1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tế bào thần kinh đệm được xem như là mô liên kết của hệ thần kinh trung
ương của con người, với số lượng nhiều gấp 10 đến 50 lần so với số lượng neuron
thần kinh. Các tế bào thần kinh đệm được công nhận vai trò thông tin liên lạc trong
hệ thần kinh trung ương khi hợp tác với các neuron [1]. Theo nhiều nghiên cứu
cũng như phân loại u não, u tế bào thần kinh đệm chiếm tỷ lệ cao nhất trong các loại
u não: từ 35% đến 50%; trong đó u nguyên bào thần kinh đệm - Glioblastoma (GB)
là một trong các khối u não ác tính thường gặp (chiếm 8/10 trong các loại u não ác
tính), chiếm 15% đến 17% của tất cả các khối u não [2] [3] [4] [5].
Chẩn đoán sớm u não nói chung và u nguyên bào thần kinh đệm rất khó,
thường chỉ phát hiện khi khối u đã phát triển lớn, biểu hiện lâm sàng bằng hội
chứng tăng áp lực nội sọ nặng, bệnh tiến triển rất nhanh từ khi có triệu chứng báo
hiệu đến khi vào viện phần lớn chỉ 2 tháng đến 3 tháng. Với bệnh nhân mắc GB chỉ
chẩn đoán xác định được bằng hình ảnh mô bệnh học sau can thiệp phẫu thuật, can
thiệp điều trị thường không đem lại hiệu quả, thời gian sống thêm của bệnh nhân
GB sau mổ trung bình chỉ 6 tháng đến 1 năm [6] [7] [8] [9]; do đó rất nhiều nhà
khoa học đã tập trung nghiên cứu sâu về chẩn đoán, bệnh sinh ung thư nhằm tìm ra
những hướng điều trị mới cứu sống bệnh nhân.
Công nghệ gen phát triển là bước đột phá trong chẩn đoán và điều trị ung
thư. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra mối liên quan của đột biến gen với căn bệnh hiểm
nghèo ung thư. Sự biến đổi gen bao giờ cũng biến đổi sớm nhất, tiếp theo là sự biến
đổi về protein trước khi có sự biến đổi về hình thái và chức năng tế bào trong ung
thư [10] [11] [12]. Trong u nguyên bào thần kinh đệm, các nhà khoa học đã tìm thấy
sự biến đổi một số gen trong đó có EGFR, TP53, FGFR là các gen có tỷ lệ đột biến
khá cao, 35% - 40% mỗi loại [13 -19]. Trên lâm sàng gặp hai thể u nguyên bào thần
kinh đệm nguyên phát và thứ phát, về mức độ ác tính có khác nhau; thể nguyên phát
là khi mắc bệnh đã có tổn thương đặc hiệu được xác định bằng mô bệnh học, thể
hưởng từ, tỷ lệ mắc u não dao động từ 10 đến 20/100.000 dân trong một năm [2] [4]
[11]. Tại Mỹ tỷ lệ mắc u não trung bình hàng năm từ 2005-2009 cho não nguyên
phát và các khối u thần kinh trung ương là 20,59/100.000 dân. Tỷ lệ điều chỉnh theo
tuổi là 5,13/100.000 trẻ em 0-19 tuổi; 4,97/100.000 trẻ em dưới 15 tuổi và
26,81/100.000 người lớn từ 20 tuổi [4]. Theo báo cáo của CBTRUS năm 2014 có
700.000 người Mỹ đang sống chung với u não, dự báo tại Mỹ sẽ có 70.000 trường
hợp mắc u não mới vào năm 2015, trong đó có 4.600 trường hợp là trẻ em [5].
Phân loại theo giới tính và lứa tuổi cho thấy nam giới thường mắc u não nhiều
hơn phụ nữ, ngoại trừ u màng não thường gặp nữ nhiều hơn. Tỷ lệ mắc u não tăng theo
tuổi, nhiều nhất là từ 65 đến 74 tuổi. U não nguyên phát ở trẻ em chiếm khoảng 10%,
hay gặp nhất là trước 5 tuổi, [4] [6].
