1
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
U nguyên bào thần kinh đệm (Glioblastoma-GB) là một trong các khối u
não phổ biến nhất hiện nay, chiếm khoảng 12% đến 15% của tất cả các khối u
não. Glioblastoma thường hình thành trong chất trắng não, phát triển nhanh
chóng, và có thể thành khối u lớn trước khi xuất hiện những triệu chứng đầu tiên
nên biểu hiện lâm sàng bằng hội chứng tăng áp lực nội sọ nặng nề. Về mô học, u
được đặc trưng bởi vùng mô hoại tử, bao quanh là các tế bào biệt hóa kèm theo
là hiện tượng tăng sinh mạch [1,2].. Tổ chức y tế thế giới (WHO) phân loại
Glioblastoma như một u tế bào hình sao (Astrocytoma) cấp IV với độ ác tính
cao nhất [3,4]. Bệnh nhân mắc loại ung thư này thường có tiên lượng không tốt
do sự tiến triển nhanh chóng và xâm lấn các tổ chức mô não, thần kinh của khối
u trong hộp sọ. Tỷ lệ mắc Glioblastoma trên thế giới được thống kê là khoảng 35 ca/100.000 dân. Nghiên cứu của Richard Johnson và cộng sự cho thấy năm
2010 có khoảng 10.800 bệnh nhân tại Hoa Kỳ được chẩn đoán u nguyên bào
thần kinh đệm, trong đó có gần 10.000 ca tử vong. Tỷ lệ mắc u nguyên bào thần
kinh đệm ở nam giới xấp xỉ 1.6 lần so với nữ giới. Tỷ lệ Glioblastoma phát hiện
ra nhiều nhất vào độ tuổi từ 45 đến 62 và dưới 10% các trường hợp ung thư
dạng này xảy ra ở trẻ em [3,4,17].
Hiện nay trên thế giới với những hiểu biết về cơ chế phân tử và sự kết hợp
nhiều phương pháp điều trị, trong đó có liệu pháp điều trị đích dựa trên phân
tích tình trạng đột biến gen, đã làm gia tăng đáng kể thời gian sống của bệnh
nhân u nguyên bào thần kinh đệm trong những năm qua. Bên cạnh đó, xác định
đột biến gen của các đối tượng cùng huyết thống đã chỉ ra những yếu tố nguy cơ
góp phần vào việc làm giảm tỷ lệ mắc và ngăn ngừa sự phát sinh, phát triển ung
thư [6, 8,9].
Nghiên cứu đầu tiên về tổn thương gen trong u nguyên bào thần kinh đệm
được công bố khoảng 35 năm trước đây. Trong nhiều năm sau đó, những gen
đóng vai trò quan trọng trong bệnh sinh ung thư như thụ thể yếu tố phát triển
Tại Việt Nam, tỷ lệ người mắc u nguyên bào thần kinh đệm chiếm tỷ lệ
lớn, tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào về đặc điểm gen đột biến nói chung cũng
như gen TP53 nói riêng trên đối tượng bệnh nhân này. Do đó, phân tích gen
3
TP53 sẽ giúp bác sỹ lâm sàng đánh giá được nguy cơ mắc loại ung thư ác tính,
nâng cao hiệu quả điều trị và tiên lượng , tiến triển của bệnh trên bệnh nhân u
nguyên bào thần kinh đệm .
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi thực hiện nghiên cứu về trạng
thái các gen biến đổi trong GB với mục tiêu:
1.
Xác định đột biến gen TP53 trong u nguyên bào thần kinh đệm
(Glioblastoma).
4
II. TỔNG QUAN
2.1. Tổng quan u não
2.1.1.Triệu chứng lâm sàng
Triệu chứng lâm sàng u não rất đa dạng. U não có thể có một khoảng thời
gian rất dài không có biểu hiện triệu chứng hoặc có biểu hiện triệu chứng duy
nhất là đau đầu, tính chất dữ dội hoặc rất mơ hồ không rõ vị trí đau. Tính chất
của đau đầu trong u não là đau thường xuyên và có xu hướng ngày một tăng
thêm, phát sinh khi xúc cảm mạnh, khi ho, khi đỡ bệnh nhân ngồi dậy quá mạnh,
đôi khi đau tăng hoặc giảm phụ thuộc vào tư thế đầu. Người ta thấy rằng 80%
đến 90% bệnh nhân bị u não đều có đau đầu cục bộ hoặc toàn thể. Đau đầu cục
đoán cận lâm sàng là chẩn đoán hình ảnh và chẩn đoán mô bệnh học.
