MỤC LỤC
Mục
1
1.1
1.2
1.3
1.4
2
2.1
2.1.1
2.1.2
2.2
2.2.1
2.2.2
2.3
2.3.1
2.3.2
2.3.2.1
2.3.2.2
2.3.2.3
2.3.3
2.3.3.1
2.3.3.2
2.3.3.3
2.3.4
2.3.4.1
2.3.4.2
2.4
3
3.1
3.2
Kiến nghị
Trang
1
1
1
1
1
3
3
3
3
4
4
5
6
6
7
7
9
10
10
11
11
12
13
13
14
14
18
thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Từ loại Tiếng Việt là một nội dung kiến thức được sắp xếp trong chương
trình phân môn luyện từ và câu lớp 4. Những năm trực tiếp dạy lớp 4, tôi nhận ra
một thực tế, học sinh lớp 4 vẫn còn nhầm lẫn danh từ, động từ, tính từ, chưa làm tốt
các bài tập liên quan đến từ loại. Để giúp học sinh khắc phục sự những tồn tại đó,
tôi đã tích lũy một số kinh nghiệm và vận dụng trong thực tế giảng dạy ở các năm
học. Đó chính là “ Một số biện pháp giúp học sinh lớp 4 làm tốt các bài tập về từ
loại.”
1.2 . MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Đề xuất, đưa ra một số biện pháp giúp học sinh lớp 4 làm tốt các bài tập về
danh từ, động từ, tính từ qua những kinh nghiệm dạy học của bản thân được tích
lũy trong những năm qua.
1.3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Từ loại Tiếng Việt
- Các biện pháp hướng dẫn học sinh lớp 4 phân biệt danh từ, động từ, tính từ
1.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2
- Nghiên cứu các tài liệu về từ loại Tiếng Việt
- Nghiên cứu thực tiễn dạy học trên lớp qua các năm học, các đối tượng học
sinh lớp 4 khi học từ loại danh từ, động từ, tính từ
- Điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin, dữ liệu về các từ loại nghiên
cứu
- Thống kê toán học, xử lí số liệu về kết quả vận dụng thực hành xác định
danh từ, động từ, tính từ và các bài tập vận dụng.
- Phân tích, tổng hợp, khái quát hóa một số vấn đề về danh từ, động từ, tính
từ trong Tiếng Việt.
3
thuộc nhóm chỉ định và các từ thuộc nhóm liệt kê, xếp dãy. Hư từ là những từ
không mang ý nghĩa từ vựng, không rõ nghĩa từ vựng. Hư từ chỉ mang ý nghĩa ngữ
pháp, chỉ có chức năng ngữ pháp trong câu, đảm nhiệm một số chức năng trong
câu.
Theo tiêu chí cú pháp, chúng ta phân biệt từ vựng dựa vào khả năng kết hợp
với những từ khác. Vì vậy, căn cứ vào khả năng kết hợp và đảm nhiệm các chức vụ
ngữ pháp trong câu, chúng ta sẽ biết đó là từ loại gì? Dựa vào tiêu chí này, nhóm từ
định danh sẽ bao gồm danh từ, động từ, tính từ... còn các từ khác được coi như là
công cụ hay những hình vị ngữ pháp có vai trò làm cho câu văn, đoạn văn được
liên kết chặt chẽ với nhau, logic, giúp câu văn mang ý nghĩa trọn vẹn. Cũng trên cơ
sở dựa vào ý nghĩa khái quát, khả năng kết hợp và chức vụ ngữ pháp, chúng ta đã
phân chia từ vựng thành nhiều lớp cụ thể với các đặc trưng xác định.
