BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ CẢNH
THỰC TRẠNG VÀ KIẾN THỨC
VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI MỘT SỐ
BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH NĂM 2018
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
HÀ NỘI – 2019
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ CẢNH
THỰC TRẠNG VÀ KIẾN THỨC
VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI MỘT SỐ
BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH NĂM 2018
Chuyên ngành : Y tế công cộng
Mã số
tháng
năm 2019
Học viên
Nguyễn Thị Cảnh
LỜI CAM ĐOAN
Tôi là Nguyễn Thị Cảnh, học viên cao học khóa 26, Trường Đại học Y Hà
Nội, chuyên ngành Y tế công cộng, xin cam đoan:
1. Đây là luận văn do bản thân tôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫn của cô
T.S Trần Quỳnh Anh và PGS.TS Nguyễn Thị Liên Hương
2. Công trình này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác đã được
công bố tại Việt Nam
3. Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu là hoàn toàn chính xác, trung thực
và khách quan, đã được xác nhận và chấp thuận của cơ sở nơi nghiên cứu
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về những cam kết này.
Hà Nội, ngày 20 tháng 05 năm 2019
Học viên
Nguyễn Thị Cảnh
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BTNMT
Human Immunodeficiency Virus
HIV
QLCTRYT
(Vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người)
Quản lý chất thải rắn y tế
World Health Organization
WHO
(Tổ chức Y tế thế giới)
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ ............................................................................................................1
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU..................................................................3
1.1. Một số vấn đề cơ bản về quản lý chất thải rắn Y tế .............................................3
1.1.1. Các khái niệm cơ bản ................................................................................. 3
1.1.2. Quản lý chất thải y tế bao gồm ................................................................... 3
1.1.3. Nguy cơ của chất thải rắn y tế .................................................................... 6
1.2. Tình hình quản lý chất thải rắn y tế ...................................................................11
1.2.1. Trên thế giới ............................................................................................. 11
1.2.2. Tại Việt Nam ............................................................................................ 12
1.3. Kiến thức của CBYT và một số yếu tố liên quan……………………………..17
1.4. Thông tin chung về các bệnh viện tham gia nghiên cứu……………………....19
CHƢƠNG 2: ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ...................21
2.1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu ......................................................................21
2.2. Đối tượng nghiên cứu.........................................................................................21
2.2.1. Mục tiêu 1 ................................................................................................. 21
PHỤ LỤC
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1:
Dự báo khối lượng chất thải rắn y tế nguy hại phát sinh ......................6
Bảng 1.2:
Nguy cơ tổn thương và lây nhiễm qua các vật sắc nhọn ......................8
Bảng 1.3:
Một số nhiễm khuẩn gây ra do tiếp xúc với các loại CTYT .................9
Bảng 1.4:
Khối lượng CTRYT, CTYTNH tại các địa phương năm 2014...........15
Bảng 2.1:
Địa điểm triển khai nghiên cứu ...........................................................22
Bảng 2.2
Cách tính điểm đạt từng phần kiến thức của CBYT về QLCTRYT...24
Bảng 3.1:
Bảng 3.9:
Kiến thức về thu gom chất thải y tế ....................................................43
Bảng 3.10:
Kiến thức về lưu giữ chất thải y tế ......................................................44
Bảng 3.11:
Kiến thức về vận chuyển chất thải y tế nguy hại để xử lý theo mô
hình cụm cơ sở y tế .............................................................................45
Bảng 3.12:
Kiến thức về xử lý chất thải y tế nguy hại ..........................................46
Bảng 3.13:
Mối liên quan giữa kiến thức của CBYT về QLCTRYT và một số yếu
tố nhân khẩu học, trình độ, thâm niên, công tác tập huấn ...................48
Bảng 3.14:
Kiến thức của CBYT tại các đơn vị nghiên cứu…………………….49
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1.
Hình 3.3.
Khu vực lưu giữ chất thải y tế nguy hại ...............................................31
Hình 3.4.
Khu vực lưu giữ chất thải tái chế ..........................................................32
Hình 3.5.
Phân khu lưu giữ riêng từng loại chất thải............................................32
Hình 3.6.