X quang hộp sọ:
Chụp sọ có thể thấy hình ảnh tăng áp lực nội sọ, các đường khớp cách xa
nhau, dấu ấn ngón tay lưu ý rằng thời gian tăng áp lực nội sọ từ 6 tháng trở lên
thì các dấu hiệu trên mới có giá trị. Ngoài ra có thể thấy hình ảnh biến đổi ở hố
yên như bào mòn hố yên và mất chất vôi do tăng tăng áp lực nội sọ lâu ngày.
Đối với u sọ hầu có thể thấy u bị ngấm vôi toàn bộ. Hình ảnh tiêu xương có thể
gặp trong u dây VIII làm cho lỗ tai trong rộng ra và thay đổi bờ trên xương đá.
Các u màng não cũng có thể ăn khuyết xương sọ.
Điện não đồ:
Đo điện não có thể phát hiện được những sóng chậm delta, bêta ở một khu
vực nào đó nếu kết hợp với các triệu chứng lâm sàng đúng đắn có thể giúp ta
chẩn đoán định khu của u não.
Siêu âm:
Siêu âm đường giữa, nếu có sự dịch chuyển của đường giữa từ 1-1,5cm
là có giá trị chẩn đoán. Siêu âm hai chiều hay còn gọi là hiệu quả Doppler, được
áp dụng trong việc chẩn đoán bệnh não ở trẻ sơ sinh thóp còn hở, phương pháp
siêu âm hai chiều thuận lợi và rẻ tiền trong chẩn đoán u não đối với trẻ em. Đối
với người lớn có thể khoan một lỗ sọ để chẩn đoán như trên.
6
Chụp động mạch não:
Đây là phương tiện chẩn đoán u não trong những thập niên 70, lần đầu
tiên do Egas Monis thực hiện năm 1927 qua hai đường từ động mạch cảnh trong
(CAG) và động mạch đốt sống (VAG).
Ngoài ra người ta cũng chụp được động mạch não bằng kỹ thuật
Seldinger (1953) bằng chọc kim vào động mạch đùi và luồn cathéter lên động
mạch đốt sống.
nhiều giai đoạn trung gian giữa 2 loại tế bào. Tính biệt hoá thấp, tạo sự giảm
thiểu các nhánh bào tương và nhân bắt màu đậm, hình thái thường cho phép
chẩn đoán là u nguyên bào thần kinh đệm. Nhiều tác giả cho là thường gặp 3 thể
u chủ yếu sau:
U nguyên bào thần kinh đệm đa hình: U gồm chủ yếu là những nguyên bào thần
kinh đa hình xen kẽ một số neuron của vỏ não. Các tế bào này ít biệt hoá, nhân
bắt mầu đậm, thô, nhiều hình nhân chia, chúng cụm xung quanh một số điểm
hoại tử nhỏ. Mao mạch u thành dày, tăng sản mạnh tế bào nội mô, nhiều điểm
xuất huyết rải rác, có chỗ lòng mạch bị chít hẹp và tổ chức hoá hay vôi hoá.
Hình 2.1. U nguyên bào thần kinh đệm nhuộm HE và phóng đại 400 lần
Nhận xét: trên tiêu bản thấy mật độ u dày đặc, đa hình dạng, có dị nhân,
nhân quái, nhân chia. Tế bào biệt hóa theo hướng khác nhau, hoại tử hình bản
đồ, tăng sinh nội mạch dạng cuộn.
U nguyên bào thần kinh đệm thể hỗn hợp với sacome xơ: Mô não lành liền kề
xen kẽ với tổn thương sát bề mặt u gồm dày đặc tế bào đa hình thái, chủ yếu là
tế bào dạng thoi, ít nhánh thần kinh đệm. Vùng não lành xung quang thấy có
một số tế bào u lan tràn, nhưng không có phản ứng mạch máu.
U nguyên bào thần kinh đệm thể tế bào khổng lồ: U gồm dày đặc các tế bào đa
hình thái, kích thước to nhỏ khác nhau, phần lớn là các tế bào tròn nhỏ hay hình
ô van với nhân bắt màu kiềm đậm, thô, hay gặp hình nhân chia, lác đác một số tế
8
bo khng l, kớch thc ln gp nhiu ln t bo nh, nhõn bt mu thụ m
dng hỡnh thỏp hoc a din gúc tự vi ht nhõn rừ, nhiu hỡnh nh phõn bo. C
2 loi t bo ny u ớt t thn kinh. Trong t chc u cú nhiu im hoi t thõm
nhp bi cỏc vi bo m thn kinh, mt s vựng xut huyt nh ri rỏc.