4
2.2. THỰC TRẠNG
2.2.1. Nội dung dạy danh từ, động từ, tính từ ở Tiểu học:
Trong chương trình phân môn luyện từ và câu ở bậc Tiểu học, danh từ, động
từ và tính từ được học từ lớp 2 đến lớp 5 nhưng các lớp 2 và 3 chưa xuất hiện khái
niệm danh từ, động từ, tính từ. Ở các lớp này, chủ yếu học sinh được luyện tập
nhiều lần qua các bài tập với yêu cầu tìm từ chỉ sự vật hoặc hoạt động, đặc điểm,
dùng từ chỉ sự vật, hoạt động, đặc điểm để viết câu. Lên lớp 4, các em bắt đầu được
làm quen với nhiều khái niệm trong đó có khái niệm danh từ, động từ, tính từ. Ở
mỗi bài học khái niệm này, học sinh được lĩnh hội kiến thức theo phương pháp quy
nạp - diễn dịch, nghĩa là học sinh thông qua tìm hiểu, phân tích các ngữ liệu ở các
bài tập phần nhận xét rút ra nội dung ghi nhớ và tiếp tục vận dụng nội dung cần ghi
nhớ đó vào giải quyết các bài tập cụ thể ở phần luyện tập. Đến lớp 5, học sinh được
ôn tập, củng cố lại các khái niệm về từ loại đã học ở lớp 4 và tiếp tục thực hành giải
quyết các bài tập nhận diện từ, đặt câu, viết câu văn, đoạn văn. Hệ thống các bài tập
về từ loại được sắp xếp theo trình tự từ dễ đến khó.
Đối với chương trình học cơ bản, việc sắp xếp mạch kiến thức về từ loại
Tiếng Việt và hệ thống bài tập đưa ra như vậy là tương đối hơp lí. Một số kiến thức
từ loại mang tính trừu tượng đã được giảm tải đảm bảo mức độ chuẩn kiến thức kĩ
năng như danh từ chỉ khái niệm và danh từ chỉ đơn vị đã được lược bỏ trong
chương trình LTVC lớp 4. Việc học và giải quyết các bài tập về danh từ, động từ,
tính từ trở nên nhẹ nhàng hơn. Song ngoài những nội dung được luyện tập trong
SGK, các em có những lúc còn luyện tập thêm một số dạng bài khác nhằm củng cố,
khắc sâu kiến thức đã học. Qua một số bài tập khác dạng đó, các em bộc lộ rõ
những hạn chế trong việc nắm kiến thức, vận dụng giải quyết bài tập.
2.2.2. Thực trạng học từ loại danh từ, động từ, tính từ của học sinh lớp
4.
Mặc dù ở lớp 2, 3 các em đã được làm quen với các bài tập nhận diện các từ
chỉ sự vật, hoạt động, đặc điểm nhưng lên lớp 4, việc giải quyết các bài tập về từ
loại vẫn còn nhầm lẫn. Thực tế các bài tập học sinh mắc nhiều lỗi khác nhau như:
xác định thiếu từ loại theo yêu cầu (VD: Đoạn thơ có 5 danh từ, chỉ xác định được
4 danh từ), nhầm lẫn giữa từ loại này với từ loại khác, nhất là trong một số trường
hợp chuyển loại từ ( VD: nhầm lẫn danh từ với đại từ, nhầm lẫn động từ chỉ trạng
thái với tính từ), việc đặt câu hoặc viết đoạn văn có mẫu câu chứa các từ loại đã học
chưa đạt yêu cầu đề bài ( VD: Đề yêu cầu viết câu mẫu Ai làm gì ? có em lại viết
câu mẫu Ai thế nào?), có em nhầm lẫn từ loại với từ chia theo cấu tạo ( VD: Đề
yêu cầu xác định danh từ, động từ, tính từ thì lại xác định từ đơn, từ ghép, từ láy),
có em không phân chia được danh giới từ nên nhầm lẫn xác định cụm từ là một từ
hoặc ghép 1 tiếng của từ phức đứng trước với một tiếng của từ phức đứng sau để
tạo thành một từ loại một cách tối nghĩa, nhầm lẫn giữa danh từ chung với danh từ
riêng.....Bên cạnh đó cũng có một số học sinh còn mơ hồ về các từ loại danh từ,
động từ, tính từ. Để xác định chính xác mức đạt được của học sinh, sau khi học
xong tuần 24, tôi đã tiến hành tổ chức cho các em học sinh lớp 4B, năm học 2017
– 2018 làm một bài kiểm tra như sau:
Đề bài:
Tổng số
học sinh
34
Điểm 9,
Điểm 7, 8
Điểm 5, 6
10
2 = 5,8 % 11= 32,3 % 14=41,4 %
Điểm dưới
5
7 = 20,5 %
Qua nhiều năm dạy các em học sinh lớp 4, tôi nhận thấy từ loại trong chương
trình phân môn luyện từ và câu chỉ chiếm 6 tiết nhưng đây là một nội dung học tập
quan trọng, cơ bản và trọng tâm. Trong các đề kiểm tra giữa kì, cuối kì, các câu hỏi
về từ loại thường xuyên xuất hiện. Chất lượng làm các bài tập có liên quan đến từ
loại của học sinh chưa đạt như mong muốn. Xuất phát từ mục tiêu nâng cao hơn
nữa việc nhận diện các từ loại danh từ, động từ, tính từ và vận dụng kiến thức đã
học giải quyết các bài tập liên quan, tôi đã nghiên cứu một số biện pháp giúp học
sinh làm tốt các bài tập về từ loại .