Tủ lạnh bảo quản chất thải giải phẫu ....................................................33
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm gần đây, công tác quản lý chất thải y tế (CTYT) nhận
được sự quan tâm lớn của Đảng, Nhà nước và các bộ ngành liên quan. Mới đây,
thông tư liên tịch số 58/TTLT-BYT-BTNMT ngày 31/12/2015 quy định về quản lý
chất thải y tế được ban hành và chính thức có hiệu lực từ ngày 01/4/2016, thay thế
cho Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 của Bộ Y tế về việc ban
hành quy chế quản lý chất thải y tế để phù hợp hơn với tình hình quản lý chất thải y
tế trong giai đoạn hiện nay. Thực tế cho thấy, trong quá trình chăm sóc và bảo vệ
sức khỏe nhân dân, các cơ sở Y tế (CSYT) cũng đã thải ra một lượng lớn những
chất thải Y tế, đặc biệt chất thải Y tế nguy hại (CTNH), trong đó chất thải rắn
về việc ban hành quy chế quản lý chất thải y tế, chưa đánh giá được thực trạng công
tác quản lý CTRYT theo hướng dẫn mới tại thông tư liên tịch số 58/TTLT-BYTBTNMT ngày 31/12/2015.
Năm 2018, Trường Đại học Y Hà Nội triển khai đề tài nghiên cứu về “Xây
dựng và thử nghiệm quy trình giảm thiểu chất thải rắn y tế” trong hoạt động của
Cục Quản lý Môi trường Y tế - Bộ Y tế, nhằm đánh giá việc thực hiện giảm thiểu
CTRYT nguy hại tại một số bệnh viện tuyến tỉnh, tuyến huyện và bệnh viện tư nhân
ở 4 tỉnh Thái Nguyên, Nghệ An, Kiên Giang và Hà Nội. Đề tài chỉ rõ thực trạng về
QLCTRYT và giảm thiểu CTRYT tại bệnh viện của 4 tỉnh trên và chỉ ra các thuận
lợi, khó khăn trong việc thực hiện giảm thiểu CTRYT nguy hại để từ đó đưa ra các
khiến nghị và kịp thời đề xuất giải pháp phù hợp cho việc giảm thiểu CTRYT nguy
hại tại các CSYT. Luận văn này sử dụng một phần bộ số liệu của đề tài.
Nằm trong khuôn khổ đề tài này, luận văn “Thực trạng và kiến thức về
quản lý chất thải rắn y tế tại một số bệnh viện đa khoa tỉnh năm 2018” được
triển khai thực hiện nhằm góp phần cung cấp thêm số liệu về công tác quản lý
CTRYT cho các nhà quản lý tại các Bệnh viện nghiên cứu cũng như các nhà quản
lý các cấp có cơ sở để xây dựng và hoạch định chính sách trong lĩnh vực
QLCTRYT. Nghiên cứu được tiến hành với 2 mục tiêu như sau:
1. Mô tả thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại 3 bệnh viện đa khoa tỉnh
Nghệ An, Kiên Giang và Đức Giang, thành phố Hà Nội năm 2018.
2. Mô tả kiến thức về quản lý chất thải rắn y tế của cán bộ y tế tại 3 bệnh viện
nghiên cứu và một số yếu tố liên quan.
3
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Một số vấn đề cơ bản về quản lý chất thải rắn y tế
1.1.1. Các khái niệm cơ bản
Theo Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT ngày 31/12/2015
về quản lý chất thải y tế, chính thức có hiệu lực từ ngày 1/4/2016. Trong đó, việc
phân định chất thải y tế được chia thành 3 nhóm gồm chất thải lây nhiễm, chất thải
nguy hại không lây nhiễm và chất thải y tế thông thường [7]. Cụ thể như sau:
a. Chất thải lây nhiễm bao gồm:
- Chất thải lây nhiễm sắc nhọn là chất thải lây nhiễm có thể gây ra các vết cắt
hoặc xuyên thủng bao gồm: kim tiêm; bơm liền kim tiêm; đầu sắc nhọn của dây
chuyền; kim chọc dò; kim châm cứu; lưỡi dao mổ; đinh, cưa dùng trong phẫu thuật
và các vật sắc nhọn khác;
- Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn bao gồm: Chất thải thấm, dính, chứa
máu hoặc dịch sinh học của cơ thể; các chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách ly;
- Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao bao gồm: Mẫu bệnh phẩm, dụng cụ
đựng, dính mẫu bệnh phẩm, chất thải dính máu bệnh phẩm phát sinh từ các buồng xét
nghiệm an toàn sinh học cấp III trở lên theo quy định tại Nghị định số 103/2016/NĐCP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về bảo đảm an toàn sinh học tại phòng
xét nghiệm;
- Chất thải giải phẫu bao gồm: Mô, bộ phận cơ thể người thải bỏ và xác động
vật thí nghiệm.