Quan sỏt siờu cu trỳc các tế bào glioblast dới kính hiển vi
Nhiều thống kê cho thấy tỷ lệ mắc u não dao động từ 1020/100.000 dân trong một năm. Theo nhiều tác giả, tỷ lệ mắc
u não đợc phát hiện đã tăng lên trong hai thập niên vừa qua nhờ
có các phơng pháp chẩn đoán sớm, hiện đại nh chụp ct lp vi
tớnh, chp cng hng t. Ti Hoa K, 16.800 ca u não đợc chẩn đoán
trong năm 1999, cũng trong năm đó có 13.100 ngời đã chết vì
u não nguyên phát và hơn 100.000 ngời chết vì u di căn vào
hộp sọ từ các ung th cơ quan khác.
Phân loại theo giới tính và lứa tuổi cho thấy nam giới thờng mắc u não nhiều hơn n gii, ngoại trừ u màng não thờng
gặp nữ nhiều hơn nam. Tỷ lệ mắc u não tăng theo tuổi, nhiều
nhất là từ 65 đến 74 tuổi. U não nguyên phát ở trẻ em chiếm
khoảng 10%, hay gặp nhất là trớc 5 tuổi, riêng về mô học các
nhóm u thờng gặp là u tế bào hình sao thể lông và u nguyên
tuỷ bào (Médulloblastome).
Tần suất mắc u não theo phân loại hình thái mô học gồm
2 loại nguyên phát và thứ phát. U thứ phát có nguồn gốc từ các
cơ quan khác trong cơ thể di căn vào não nh từ phổi, vú, đờng
tiêu hoá, biểu bì...luôn là những khối u ác tính. U nguyên phát
có nguồn gốc từ não, màng não và các tuyến trong sọ. Theo
P.Muller và St.Michael u tế bào thần kinh đệm thờng gặp nhất
chiếm khoảng 50%, u màng não 20%, u tuyến yên 10%, còn lại
là các khối u khác. Trong s cỏc khi u ỏc tớnh thỡ cú khong 8/10 l u t bo
thn kinh m [1,3]..
2.1.4. Nguyờn tc iu tr v phũng bnh
10
Điều trị chủ yếu phẫu thuật cắt khối u, tia xạ, hoá chất và điều trị triệu
chứng. Tuy nhiên các can thiệp này đem lại kết quả rất hạn chế.
Phẫu thuật:
Fluoro-Uracyle
(5FU),
Methotrexate
11
(Aethopterin), Vincristine (Oncovin), Mythramycine (Mithrancin), Doxorabicine
(Adriamycine).
Hoỏ cht dựng sau tia phúng x, c hai phng phỏp ny dựng iu tr b
sung sau phu thut.
iu tr corticoid v iu tr bng min dch cng c cp n trong u
nóo. Mc ớch ca iu tr corticoid l ngn nga tỡnh trng phự nóo quanh u v
iu tr min dch l mt hng iu tr cũn thi k nghiờn cu.
Túm li, mt u nóo lnh tớnh thỡ vic iu tr cú hiu qu nht l ct b
trit nhng cũn ph thuc vo v trớ gii phu, mi liờn quan v chc nng v
khi lng ca khi u. Cỏc u nóo ỏc tớnh khi phu thut c gng ly b ti a
khi lng ca chỳng kốm theo iu tr phi hp phúng x v hoỏ cht
t hiu qu cao hn [1,3]..
2.2. C ch bnh sinh u nóo
2.2.1. Cỏc yu t liờn quan n bnh sinh u nóo
Yếu tố di truyền: Các yếu tố di truyền có tác động vào sự
xuất hiện một số loại u não nh u nguyên bào võng mạc cũng nh u
thần kinh da. Trong nhóm u xơ thần kinh typ 1, các u tế bào
hình sao hay gặp nhiều gấp 4 lần. Nhóm 2 (đợc đặc trng bởi u
dây VIII hai bên) là tập hợp rất nhiều u khác nhau (u thần kinh
đệm ngoại biên, u xơ thần kinh, u màng não, u thần kinh đệm).
hóa Neurofibromatosis type 1 và có tỷ lệ thấp biến đổi gen EGFR hơn thể khác.