2.3. CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
2.3.1. Giúp học sinh phân chia ranh giới từ chính xác
Việc phân chia ranh giới từ đúng sẽ giúp học sinh xác định đúng từ loại.
Trong thực tế, nhiều bài làm của học sinh do không phân chia đúng ranh giới từ đã
dẫn đến xác định cả cụm từ là một từ hoặc khó xác định từ loại.
Ví dụ: Xác định danh từ, động từ, tính từ trong các câu sau:
“ Xe chúng tôi leo chênh vênh trên dốc cao của con đường xuyên tỉnh
phân tích trên, giáo viên khẳng định cách phân tích (2) là phù hợp trong đó
“đám”là từ đơn và là một danh từ đơn vị, “mây trắng” là từ ghép và là danh từ chỉ
sự vật, “nhỏ” là tính từ.
Ở những bài tập nhận diện từ loại trong một dữ liệu ( đoạn văn, đoạn thơ, câu
văn, câu thơ), đối với những học sinh có kĩ năng nhận định ranh giới từ tốt thì
không cần thiết yêu cầu học sinh vạch ranh giới từ, đối với những học sinh nhận
định còn nhầm lẫn, giáo viên cần cho các em dùng bút vạch rõ ranh giới các từ. Từ
đó, các em có cơ sở xác định đúng danh từ, động từ, tính từ.
2.3.2. Nắm vững khái niệm từng từ loại
Các từ loại được học trong chương trình luyện từ và câu lớp 4 bao gồm danh
từ, động từ, tính từ.
2.3.2.1. Danh từ:
Phần ghi nhớ SGK Tiếng Việt 4, tập 1, trang 53 có viết: Danh từ là những
từ chỉ sự vật ( người, vật, hiện tượng, khái niệm hoặc đơn vị). Trong đó, danh từ
chỉ người như : ông, cha, học sinh, giáo viên...; danh từ chỉ vật như: sông, hồ, bàn,
ghế, mũ, nón...; danh từ chỉ hiện tượng như: mưa, nắng, giông bão; danh từ chỉ khái
niệm như: cuộc sống, đạo đức, kinh nghiệm, danh từ chỉ đơn vị như: con, cái,
chiếc, mảnh, tấm, tấn, tạ, ki- lô - gam, xăng - ti –mét, thôn, xóm, tỉnh huyện....
Để giúp học sinh mở rộng kiến thức về khái niệm danh từ, trong bài học,
giáo viên có thể lồng thêm một số kiến thức về danh từ. Chẳng hạn, ngoài các danh
8
từ chỉ người, vật, hiện tượng, khái niệm, đơn vị, trong nhiều văn cảnh còn có danh
từ chỉ sự việc như: lễ chào cờ, cuộc họp, giáng sinh, sinh nhật... Từ đó, có thể khái
quát để học sinh hiểu rộng hơn: Danh từ là những từ chỉ sự vật, sự việc. Sau khi
học sinh nắm được khái niệm danh từ, ở mỗi loại danh từ, giáo viên nên cho học
sinh tự lấy ví dụ để khắc sâu kiến thức một lần nữa và vận dụng làm các bài tập.
