọng tâm nghiên cứu trong điều trị suy giảm trí nhớ
nhưng đến nay vẫn chưa có thuốc đối kháng amyloid nào được phê duyệt, mặc dù nhiều
chất đang ở pha cuối thử nghiệm lâm sàng [22].
-
Giảm sản xuất Aβ:
-
Tăng thải trừ Aβ:
Loại bỏ độc tính của Aβ thông qua đáp ứng miễn dịch làm giảm bớt những tác động
có hại của Alzheimer với 4 cơ chế chính: (i) liên kết kháng thể và thực bào nhờ tế bào tiểu
thần kinh đệm microglia; (ii) trực tiếp hòa tan thông qua sự gián đoạn của Aβ; (iii) chiết
tách hòa tan từ hệ thần kinh trung ương bởi kháng thể trong huyết tương; (iv) liên kết kháng
thể để ức chế oligome gây độc tính mà không ảnh hưởng tới amyloid. Bapineuzumab và
Solanezumab đang được nghiên cứu với cơ chế tạo ra kháng thể trung gian giải phóng Aβ
[28].
1.2.3.2.
Nhóm điều chỉnh hành vi (Tăng cường hoạt tính serotonin)
Nhóm này có tác dụng tăng cường tái hấp thu serotonin chọn lọc SSRIs có tác dụng
giúp bệnh nhân điều chỉnh hành vi, chống trầm cảm, tránh kích thích hoặc lú lẫn. Nhóm
này gồm có Fluoxetin, Citalopram, Escitalopram, Paroxetin [14], [22], [55].
1.2.3.3.
Các thuốc chống oxy hóa và các nhóm khác
❖ Vitamin E:
Giảm tổn thương do tế bào bị oxy hóa bởi các gốc tự do.
❖ Ginkgo Biloba:
Tăng tuần hoàn, cải thiện suy giảm trí nhớ.
❖ Estrogen:
Ảnh hưởng đến quá trình bảo vệ và dinh dưỡng thần kinh.
❖ Kháng viêm NSAIDs:
Có một nghiên cứu cho thấy nhóm này có tác dụng giảm nguy cơ mắc bệnh