Tần suất mắc u não theo phân loại hình thái mô học gồm 2 loại nguyên phát
và thứ phát. U thứ phát có nguồn gốc từ các cơ quan khác trong cơ thể di căn vào
não như từ phổi, vú, đường tiêu hoá, biểu bì...luôn là những khối u ác tính. U
nguyên phát có nguồn gốc từ não, màng não và các tuyến trong sọ [7] [8]. Theo
P.Muller và St.Michael u tế bào thần kinh đệm thường gặp nhất chiếm khoảng 50%,
u màng não 20%, u tuyến yên 10%, còn lại là các khối u khác. Trong số các khối u
ác tính thì có khoảng 8/10 là u tế bào thần kinh đệm.
Dương Chạm Uyên, Dương Đại Hà (2013), nghiên cứu về đặc điểm dịch tễ
học và mô bệnh học của 1074 trường hợp mổ u não tại bệnh viện Việt Đức từ năm
1996 đến năm 2002 kết luận, phân loại theo mô bệnh học: gliome chiếm 39,2%;
4
meningliome 29,3%; schwannome 5,5%; u sọ hầu 4,3%; u tuyến yên 11,45%, u di
căn 2,89%...; trong đó tỷ lệ nam nữ là 1,2; tuổi trung bình là 36,59 ± 0,483; tuổi nhỏ
nhất là 19 tháng tuổi tuổi lớn nhất là 79 tuổi [20].
Theo Kiều Đình Hùng (2006), trong các loại gliome ác tính thì gliolastoma
chiểm tỷ lệ cao nhất 62,7% [6].
1.1.2. Phân loại mô bệnh học u não.
và các phẫu thuật viên thần kinh.
Kernohan và Sayre (1949) đã đề xuất một cách phân loại mới, dựa trên
thuyết tăng sinh: các tế bào u không phải sinh ra từ các tế bào phôi thai ngừng phát
triển, mà chính là sự tăng sinh không kiểm soát được của các tế bào bình thường.
Từng loại u có thể được phân chia theo độ ác tính tăng dần (I, II, III, IV) tuỳ theo
mức độ không biệt hoá. Việc phân độ dựa vào các chỉ tiêu: số lượng tế bào u gián
phân, tỷ lệ phần trăm tế bào u không biệt hoá, biên độ hoại tử, các mạch tăng sinh
và mức độ đa hình. Như vậy, phân độ là cách đánh giá tiên lượng dựa vào việc
nghiên cứu các nhóm bệnh nhân khác nhau, một công cụ chính trong lựa chọn các
liệu pháp điều trị tối ưu.
Phân loại của Kernohan trở nên phổ biến vì phản ánh được sự chuyển dạng
ác tính của nhiều loại tế bào thần kinh.
Theo phân loại của tổ chức y tế thế giới (1993) U thần kinh đệm gồm u tế
bào hình sao (Astrocytome), u tế bào ít nhánh (Oligodendrogliome), u nguyên bào
mạch (Hémangioblastome). Trong các phân loại trước, các u này nằm trong các u
thần kinh biểu mô, trong đó có u neuron - thần kinh đệm và u tuyến tùng. Phân loại
của tổ chức y tế thế giới năm 1979 và năm 1993 hiện không sử dụng. Ngoài ra tổ
chức y tế thế giới cũng đưa ra một bảng phân loại độ biệt hoá từ I - IV tương đương
với độ ác tính trên lâm sàng, cũng như hình ảnh biệt hoá và giảm biệt hoá của tế
bào u, tương đương với phân loại của Daumas Duport ở 2 bệnh viện Saint.Anne và
Mayoclinic (2000).
6
Bảng 1.1: Phân loại u tế bào hình sao
WHO
(1993)
U tế bào hình sao thể lông
(Astrocytome- pilocytic)
III, IV
IV
(Glioblastome)
Bảng trên cho thấy không khác biệt giữa phân loại của Daumas - Duport ở S tAnne
và Mayo Clinic với phân loại của tổ chức y tế thế giới.