Một dấu ấn sinh học khác trong GB là sự hiện diện của nguyên bào gốc ung thư
với sự xuất hiện của protein Hes3 trong môi trường nuôi cấy giữ vai trò điều
khiển quá trình nhân lên của tế bào này. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài
này, chúng tôi tập trung nghiên cứu gen có tần suất đột biến cao trong GB là
TP53 [7, 10,14]..
2.2.3. Gen TP53
Gen TP53 nằm trên nhánh ngắn nhiễm sắc thể 17, dài 20kb với exon 1
không mã hóa và intron 1 dài tới 10kb. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh gen
TP53 mã hóa protein có vai trò quan trọng phòng chống ung thư nhờ cơ chế:
- Hoạt hóa các protein có vai trò sửa chữa DNA khi DNA bị sai sót.
13
- Kéo dài kỳ trung gian trong chu kỳ nhân lên của tế bào để các protein có
thời gian sửa chữa các vị trí sai sót trên DNA.
- Khởi động quá trình chết theo chương trình của tế bào nếu tổn thương
DNA không có khả năng khôi phục.
Do vậy, nếu gen TP53 bị đột biến, tế bào bị tổn thương DNA sẽ không
được sửa chữa và nhân lên không giới hạn, đó là cơ sở dẫn đến phát triển các
khối u ung thư. Người ta đã chứng minh đột biến TP53 liên quan đến nhiều loại
ung thư tại phổi, khung chậu, hệ tiêu hóa trong đó có ung thư hệ thần kinh, đặc
biệt là u nguyên bào thần kinh đệm. Trên thế giới, nhiều nghiên cứu đã chứng
minh u nguyên bào thần kinh đệm có liên quan đến nhiều gen khác nhau, trong
đó có TP53. Tỷ lệ đột biến TP53 trên GB khoảng 30% đến 35%. Các đột biến
hay gặp trên u nguyên bào thần kinh đệm là các đột biến điểm từ exon 5 đến 8.
Hiện tại ở Việt Nam chưa có nghiên cứu nào về gen TP53 trên bệnh nhân u
nguyên bào thần kinh đệm. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu gen này trên bệnh
nhân u nguyên bào thần kinh đệm giúp các bác sỹ lâm sàng phân loại, tiên lượng
N: số lượng bản copy sản phẩm tạo thành.
n: là số chu kỳ của phản ứng.
2.3.2. PCR lồng
Kĩ thuật PCR : Nguyên tắc chung dựa vào hoạt tính của các DNA
polymerase có khả năng tổng hợp mạch DNA mới từ mạch DNA khuôn, với
nguyên liệu là bốn loại nucleotid. Phản ứng này đòi hỏi sự có mặt của những
mồi xuôi và mồi ngược có trình tự bổ sung với hai đầu của trình tự DNA
khuôn.Phản ứng PCR là một chuỗi nhiều chu kỳ nối tiếp nhau, mỗi chu kỳ gồm
ba bước:
+ Bước 1: là giai đoạn biến tính (denaturation), phân tử DNA được biến
tính ở nhiệt độ cao hơn Tm (nhiệt độ nóng chảy) của phân tử, thường là 94 oC 95oC trong vòng 30 giây - 1 phút.
+ Bước 2: là giai đoạn bắt cặp (annealing). Nhiệt độ được hạ thấp cho
phép các mồi bắt cặp với khuôn, dao động trong khoảng 40 oC - 70oC, tuỳ thuộc
Tm của các mồi sử dụng và kéo dài khoảng 30 giây - 1 phút.
15
+ Bước 3: là giai đoạn tổng hợp hay kéo dài (extension). Nhiệt độ được
tăng lên 72oC để DNA polymerase là các polymerase chịu nhiệt (Taq
polymerase, Tth polymerase, Pfu polymerase,…) hoạt động tổng hợp tốt nhất.
Thời gian phụ thuộc vào độ dài của trình tự chuỗi DNA cần khuếch đại, thường
kéo dài từ 30 giây đến nhiều phút.
Sau mỗi chu kỳ các chuỗi đôi DNA mới tạo thành sẽ tiếp tục được dùng
làm các DNA nền để tổng hợp các DNA mới trong chu kỳ tiếp theo.
PCR lồng là kĩ thuật khá tin cậy cho phép phát hiện nhanh sản phẩm PCR.
Người ta sử dụng cặp mồi nằm trong sản phẩm PCR đầu tiên. Sản phẩm PCR
đầu sẽ là khuôn cho phản ứng tiếp theo sử dụng cặp mồi nội phân tử [5,7].