Đối với bài tập 1, 2 trong SKG Tiếng Việt 4 trang 53, do đã được giảm tải nên giáo
viên có thể thay thế bằng hai bài tập khác. Trong các năm dạy lớp 4, tôi đã thay thế
danh từ chung, giáo viên giới thiệu danh từ chung có thể chia thành hai loại: Danh
từ cụ thể và danh từ trừu tượng. Những danh từ cụ thể thường chỉ sự vật mà chúng
9
ta có thể cảm nhận được bằng các giác quan như: quần áo, mưa, nắng, bác sĩ, bảo
vệ..., còn những danh từ trừu tượng thường chỉ các sự vật mà ta không cảm nhận
được bằng giác quan, chỉ cảm nhận được nhờ những suy nghĩ, tưởng tượng, nhận
thức của mỗi người như: tâm hồn, tính cách, niềm tin....
Việc xác định danh từ cần được luyện tập thêm giúp học sinh chắc chắn hơn
khi giải quyết các bài tập. Vì vậy, ngoài các buổi chính khóa, giáo viên có thể tổ
chức cho học sinh làm thêm một số bài tập khác. Chẳng hạn những bài tập yêu cầu
học sinh viết tên địa chỉ nơi mình ở hoặc viết tên các danh lam, thắng cảnh, di tích
lịch sử, giáo viên giúp học sinh vừa nắm được quy tắc viết tên người, tên địa lí
Việt Nam, vừa nhận biết đúng danh từ chung, danh từ riêng:
VD: Viết địa chỉ của gia đình em:
làng Cao Thắng, xã Cao Thịnh, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa
các từ: làng, xã, huyện, tỉnh là danh từ chung nên viết thường; các từ Cao Thắng,
Cao Thịnh, Ngọc Lặc, Thanh Hóa là danh từ riêng nên viết hoa.
2.3.2.2. Động từ
Động từ là những từ chỉ hoạt động, trạng thái của sự vật ( Ghi nhớ - SGK
Tiếng Việt 4, trang 94). Khi dạy đến bài học về động từ, giáo viên giúp học sinh
hiểu rõ bản chất của từ, nắm chắc kiến thức về động từ, biết lấy ví dụ về các trường
hợp của động từ. Các động từ chỉ hoạt động thường thể hiện sự tác động giữa các
sự vật với nhau như: đánh, chơi, ăn, chạy, học, viết... giúp học sinh dễ nhận diện.
Tuy nhiên, các động từ chỉ trạng thái thường thể hiện những diễn biến bên trong sự
vật như: còn, mất, biến thành, biến mất, vui, buồn, hốt hoảng.... học sinh khó phát
hiện hoặc nhầm lẫn với tính từ. Để giúp học sinh nhận diện được các động từ chỉ
trạng thái, giáo viên có thể giới thiệu thêm cho các em một số loại động từ chỉ trạng
thái như động từ chỉ trạng thái tâm lí: vui, buồn, giận dỗi, lo lắng, băn khoăn..,
Có một số động từ chỉ trạng thái rất dễ nhầm lẫn với tính từ như: vui, buồn,
yêu, ghét.... Trong những văn cảnh có các động từ này, đối với học sinh Tiểu học,
chúng ta đều cho các em xác định là động từ.
2.3.2.3. Tính từ
Tính từ là những từ miêu tả đặc điểm hoặc tính chất của sự vật, hoạt
động, trạng thái ( Phần ghi nhớ SGK Tiếng Việt 4, trang 111 ). Trong tiết dạy về
tính từ, sau khi cho học sinh tìm hiểu và giải quyết các bài tập ở phần nhận xét, rút
ra nội dung cần ghi nhớ trên đây, giáo viên nên phân tích mở rộng thêm về nội
dung ghi nhớ, nhấn mạnh và khắc sâu các ý trong phần ghi nhớ: miêu tả đặc điểm
hoặc tính chất của sự vât, đặc điểm hoặc tính chất của hoạt động, đặc điểm hoặc
tính chất của trạng thái, đồng thời lấy thêm ví dụ minh họa thêm cho mỗi ý.