DaumasDuport C (1998) đã đưa ra một phân loại độ biệt hoá của u tế bào
sao thành 4 độ ác tính dựa trên những tiêu chuẩn không đặc hiệu như: nhân bất
thường, nhân chia, tăng sinh mạch máu, hoại tử.
Độ I: không có các tiêu chuẩn trên
Độ II: có 1 tiêu chuẩn
Độ III: có 2 tiêu chuẩn
Độ IV: có 3 hoặc 4 tiêu chuẩn
Như vậy u tế bào hình sao độ II không có dị dạng nhân, u tế bào hình sao độ
III có dị dạng nhân và nhân chia, còn u nguyên bào thần kinh đệm đa hình ngoài dị
nhân, nhân chia còn có các mạch máu tăng sinh và các ổ hoại tử.
Bảng 1.2: Phân loại các khối u của hệ thần kinh (WHO, 2000) [2].
U biểu mô thần kinh
U tế bào thần kinh đệm hình sao
7
U tế bào thần kinh đệm ít nhánh
U tế bào thần kinh đệm hỗn hợp (hình sao và ít nhánh)
U tế bào thần kinh đệm lợp ống nội tuỷ
U đám rối màng mạch
U tế bào thần kinh đệm không rõ nguồn gốc
U neuron và u hỗn hợp neuron- tế bào đệm
U nguyên bào thần kinh
U nhu mô tuyến tùng
U phôi thai
phải thống nhất cách chẩn đoán dựa trên việc đánh giá, độ tin cậy của các thử
nghiệm điều trị và các số liệu thống kê ở bệnh nhân nghiên cứu và đó là cơ sở của
cách phân loại theo WHO. Được xây dựng trên các chỉ tiêu hình thái học vi thể của
khối u, cách phân loại này đã được nhiều nhà thần kinh học thế giới nhất trí. Tuy
nhiên, do áp dụng hệ thống phân độ với tất cả các loại u khác nhau (từ độ I đến IV)
nên làm mất đi giá trị chẩn đoán ngẫu nhiên .Theo cách phân độ của Kernohan đã
nảy sinh nhiều tranh cãi xung quanh ý nghĩa của từng độ I, II, III hoặc IV tuỳ theo
việc phân loại sử dụng chúng.
Dù đã có bảng phân loại u khá đầy đủ, chi tiết về thần kinh học, nhưng vẫn
còn nhiều khó khăn, thách thức trong chẩn đoán giữa các nhà mô bệnh học và phụ
thuộc vào chủ quan, kinh nghiệm của từng người. Krauss và cộng sự nghiên cứu mô
học các khối u ban đầu được chẩn đoán là u nguyên bào thần kinh đệm, ở các bệnh
nhân có thời gian sống thêm 12 tháng, đã thấy rằng 25% số u này phải xếp lại vào
9
loại u tế bào đệm ít nhánh không biệt hoá, u tế bào đệm hình sao không biệt hoá u tế
bào hình sao thể lông. Những bằng chứng trên nhấn mạnh tầm quan trọng và lợi ích
của việc đọc lại các tiêu bản mô học và việc đối chiếu thường xuyên giữa chẩn đoán
mô học và quá trình điều trị bệnh nhân.
Hiện tại, còn nhiều bàn luận về phân loại theo mô học và phân độ các khối u
biểu mô thần kinh bởi lẽ không thể xem xét tất cả các vấn đề phân loại và phân độ
do có rất nhiều thực thể u cá biệt theo cách phân loại của WHO (2000) về các khối
u biểu mô thần kinh (bảng 1.2). Khi tập trung nghiên cứu u thần kinh đệm hình sao
và u thần kinh đệm ít nhánh, vấn đề chính đặt ra là phải nhận định đầy đủ các giới
hạn trong xét nghiệm mô học khối u não và để tìm hiểu sâu hơn về khía cạnh di
truyền học tế bào và di truyền phân tử. Trong số các u thần kinh đệm hình sao, theo
WHO (2000), phân ra 3 mức độ ác tính tiến triển:
U tế bào đệm hình sao lan toả (độ II).