1
Hạn chế: khi sản phẩm PCR lần 1 không đặc hiệu song lại đủ lớn và có
thể làm khuôn cho PCR lồng tiếp theo, dẫn đến các sản phẩm gen không được
đặc hiệu cũng sẽ được khuếch đại và làm sai lệch kết quả. Có thể khắc phục
bằng cách pha loãng sản phẩm PCR lần 1 hoặc tinh chế sản phẩm này trước khi
tiến hành PCR lồng lần 2. Thêm vào đó, trong mọi trường hợp, việc tiến hành
song song các mẫu đối chứng là hết sức cần thiết. [7]
17
2.3.3. Phương pháp giải trình tự gen bằng máy tự động
Định nghĩa:
Giải trình tự gen là phát hiện được thứ tự sắp xếp của 4 loại nucleotid trên
phân tử DNA
Các phương pháp giải trình tự gen:
Phương pháp hóa học giải trình tự gen:
Do Maxam và Gilbert phát minh năm 1977, với nguyên tắc: trước hết
đánh dấu một đầu của đoạn DNA cần phải giải trình tự bằng một gốc phospho
đồng vị phóng xạ (32P). Sau đó xử lý các đoạn DNA đã đánh dấu này với các
chất hóa học có thể làm biến đổi đặc hiệu một hoặc hai loại base của
nucleotid trên đoạn DNA. Ví dụ: dimethylsulfat để biến đổi Guanin bằng cách
thêm một gốc Methyl ở vị trí nitrogen thứ 7 (N7), hydrazin làm biến đổi
Thymin và Cytosin, hydrazin và NaCl làm biến đổi Cytosin, acid làm biến đổi
Guanin và Adenin, NaOH làm biến đổi Adenin và Cytosin với Adenin ưu tiên
hơn Cytosin. Như vậy, trong giai đoạn này phải dùng ít nhất 4 ống nghiệm và
trong mỗi ống DNA được xử lý với một lượng rất giới hạn của một trong các
chất hóa học nêu trên để mỗi ống nghiệm chỉ có chứa các đoạn DNA mà trên
mỗi đoạn DNA này chỉ có một vị trí nucleotid đặc hiệu với chất hóa học là bị
biến đổi. Các nucleotid bị biến đổi này sẽ được lấy ra khỏi khung đường –
phosphat của đoạn DNA và nhờ đó tách ra được các đoạn mạch đơn có một
- Thời gian thực hiện nghiên cứu : từ tháng 12 năm 2014 đến tháng 5 năm
2015
- Địa điểm :
Lấy mẫu mô bệnh học : Khoa Giải phẫu bệnh – Bệnh viện Việt Đức
Phân tích gen : Trung tâm Gen – Protein – Trường Đại học Y Hà
Nội
3.3. Phương pháp nghiên cứu:
- Thiết kế nghiên cứu
+ Phương pháp: mô tả cắt ngang.
19
+ Nghiên cứu được thực hiện theo sơ đồ sau:
-
Dụng cụ, trang thiết bị hoá chất và phương pháp nghiên cứu
+ Trang thiết bị:
Máy li tâm Kubota 3300, hoặc máy Centrifuge 5424 R (Eppendorf),
Máy minispin
Máy lắc vortex
Máy đo mật độ quang Nanodrop 1000 (Thermo)
Máy ủ nhiệt Thermomixer comfort (Eppendorf)
Máy PCR mastercycle epgradient (eppendorf)
Máy điện di Mulpid Exu (Japan)
Tủ an toàn sinh học
Tủ lạnh bảo quản ở -4oC, -20oC, -80oC
Ống PCR 0,2 ml, Ống eppendorf 1.5 ml được khử trùng
Cạo phần ung thư đã được khoanh vùng từ lam paraffin slide
Thêm 1ml Toluen, Votex, Li tâm 15000 v/3-5 phút, loại bỏ dịch nổi
Thêm 1ml Ethanol 100%, Votex, Li tâm 15000v/ 3-5 phút
21
Loại bỏ dịch nổi. Để khô cặn 56 độ C
Thêm 650 µl Lysis buffer HD + 5µl Protein K
Ủ 56 độ C
Thêm 500 µl PCI (25:24:1).
Vontex, ly tâm 15000 v/20 phút/4oC, sau đó thu lớp trên trong suốt.
Thêm 500 µl CI (24:1).
Vontex, ly tâm 15000 v/10 phút/4oC, sau đó thu lớp trên trong suốt.
Thêm: 1000 µl ethanol 100% và 40 µl CH3COONa 3M, sau đó lắc đều và
để ở -20oC trong 2 giờ.