VD: Mặt đường phẳng lì. (Tính từ phẳng lì miêu tả đặc điểm sự vật)
Nước mía ngọt lịm (Tính từ ngọt lịm miêu tả tính chất của sự vật)
Cậu bé chạy nhanh thoăn thoắt. ( Tính từ thoăn thoắt miêu tả đặc
điểm của hoạt động nhanh)
Chị ấy đang buồn rười rượi. ( Tính từ rười rượi miêu tả đặc điểm của
trạng thái buồn).
Đặc điểm hoặc tính chất của sự vật có thể là màu sắc, hình dáng, kích thước,
âm thanh, hình khối và phẩm chất, tư chất, tính tình của con người. Từ chỉ đặc điểm
của con người, đồ vật cây cối, con vật là những từ chỉ vẻ riêng, nét riêng bên ngoài
chúng ta có thể tri giác được, quan sát được như: to, nhỏ, cao, thấp, béo, gầy, xanh,
đỏ... hoặc những đặc điểm bên trong chúng ta cảm nhận được qua sự phân tích,
khái quát, nhìn nhận như: trung thực, hiền lành, thông minh, tốt, xấu... Những tính
từ chỉ các đặc điểm bên trong sự vật là những tính từ chỉ tính chất, tư chất, phẩm
chất.
Khi dạy về tính từ, ngoài giúp học sinh hiểu thấu đáo các ý trong nội dung
phần ghi nhớ, giáo viên cần giúp các em nắm được các mức độ của tính từ bao
gồm: tính từ không có mức độ, tính từ có mức độ và tính từ chỉ mức độ cao nhất.
11
VD: Năm cái chén, hai mảnh vải, bốn chiếc áo, thứ đồ chơi....
Đứng sau danh từ là các từ chỉ định như : này, nọ, kia, ấy, đó....Như vậy,
danh từ kết hợp được với các từ chỉ định đứng sau.
VD: học sinh ấy, cô gái nọ, cái bút kia...
Sau danh từ trung tâm còn có các từ chỉ đặc điểm, tính chất đi kèm có vai
trò bổ sung ý nghĩa cho danh từ.
VD: học sinh giỏi ấy, cô gái xinh đẹp kia, chú chó trung thành này....
Như vậy, một cụm danh từ có thể có tới 2, 3 thành tố phụ đứng trước và 1,
2 thành tố phụ đứng sau. Chẳng hạn:
Tất cả những cái áo trắng tinh ấy
1
2
3 DT
4
5
Các từ 1, 2, 3 là thành phần phụ trước, các từ 4, 5 là thành phần phụ sau.
Ngoài ra, danh từ còn có khả năng tạo câu hỏi với các từ nghi vấn như: nào? gì?
12
VD: bức tranh nào? cái gì? Con gì? Cây gì? ...
Trong một số trường hợp chuyển loại từ, các tính từ, động từ đi kèm với các
từ : nỗi, niềm, sự, cuộc, cái... sẽ trở thành danh từ.
VD: niềm vui, nỗi buồn, sự thành công, cuộc cách mạng...
Dựa vào các khả năng kết hợp trên đây của danh từ, giáo viên sẽ giúp các
em nhận diện đúng các danh từ, cụm danh từ trong những văn cảnh cụ thể. Trong
tiết học luyện tập thêm về danh từ, giáo viên mở rộng thêm kiến thức về khả năng
kết hợp của danh từ để các em có thể làm tốt các bài tập về danh từ.
2.3.3.2 . Khả năng kết hợp của động từ
Động từ có khả năng kết hợp với các phụ từ chỉ mệnh lệnh. Các phụ từ chỉ
13
về động từ đồng thời cho các em làm các bài tập vận dụng. Từ đó, các em có kĩ
năng xác định đúng các động từ và cụm động từ.
2.3.3.3. Khả năng kết hợp của tính từ
Điểm nổi bật nhất của tính từ là khả năng kết hợp được với các phụ từ chỉ
mức độ. Các phụ từ chỉ mức độ có thể đứng trước hoặc đứng sau tính từ như: rất,
quá, lắm, cực kì, vô cùng, hơi, tuyệt vời, tuyệt trần, tuyệt hảo, tuyệt diệu....
VD: rất đẹp, quá xinh, xinh quá, siêng lắm, đẹp vô cùng Tổ quốc ta ơi, đẹp
tuyệt vời, đẹp tuyệt trần, ngon tuyệt hảo,...