b. Chất thải nguy hại không lây nhiễm bao gồm:
- Hóa chất thải bỏ bao gồm hoặc có các thành phần nguy hại;
- Dược phẩm thải bỏ thuộc nhóm gây độc tế bào hoặc có cảnh báo nguy hại
từ nhà sản xuất;
- Thiết bị y tế bị vỡ, hỏng, đã qua sử dụng thải bỏ có chứa thủy ngân và các
kim loại nặng;
- Chất hàm răng amalgam thải bỏ;
5
c. Chất thải y tế thông thường bao gồm:
- Chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trong sinh hoạt thường ngày của con người
và chất thải ngoại cảnh trong cơ sở y tế;
TT
Vùng
Toàn quốc
Khối lƣợng (kg/ngày)
Năm 2015
Năm 2025
50.071
91.991
1
Vùng đồng bằng sông Hồng
14.990
28.658
2
Vùng trung du và miền núi Bắc Bộ
4.490
7.648
8.777
Nguồn: QĐ số 170/QĐ-TTg ngày 8/2/2012 (Điều 1, mục 5)
7
Do vậy, CTRYT nói chung đặc biệt là CTRYT nguy hại nói riêng, nếu
không được quản lý tốt, có nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe con người, bao gồm
các bệnh nhân, cán bộ Y tế (CBYT) và cộng đồng; nguy cơ ảnh hưởng tới môi
trường, gây ô nhiễm không khí, ô nhiễm đất, ô nhiễm nguồn nước đặc biệt là nước
ngầm [10].
1.1.3.1. Ảnh hưởng tới sức khỏe con người
CTRYT có thể gây ra nhiều tác động xấu tới sức khỏe con người như: lây bệnh
qua đường máu cho NVYT, đặc biệt là sự cố thương tích do chất thải sắc nhọn. Dạng
phơi nhiễm nghề nghiệp phổ biến nhất qua đường máu của nhân viên y tế trong quá
trình thực hiện quản lý chất thải là bị thương do các kim tiêm lây nhiễm [2].
* Các đối tƣợng có nguy cơ ảnh hƣởng bới CTYT
- Cán bộ, NVYT: bác sĩ, y sĩ, y tá, điều dưỡng, kỹ thuật viên, hộ lý, y công,
nhân viên văn phòng, sinh viên thực tập, công nhân vận hành các công trình xử lý
chất thải..;
- Người tham gia vận chuyển, xử lý CTRYT ngoài khuôn viên bệnh viện,
người nhặt rác, bệnh nhân điều trị nội trú, ngoại trú; người nhà bênh nhân và khách
thăm, cộng đồng và môi trường xung quanh cơ sở y tế; cộng đồng sống ở vùng hạ
lưu các con sông tiếp nhận các nguồn chất thải chưa được xử lý hoặc xử lý chưa đạt
yêu cầu của các sơ sở y tế [2].
* Nguy cơ của một số CTRYTNH đối với sức khỏe con ngƣời
- Ảnh hưởng của chất thải sắc nhọn: Chất thải sắc nhọn được coi là loại
chất thải nguy hiểm, có nguy cơ gây tổn thưởng kép tới sức khỏe con người nghĩa là
vừa gây chấn thương do vết cắt, vết đâm và thông qua vết chấn thương để gây bệnh
11.700 – 45.300
23 - 91
12.200
24
100 - 400
tượng được phỏng vấn trả lời về sự bốc mùi gây khó chịu từ bãi rác CTRYT của
bệnh viện [15]. Bên cạnh đó, CTRYT có thể làm lan rộng các vi sinh vật kháng
thuốc từ các CSYT ra môi trường [16], [17].