U tế bào hình sao giảm biệt hoá hay ác tính (độ III).
định vật phẩm bằng formol và đúc trong paraffin.
1.1.3. Hình thái mô bệnh học của u não nguyên phát thể gliome
Theo phân loại của WHO (2000), u tế bào thần kinh đệm bao gồm u tế bào
hình sao, u tế bào thần kinh đệm ít nhánh và u tế bào thần kinh đệm lợp ống nội tuỷ.
U tế bào hình sao bao gồm: u tế bào hình sao thể lông là lành tính, còn u tế bào hình
sao lan toả độ II, u tế bào hình sao giảm biệt hoá (độ III) và u nguyên bào thần kinh
đệm (độ IV) thuộc loại ác tính.
1.1.3.1. U tế bào thể lông (Astrocytome pilocytique)
U tế bào hình sao thể lông gồm những tế bào hình thoi, xếp thành bó không
điển hình, với nhiều sợi. Tế bào chính của u tế bào hình sao dạng lông có hình thoi,
nhân bầu, nhiễm sắc thể mịn, mảnh. Tế bào này có một hoặc 2 cực kéo dài. Các sợi
hợp thành bó song song, các tế bào liên quan chặt chẽ với các nang nhỏ. Các nang
này sẽ chuyển thành các nang lớn hơn, nhất là khi ở hố sau. Ngoài ra còn có thể gặp
lắng đọng canxi.
11
U loại này bao gồm cả u sao bào đặc và nang của tiểu não, u sao bào lông ở
thiếu niên và của thần kinh thị giác cũng được coi như nguyên bào xốp có cực. U
này tiến triển rất chậm chỉ lan thành ổ xâm nhập vào khoang dưới nhện hay gặp và
có thể kèm theo phản ứng xơ ít hoặc nhiều của màng não. Bệnh nhân có u này có
thể sống trên 20 năm hoặc lâu hơn sau mổ. Tuy nhiên còn phụ thuộc vào vị trí của u
và có phẫu thuật lấy hết u hay không. Theo Forsyth P.A và C.S (1993) tỷ lệ sống
thêm 10 năm đối với u trên lều tiểu não là 100% sau khi cắt bỏ toàn bộ u và 74%
sau khi cắt một phần hoặc sinh thiết u. Rất ít khi tiến triển thành giảm biệt hoá.
1.1.3.2. U tế bào hình sao lan toả (Astrocytome độ II)
Loại u này bao gồm:
U tế bào sao thể sợi (Astrocytome fibrilaire)
U tế bào sao nguyên sinh (Astrocytome protoplasmique)
U tế bào sao dạng phồng (Astrocytome gemistocyteque)
thấy nhân chia và dị nhận. Tế bào có nhiều nhánh bào tương ngắn, có phản ứng
mạch máu nhưng không thấy hình ảnh giả hoa hồng.
13
1.1.3.4. U nguyên bào thần kinh đệm (Glioblastome)
Các tế bào của u nguyên bào thần kinh đệm có nguồn gốc phôi thai giảm
biệt hoá tăng sản được chia thành 2 loại dựa vào nguồn gốc phát sinh là u phôi thai
tiên phát (60%) và u thứ phát từ tế bào hình sao.
Hình ảnh đại thể của u nguyên bào thần kinh đệm khá điển hình với ranh giới
hình vòng cung không rõ rệt, cắt ngang u có thể gặp màu xám hay hồng, có điểm hoại
tử màu vàng hoặc ở vùng có xuất huyết máu thì đỏ màu nâu thẫm. Thành mạch máu
trong u tăng sinh dày. Có thể gặp u thể nang hay nhiều ổ, u thường có mật độ mềm và
chỉ cứng khi xâm lấn dính vào màng não, gây chảy máu.