Ngoài ra, các động từ chỉ trạng thái cảm xúc như vui, buồn, lo lắng, sợ hãi...
cũng thường kết hợp được với các phụ từ chỉ mức độ. Để thống nhất cho tất cả học
sinh Tiểu học, giáo viên chỉ rõ cho học sinh thấy đó là các động từ, không thuộc
tính từ.
Một số danh từ, động từ trong các văn cảnh do có sự kết hợp với các phụ từ
chỉ mức độ đã trở thành tính từ. Trong những trường hợp này,giáo viên cần nhấn
mạnh khi một từ nào đó kết hợp được với các từ chỉ mức độ, ta khẳng định từ đó là
tính từ.
VD: Những chiếc áo dài rất Việt Nam ấy ( Từ “ Việt Nam” là danh từ đã
chuyển thành tính từ).
Khi làm các bài tập nhận diện từ loại ở lớp 4, việc sử dụng các khả năng
kết hợp của mỗi từ loại sẽ giúp học sinh biết nhận diện các từ loại một cách chính
xác, tránh được sự nhầm lẫn hoặc thiếu sót. Bên cạnh việc nắm vững khái niệm mỗi
từ loại và nắm được khả năng kết hợp của từ loại, giáo viên còn giúp học sinh căn
cứ vào khă năng đảm nhiệm các chức vụ ngữ pháp của mỗi từ loại để phân biệt.
2. 3.4. Khả năng đảm nhiệm chức vụ ngữ pháp của các từ loại
2.3.4.1. Khả năng đảm nhiệm chức vụ ngữ pháp của danh từ
Trong thực tế, danh từ có thể đảm nhiệm nhiều chức vụ ngữ pháp khác
nhau trong câu như chủ ngữ, vị ngữ, trạng ngữ và bổ ngữ, định ngữ ( trước đây đưa
CN
VN
Em// là học sinh lớp 4C.
CN
VN
Trong ba câu trên, “ bộ đội”, “giáo viên”, “ học sinh lớp 4C” đều là danh từ
hoặc cụm danh từ giữ chức vụ vị ngữ trong câu.
2.3.4.2. Khả năng đảm nhiệm chức vụ ngữ pháp của động từ và tính từ
Cũng như danh từ, động từ và tính từ cũng có thể giữ tất cả các chức vụ
ngữ pháp trong câu như chủ ngữ, vị ngữ, trạng ngữ, bổ ngữ, định ngữ...Song, chức
năng ngữ pháp chính của động từ và tính từ là thường làm vị ngữ trong câu, trừ
mẫu câu kể Ai là gì?. Trong mẫu câu Ai làm gì?, bộ phận vị ngữ thường do động từ,
cụm động từ tạo thành. Trong mẫu câu Ai thế nào ?, bộ phận vị ngữ thường do tính
từ, động từ trạng thái hoặc cụm tính từ, cụm động từ trạng thái tạo thành.
VD: Bạn Hoa // rất chăm học.
( Mẫu câu Ai thế nào?)
CN
VN
Bố em // đang tập thể dục.
( Mẫu câu Ai làm gì?)
CN
VN
Ngoài các mẫu câu kể đã học và các bộ phận chính của mỗi câu kể đó, các
câu chia theo mục đích nói khác đều có vị ngữ là động từ hoặc tính từ?
VD: Câu hỏi: Cháu đã ăn cơm chưa?
Câu khiến: Chị cứ về nhà đi.
Câu cảm: Con mèo nhà em dễ thương quá!
Việc căn cứ vào các chức vụ ngữ pháp cũng phần nào giúp học sinh nhận
diện đúng danh từ, động từ, tính từ. Từ đó, các em có thể vận dụng khi làm các bài
tập khác có liên quan.