9
Bảng 1.3: Một số nhiễm khuẩn gây ra do tiếp xúc với các loại CTRYT [2]
Loại nhiễm khuẩn
Nhiễm khuẩn tiêu hóa
Vi sinh vật gây bệnh
Phƣơng tiện lây nhiễm
Salmonella, Shigella spp; Phân hoặc chất nôn
Vibrio cholerae; Giun, sán
Nhiễm khuẩn hô hấp
Vi khuẩn lao, virus sởi, Các loại dịch tiết, đờm
bạch hầu, ho gà…
Nhiễm khuẩn mắt
Virus herper
Dịch tiết của mắt
Nhiễm khuẩn da
Staphylococcus spp
Máu
Nhiễm khuẩn huyết
Nhóm tụ cầu khuẩn;
Máu
Enterobacter;
Enterococcus;
Klebssiella; Streptococcus
Nấm Candida
Candida albican
Máu
Viêm gan A
Virus viêm gan A
Phân
Viêm gan B, C
Virus viêm gan B, C
1.1.3.2. Ảnh hưởng tới môi trường
Chất thải y tế có thể tác động xấu tới tất cả các khía cạnh của môi trường,
đặc biệt là môi trường đất, nước, không khí. Mặt khác, xử lý CTYT không đúng
phương pháp có thể gây ra vấn đề lãng phí tài nguyên thiên nhiên như sau [2]:
- Đối với môi trường đất: Quản lý CTYT không đúng quy trình và việc tiêu
hủy CTYT tại các bãi chôn lấp không tuân thủ các quy định sẽ dẫn đến sự phát tán
các vi sinh vật gây bệnh, hóa chất độc hại,… gây ô nhiễm đất và làm cho việc tái sử
dụng bãi chôn lấp gặp khó khăn.
- Đối với môi trường không khí: Chất thải y tế từ khi phát sinh đến khâu xử
lý cuối cùng đều có thể gây ra tác động xấu tới môi trường không khí. Bụi rác, bào
tử vi sinh vật gây bệnh, hơi dung môi, hóa chất,... phát sinh trong các khâu phân
loại - thu gom - vận chuyển, CTYT có thể phát tán vào không khí. Trong khâu xử
11
lý, đặc biệt là với các lò đốt CTYT quy mô nhỏ, không có thiết bị xử lý khí thải có
thể phát sinh ra các chất khí độc hại như HCL, SO2, dioxin và furan…
- Đối với môi trường nước: Tác động của CTYT đối với các nguồn nước có thể
so sánh với nước thải sinh hoạt. Tuy nhiên, nước thải từ các cơ sở y tế còn có thể chứa
Salmonella, Coliform, Tụ cầu, Liên cầu, Trực khuẩn Gram âm đa kháng, các hóa chất
độc hại, chất hữu cơ, kim loại nặng. Do đó, nếu không được xử lý triệt để trước khi xả
thải vào nguồn nước tiếp nhận, đặc biệt đối với nguồn tiếp nhận được sử dụng cho sinh
hoạt, trồng trọt, chăn nuôi, sẽ có nguy cơ gây ra một số bệnh như: tiêu chảy, lỵ, tả,
thương hàn, viêm gan A,… cho những người sử dụng các nguồn nước này.
1.2. Tình hình quản lý chất thải rắn y tế
1.2.1. Trên thế giới
Trên thế giới, việc quản lý CTYT đã được áp dụng trên 170 nước hoạt động
chủ yếu dựa trên nguyên lý của các Công ước quốc tế như: Công ước Basel về kiểm
soát vận chuyển chất thải nguy hại qua biên giới vào năm 1995; Công ước
triển có đến 18-64% các cơ sở y tế chưa tuân thủ đúng theo quy chế quản lý chất
thải y tế [24].
Nhìn chung, công tác QLCTRYT đã có nhiều bước tiến mới đặc biệt ở các
nước phát triển. Nhưng có một thực tế, tại đa số các nước đang phát triển và kém
phát triển, sự hạn chế về kinh phí, còn thiếu về: cơ sở vật chất, hạ tầng, công nghệ
và trang thiết bị xử lý rác thải tiên tiến cũng như nhận thức, thực hành của nhân viên
y tế vẫn còn nhiều hạn chế và cần được đầu tư và quan tâm hơn.
1.2.2. Tại Việt Nam
1.2.2.1. Cơ sở pháp lý liên quan đến quản lý chất thải rắn y tế
Việt Nam là nước đang phát triển, tuy còn nhiều khó khăn nhưng Nhà nước
đã rất quan tâm đến vấn đề quản lý chất thải y tế và đã ban hành nhiều văn bản pháp
quy liên quan đến bảo vệ môi trường nói chung và quản lý chất thải y tế nói riêng.