Hình ảnh vi thể của các khối u nguyên bào thần kinh đệm rất khác
nhau. Khối u luôn dày đặc tế bào, nhưng có thể đồng dạng hoặc đa hình với
nhiều giai đoạn trung gian giữa 2 loại tế bào. Tính biệt hoá thấp, tạo sự giảm
thiểu các nhánh bào tương và nhân bắt màu đậm, đa hình thái thường cho
phép chẩn đoán là u nguyên bào thần kinh đệm. Nhiều tác giả cho là thường
gặp 3 thể u chủ yếu sau :
U nguyên bào thần kinh đệm đa hình: u gồm chủ yếu là những nguyên bào
thần kinh đa hình xen kẽ một số neuron của vỏ não. Các tế bào này ít biệt hoá, nhân
bắt mầu đậm, thô, nhiều hình nhân chia, chúng cụm xung quanh một số điểm hoại
tử nhỏ. Mao mạch u thành dày, tăng sản mạnh tế bào nội mô, nhiều điểm xuất huyết
rải rác, có chỗ lòng mạch bị chít hẹp và tổ chức hoá hay vôi hoá.
Hình 1.2. U nguyên bào thần kinh đệm nhuộm HE và phóng đại 400 lần trên tiêu
bản thấy mật độ u dày đặc, đa hình dạng, có dị nhân, nhân quái, nhân chia. Tế bào
biệt hoá theo hướng khác nhau, hoại tử hình bản đồ, tăng sinh nội mạch dạng cuộn.
15
Mạch máu trong u nguyên bào thần kinh đệm: thay đổi liên quan đến sự
phát triển của u và vùng lân cận rất rõ và kéo dài, biến đổi hình thái quan trọng nhất
là tăng sản nội mô mạch máu nhỏ nuôi u, đặc biệt có thể gặp các búi những tế bào
nội mô xếp cụm lại. Nhân tế bào nội mô trải rộng hay gặp hình phân chia. Đôi khi
thấy một số biến đổi như các điểm mao mạch thành dày lòng mạch giãn ra tạo hình
ảnh sao mạch.
1.1.3.5. U tế bào thần kinh đệm ít nhánh (Oligodendrogliome)
U xuất hiện ở người trẻ hay tái phát, mặc dù được cắt bỏ hoàn toàn.Về mặt
đại thể: u phát triển trong chất trắng của bán cầu đại não, ngay dưới vỏ não, thường
có ranh giới không rõ. Tổ chức u có nhiều mao mạch và có màu xám nâu. Đôi khi
có nang, trên mặt cắt có vôi hoá. Về vi thể là u giàu tế bào, các tế bào đồng nhất,
hiếm có hoại tử hoặc chảy máu, thường có vôi hoá. Trên tiêu bản nhuộm HE, các tế
bào u nhỏ, nhân tròn nhỏ, sẫm màu, còn bào tương thì hẹp và có vòng sáng nhỏ
quanh nhân. Nếu nhuộm tẩm bạc thì có thể thấy sợi nhỏ ngắn xuất phát từ bào
tương. Một đặc tính của u này có những ứ đọng can-xi ở bào tương bị thoái hoá
kính và nhất là ở thành mạch máu. U có một mô đệm xơ mỏng, có vài bó sợi đi từ
các mạch máu vào khối u. Trong khối u có rất ít mạch máu.
1.1.3.6. U tế bào ống nội tuỷ (Ependymome)
Đó là những u phát triển từ những tế bào lợp ống nội tuỷ hoặc các não thất,
từ những tế bào của màng nhện và từ các dây tận. Vì thế u thường gặp nhất là ở hệ
thống não thất (nhất là ở não thất III và IV).
Đại thể: U có ranh giới rõ, cứng chắc, không có mạch máu, thường là đặc, có
màu trắng, giống tổ chức.
Vi thể: là u giàu tế bào, tạo bởi những tế bào đa diện hoặc trụ, nhân hình bầu
hoặc tròn và bào tương có hạt. Nhiều tế bào có đuôi dài và thường dính vào thành
mạch máu hoặc mô liên kết. Bào tương, có hạt gọi là "blepharoblast": các tế bào u
vây quanh các nang tạo thành hình hoa hồng hoặc vây quanh các mạch máu tạo
thành hình giả hoa hồng. Những tế bào hình trụ này có thể tạo thành những lông
17
quanh, và nhờ kính vi phẫu, hệ thống phẫu thuật thần kinh có hình ảnh đường dẫn,
người ta có thể lấy bỏ khối u một cách triệt để hơn, ít gây ra tổn thương tổ chức não
lành nhất. Song mặc dù trang thiết bị hiện đại, kỹ thuật tiên tiến trong mổ u não ở
những nước phát triển, việc lấy bỏ triệt để u não không phải lúc nào cũng làm được.