Kết quả bài làm là:
17
Chất lượng bài làm về nhận diện từ loại trong 2 năm giao lưu CLB Toán –
Tiếng Việt cấp trường như sau:
Năm học
Năm học 2017 – 2018
Số HS tham gia Xác định đúng các Xác định còn nhầm
từ loại
1 đến 2 từ
32
28 = 87,5%
4 = 12,5%
18
Năm học 2018 – 2019
42
38 = 90,4%
4 = 9,6%
Đối với những kiến thức cơ bản ở lớp đại trà, các em cũng hoàn thành tốt
các bài tập cơ bản về danh từ, động từ, tính từ. Năm học 2018 – 2019, sau khi học
xong tuần 24, tôi cũng tiến hành cho học sinh làm bài kiểm tra như đề bài đã thực hiện với học
sinh năm trước. Kết quả sau khi chấm như sau:
Năm học
Dạy luyện từ và câu cho học sinh là giúp các em nắm được các quy tắc,
kiến thức về từ và câu Tiếng Việt. Phân môn này bao gồm các quy tắc đôi khi khô
cứng khiến học sinh lĩnh hội hoặc tự chiếm lĩnh kiến thức một cách khó khăn. Tuy
nhiên, trong quá trình dạy học, bằng những phương pháp dạy học mềm dẻo, khéo
léo kết hợp với những biện pháp khắc sâu kiến thức, giáo viên sẽ dần xây dựng cho
học sinh kĩ năng làm bài tốt hơn, nâng cao chất lượng, hoàn thành tốt các bài tập.
Đối với mảng kiến thức về từ loại bao gồm danh từ, động từ, tính từ trong
chương trình luyện từ và câu lớp 4, trong nhiều năm qua, tôi đã thường xuyên áp
dụng các biện pháp trên đây và thấy rõ kết quả học sinh đạt được sau khi tổ chức
các hoạt động học. Một trong những biện pháp giúp học sinh nhận diện danh từ,
động từ, tính từ nhanh là dựa vào khái niệm và khả năng kết hợp của chúng. Điều
đó chứng tỏ việc tích lũy những kinh nghiệm khi dạy một nội dung kiến thức nào
đó để vận dụng những kinh nghiệm trong thực tế sẽ rất hiệu quả. Đây là việc làm
thiết thực mà mỗi giáo viên nên quan tâm hơn.
Đối với các em học sinh, sau khi hoàn thành tốt mỗi bài tập về từ loại, được
giáo viên khen ngợi, các em tự tin và nỗ lực hơn, có nhiều cố gắng hơn trong học
tập. Khi gặp những bài tập về từ loại, các em không lúng túng và ngần ngại, nhiều
em hào hứng làm bài. Từ đó phong trào học tập trong lớp trở nên sôi nổi, học sinh
hăng hái xây dựng bài.
3. 2. Kiến nghị
Chương trình các môn học ở lớp 4 ở tất cả các môn học đều khó. Học sinh
từ lớp 3 lên lớp 4 còn bỡ ngỡ với những bài học dạng khái niệm, bài bản. Các bài
tập về từ loại ở lớp 4 lại là những dạng bài khái niệm. Mỗi bài học bao gồm phần
nhận xét, ghi nhớ và luyện tập. Vì vậy, giáo viên dạy khối 4 cần có những hướng
dẫn cụ thể ngay từ những bài học có dạng khái niệm đầu tiên để các em làmq quen
và luyện tập tư duy khái quát, biết vận dụng những vấn đề đã được khái quát hóa
( tức phần ghi nhớ) vào các bài tập thực hành. Trong quá trình dạy các bài học về từ
loại, ngoài những kiến thức có trong SGK, giáo viên nên có những tham khảo để
mở rộng kiến thức cho học sinh đồng thời dạy cho các em biết cách nhận diện từ
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác.
NGƯỜI THỰC HIỆN
Lưu Thị Hương
21
TÀI LIỆU THAM KHẢO
TT
Tên tài liệu
1
Sách giáo khoa Tiếng
Việt 4 – Tập 1
2
Sách giáo viên Tiếng
Việt 4 – Tập 2
3
Thiết kế bài giảng Tiếng
Việt 4 – Tập 2
Phương pháp dạy học
Tiếng Việt
xuất bản
Nhà xuất bản
giáo dục
Năm
xuất bản
2005
Nhà xuất bản
giáo dục
2005
Nhà xuất bản Hà
Nội
Nhà xuất bản
giáo dục
Nhà xuất bản
giáo dục
Nhà xuất bản
giáo dục
2005
1999
1997
1997
22