Sau đây là một số các văn bản quan trọng về vấn đề QLCTRYT:
* Các văn bản do Quốc hội, Chính phủ ban hành
- Luật Khám chữa bệnh số 40/2009/QH12 ngày 23/11/2009 được Quốc hội
thông qua kỳ hợp thứ 6, Quốc hội khóa XII ( Điều 62, 63) [25] ;
- Luật Bảo vệ Môi trường số 55/2014/QH13 ngày 23/6/2014 được Quốc hội
thông qua tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XIII (Điều 3, 72, 142) [26];
13
- Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 09/4/2007 của Chính phủ về quản lý
chất thải rắn [27];
- Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 của Chính phủ về quản lý
chất thải y tế và phế liệu (Điều 6,7) [8];
- Quyết định 2149/2009/QĐ-TTg ngày 17/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2025, tầm
nhìn đến 2050 [28];
- Quyết định số 2038/QĐ-TTg ngày 15/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ về
- Liên quan đến CTRYTNH: QCVN 07:2009/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật
quốc gia về ngưỡng chất thải nguy hại [36].; TCVN 6706:2009: Chất thải nguy hại–
Phân loại [37] thay thế cho TCVN 6706:2000; TCVN 6707:2000: Chất thải nguy
hại–Dấu hiệu cảnh báo ; TCXDVN 320:2004: Bãi chôn lấp chất thải nguy hại –
Tiêu chuẩn thiết kế [38].
- Liên quan đến lò đốt CTRYT: QCVN 02:2012/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật
quốc gia về lò đốt CTRYT [39]; Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 7556-1:2005 (BS EN
1948-1: 1997) về Lò đốt chất thải rắn y tế - Xác định nồng độ khối lượng
PCDD/PCDF - Phần 1: Lấy mẫu [40]; TCVN 7558-2: 2005: Lò đốt CTRYT xác
định tổng nồng độ các hợp chất hữu cơ trong khí thải – Phần 2: Phương pháp đo độ
đục [41]; TCXDVN 365:2007: Bệnh viện đa khoa – Hướng dẫn thiết kế [42];
1.2.2.2. Thực trạng QLCTRYT tại các bệnh viện Việt Nam
* Thực trạng phát sinh CTRYT
Cùng với sự phát triển và sự tăng nhanh về số lượng giường bệnh điều trị,
khối lượng phát sinh CTR từ các hoạt động y tế có chiều hướng ngày càng gia tăng.
CTR y tế trong bệnh viện bao gồm hai loại là CTR sinh hoạt và CTNH y tế. CTR
sinh hoạt chiếm khoảng 75 - 80% CTR trong bệnh viện. Theo thống kê, mức tăng
chất thải y tế hiện nay là 7,6%/năm. Ước tính năm 2015, lượng CTR y tế phát sinh
là 600 tấn/ngày và năm 2020 sẽ là 800 tấn/ngày [1]:
15
Bảng 1.4: Khối lƣợng CTRYT, CTRYTNH tại các địa phƣơng năm 2014
TT
Tên tỉnh
CTRYT
4
Nghệ An
3.904
616
5
Thanh Hóa
3.128
283
6
Lạng Sơn
1.706
256
7
An Giang
1.236
1.442
134
12
Kon Tum
322
64
Nguồn: Báo cáo hiện trạng môi trường 5 năm(2011 - 2015) các địa phương, 2015[1]
* Thực trạng phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu giữ và xử lý CTRYT
Theo kết quả khảo sát 834 bệnh viện của Viện Y học Lao động và Vệ sinh
Môi trường năm 2006 và báo cáo của các Sở Y tế từ các địa phương từ 2007-2009:
Có 95,6% bệnh viện đã thực hiện phân loại chất thải trong đó 91,1% đã sử dụng
dụng cụ tách riêng vật sắc nhọn. Theo báo cáo kiểm tra của các tỉnh và nhận xét của
đoàn kiểm tra liên Bộ, còn có hiện tượng phân loại nhầm chất thải, một số loại chất
thải thông thường được đưa vào chất thải y tế nguy hại gây tốn kém trong việc xử
lý. Có 63,6% sử dụng túi nhựa làm bằng nhựa PE, PP. Chỉ có 29,3% sử dụng túi có
thành dày theo đúng quy chế. Chất thải y tế đã được chứa trong các thùng đựng chất
thải. Tuy nhiên, các bệnh viện có các mức độ đáp ứng yêu cầu khác nhau, chỉ có
một số ít bệnh viện có thùng đựng chất thải theo đúng quy chế (bệnh viện trung
ương và bệnh viện tỉnh). Hầu hết ở các bệnh viện (90,9%) CTR được thu gom hàng
ngày, một số bệnh viện có diện tích chật hẹp nên gặp khó khăn trong việc thiết kế
lối đi riêng để vận chuyển chất thải. Chỉ có 53% số bệnh viện chất thải được vận