Nó còn tuỳ thuộc vào vị trí khối u ở nông hay ở sâu, u có giới hạn hay không có
giới hạn, u phát triển chậm hay ác tính xâm lấn quá nhanh... Xạ trị, hoá chất cũng là
hai phương pháp điều trị phối hợp, nhằm tiêu diệt những tế bào u còn lại, và hạn chế sự
tái phát của u [21], [41]. Tuy nhiên, giá thành còn cao, các liệu trình còn phức tạp, nên
chưa phổ biến được cho tất cả người bệnh.
Ngoài ra hiện nay, do sự phát triển của ngành sinh học phân tử bước đầu sử dụng
phương pháp can thiệp sinh học. Dựa vào cơ chế sinh học ung thư trong các u não, các
nhà khoa học đó tiến hành các thử nghiệm can thiệp vào các hoạt động của gen ung thư.
Gen đè nén để tham gia vào quá trình sinh sản các tế bào u. Liệu pháp này tỏ ra nhiều
hứa hẹn trong việc làm thay đổi bệnh cảnh và tiên lượng các u thần kinh đệm, tuy nhiên
phương pháp này vẫn còn đang trong giai đoạn nghiên cứu.
Tóm lại, một u não lành tính thì việc điều trị có hiệu quả nhất là cắt bỏ
triệt để nhưng còn phụ thuộc vào vị trí giải phẫu, mối liên quan về chức năng và
khối lượng của khối u. Các u não ác tính khi phẫu thuật cố gắng lấy bỏ tối đa khối
lượng của chúng kèm theo điều trị phối hợp phóng xạ và hoá chất để đạt hiệu quả
cao hơn.
Dự phòng
Hiện nay, chưa có biện pháp dự phòng hiệu quả để phát hiện sớm GB cũng
như u não nói chung. Chủ yếu phát hiện sớm các triệu chứng gợi ý của các bệnh lý
ở vùng sọ não: Nhức đầu kéo dài, cảm giác ngủ gà ngủ gật, các rối loạn về tâm
thần...mà nhiều trường hợp u não ở thể còn không triệu chứng
Hiện nay người ta thấy GB liên quan đến nhiều đột biến gen khác nhau với
tỷ lệ cao như gen TP53, EGFR, FGFR, RTEL1, PDGFRA, IDHl, NF1, HES3. Đột
biến gen hay gặp nhất trong GB là TP53. Tuy nhiên, 97% thể kinh điển hay gặp do
biểu hiện quá mức của gen Epidermal growth factor receptor (EGFR) và hiếm khi
có đột biến gen TP53 đi kèm. Trái lại, nếu đột biến gen TP53 thì thường đi kèm đột
biến gen PDGFRA, mã hóa thụ thể yếu tố phát triển nguồn gốc tiểu cầu plateletderived growth factor receptor, và gen IDHl, mã hóa enzym isocitrate
dehydrogenase-1. Thể trung mô đặc trưng bởi tỷ lệ đột biến cao gen NF1 mã
hóa Neurofibromatosis type 1 và có tỷ lệ thấp biến đổi gen EGFR hơn thể khác. Một
dấu ấn sinh học khác trong GB là sự hiện diện của nguyên bào gốc ung thư với sự
xuất hiện của protein Hes3 trong môi trường nuôi cấy giữ vai trò điều khiển quá
trình nhân lên của tế bào này. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, chúng tôi
tập trung nghiên cứu 3 gen có tần suất đột biến cao trong GB là TP53, EGFR và
FGFRs.