Đo mật độ quang học
- Mục đích: Xác định nồng độ và đo độ tinh sạch của mẫu DNA tổng số.
- Nguyên lý:
Acid nucleic có phổ hấp phụ cực đại ở bước sóng 260nm là do sự có mặt
GOLTAQ 2x
Mồi xuôi (2,5 pmol/ μl)
Mồi ngược (2,5 pmol/ μl)
DNA (50 ng/ μl)
Tổng thể tích
Thể tích
1μl
5 μl
1,5μl
1,5μl
1 μl
10.0 μl
- Chu trình nhiệt:
Biến tính:
94 oC trong 5 phút
Biến tính:
95 oC trong 30 giây
Gắn mồi:
57 oC trong 30 giây
Kéo dài:
72 oC trong 30 giây
Một phần sản phẩm PCR sau khi điện di, được nhuộm với ethidium
bromide. Các phân tử ethidium bromide sẽ xen vào giữa các base của nucleic
acid, khi chụp dưới ánh sáng tử ngoại sẽ cho ta hình ảnh DNA.
Dựa trên những hình ảnh thu được và so sánh marker tương ứng với độ
dài gen đích ta biết được sản phẩm PCR có đạt yêu cầu hay không. Phản ứng
PCR đạt yêu cầu khi vạch điện di rõ nét, băng gọn, đúng kích thước đoạn cần
khuyếch đại chứng tỏ phản ứng PCR tối ưu. Sản phẩm PCR có thể được sử dụng
ở các công đoạn tiếp theo (giải trình tự…)
- Tiến hành: gồm các bước sau:
Đổ gel
Tra mẫu
Chạy điện di
Nhuộm gel
Chụp ảnh
Đánh giá kết quả
+ Đổ gel agarose 1,5%:
Chuẩn bị khay đổ gel và lược: Tùy vào số lượng mẫu DNA cần kiểm tra
mà ta chọn loại khay và răng lược thích hợp.
Cho 15 ml TBE 1X + 0.225g agarose (loại 6 giếng) hoặc 25 ml TBE 1X +
0.375g agarose (loại 12 giếng) sau đó đun hỗn hợp bằng lò vi sóng trong
1,5 phút - 2 phút cho agarose tan hoàn toàn.
Đổ gel vào khay điện di đã được đặt sẵn lược để tạo giếng.
Để 30 - 45 phút cho tới khi gel đông đặc hoàn toàn. Bản gel điện di phải
có độ dày 3-4 mm.
3.4. Vấn đề đạo đức của đề tài
- Các đối tượng tham gia nghiên cứu là hoàn toàn tự nguyện và có quyền
rút lui khỏi nghiên cứu khi không muốn tham gia nghiên cứu.
- Các thông tin liên quan đến bệnh nhân được đảm bảo bí mật.
- Các kỹ thuật thao tác trên bệnh nhân được bảo đảm đúng chuyên môn.
- Đề tài nghiên cứu này được thực hiện hoàn toàn vì mục đích khoa học chứ
không vì mục đích nào khác.
IV. KẾT QUẢ
4.1. Một số đặc điểm bệnh nhân trong nghiên cứu
4.1.1. Đặc điểm về tuổi
Bảng 4.1. Đặc điểm về nhóm tuổi của bệnh nhân
Độ tuổi
Số lượng
50 tuổi
11
Tổng số BN
20
25
Tỷ lệ
9/20
1575,4
900,8
1437,1
364,1
2312,8
206
1147,2
498,9
198,9
Độ tinh sạch Mẫu mô
(A260/A280)
1,9
1,97
1,96
2
1,94
1,92
1,93
1,95
1,92
1,82
GB11
GB12
GB13
GB14
GB15
GB16
GB17
1,96
Nhận xét: DNA được tách chiết từ mẫu mô được đo bằng máy quang phổ
nano Drop 1000 ở các bước song 260 nm và 280 nm, kết quả thu được như sau,
hàm lượng DNA chiết tách được từ 206 – 2312.8 ng/µl trung bình là 1046.93
ng/µl, tỉ số OD260nm/280nm = 1,82 – 2, trung bình là 1.94 ng/µl. Như vậy sản phẩm
tách chiết DNA được sử dụng cho các kĩ thuật PCR và PCR lồng là đạt yêu cầu.
- Kiểm tra chất lượng DNA tách từ mẫu mô bằng phenol/chloroform:
Phương pháp đo quang: Nồng độ và chất lượng DNA đạt tiêu chuẩn