1.2.2.1. Gen TP53
Gen TP53 nằm trên nhánh ngắn nhiễm sắc thể 17, dài 20kb với exon 1 không
mã hóa và intron 1 dài tới 10kb. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh gen TP53 mã hóa
protein có vai trò quan trọng phòng chống ung thư nhờ cơ chế:
- Hoạt hóa các protein có vai trò sửa chữa DNA khi DNA bị sai sót.
- Kéo dài kỳ trung gian trong chu kỳ nhân lên của tế bào để các protein có
thời gian sửa chữa các vị trí sai sót trên DNA.
- Khởi động quá trình chết theo chương trình của tế bào nếu tổn thương DNA
không có khả năng khôi phục.
Do vậy, nếu gen TP53 bị đột biến, tế bào bị tổn thương DNA sẽ không được
sửa chữa và nhân lên không giới hạn, đó là cơ sở dẫn đến phát triển các khối u ung
thư. Người ta đã chứng minh đột biến TP53 liên quan đến nhiều loại ung thư tại
phổi, khung chậu, hệ tiêu hóa… trong đó có ung thư hệ thần kinh, đặc biệt là u
nguyên bào thần kinh đệm.
20
dòng thác tín hiệu lan tỏa khắp tế bào gây kích hoạt: con đường PI3K/Akt, sự tăng
sinh mạch máu, di căn và ức chế quá trình chết theo chương trình (appoptosis), tín
hiệu Ras/mitogen-activated protein kinase, và các con đường dẫn truyền tín hiệu
phiên mã (hình 4) [26-28]. Do đó các đột biến làm rối loạn hoạt động của gen
FGFRs đều làm thay đổi hoạt động sống của tế bào và là nguyên nhân cho sự hình
thành và phát triển ung thư.
Hình 1.4: Cấu trúc, vị trí hoạt động và con đường tín hiệu thông qua thụ thể yếu tố
phát triển nguyên bào sợi FGFRs.
Nguồn: Haugsten et. al. Mol Cancer Res. 2010;11,1439-1452.
22
Nghiên cứu của Shing và cộng sự vào năm 2012 cho thấy đột biến dung hợp gen
FGFRs-TACC đóng vai trò rất quan trọng đối với bệnh sinh u nguyên bào thần kinh
đệm [28]. Bên cạnh đó, các đột biến điểm N546K và R576W nằm trong vùng có hoạt
tính tyrosin kinase của gen FGFRs cũng được tìm thấy trên bệnh nhân u nguyên bào
thần kinh đệm [29]. Các đột biến này làm tăng ái lực của thuốc điều trị với thụ thể và
trở thành một trong những đích tác dụng của các thuốc điều trị hướng đích ức chế hoạt
tính tyrosine kinase trên bệnh nhân Glioblastoma [30]. Như vậy ngoài vai trò trong
bệnh sinh u nguyên bào thần kinh đệm thì các đột biến gen FGFRs còn có tác dụng
trong định hướng điều trị và một xét nghiệm gen không thể thiếu đối với các bác sỹ
lâm sàng khi triển khai các liệu pháp điều trị đối với bệnh nhân.
Hình 1.5: Đột biến gen FGFRs trên bệnh nhân u nguyên bào thần kinh đệm.
(A) Hình ảnh minh hoạ cấu trúc gen FGFRs và vùng phát hiện đột biến tại exon 12
và 13 trên vùng có hoạt tính tyrosine kinase. (B) Kết quả giải trình tự gen trực tiếp
xác định đột biến N546K và R576W của gen FGFRs.
Nguồn: Rand et. al. PNAS. 2005;102,14344-14349.
gen này sẽ cũng cấp những thông tin hữu ích nhất để phối hợp thuốc điều trị đích nhằm
gia tăng thời gian sống cho bệnh nhân ung thư [36-39].
25
CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Thời gian, địa điểm, và đối tượng nghiên cứu
2.1.1. Thời gian nghiên cứu
Bảng 2.1. Thời gian nghiên cứu
Thời gian
Nội dung thực hiện
2015 – 2016
-
Đọc tài liệu, dự trù kinh phí, hóa chất, thiết bị
Lấy mẫu, chuẩn hóa quy trình
2016 – 2017
-
Lấy mẫu
-