PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO HUYỆN YÊN ĐỊNH
PHÒNG GIÁO
DỤC VÀ
ĐÀO
HUYỆN
YÊN ĐỊNH
TRƯỜNG
TIỂU
HỌCTẠO
ĐỊNH
TƯỜNG
TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐỊNH TƯỜNG
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH
LỚP 5 LÀM TỐT CÁC DẠNG BÀI TẬP LUYỆN TỪ VÀ CÂU
MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG
ĐỌC ĐÚNG CHO HỌC SINH LỚP 2 NHẰM NĂNG CAO CHẤT LƯỢNG
DẠY PHÂN MÔN TẬP ĐỌC
Người thực hiện: Nguyễn Thị Lan
Chức vụ: Hiệu Trưởng
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Định Tường
SKKN thuộc lĩnh mực: Tiếng Việt
Người thực hiện: Thiều Thị Tâm
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường tiểu học Định Tường
13
14
3.1. Kết luận
3.2. Kiến nghị
14
15
I. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài:
Giáo dục ngày càng có vai trò to lớn và quan trọng hơn trong việc bồi dưỡng
đạo đức, trang bị kiến thức cho học sinh. Trong giáo dục Tiểu học là cơ sở ban
đầu hết sức quan trọng, đặt nền móng cho sự phát triển toàn diện nhân cách con
người. Điều đầu tiên phải nói tới đó là việc hình thành ngôn ngữ cho học sinh.
Ngôn ngữ là thứ công cụ quan trọng, có tác dụng biết được những giá trị trừu
tượng mà các giác quan không thể vươn tới được.
Ở Tiểu học, các môn học có tác dụng hổ trợ cho nhau nhằm giáo dục toàn diện
học sinh đó là phải kể đến môn Luyện từ và câu, một phân môn chiếm thời lượng
khá lớn trong môn Tiếng Việt. Nó tách thành một phân môn độc lập, có vị trí
ngang bằng với phân môn tập đọc, tập làm văn, … song song tồn tại với các môn
học khác. Điều đó thể hiện việc cung cấp vốn từ cho học sinh là rất cần thiết và
nó có thể mang tính chất cấp bách nhằm “đầu tư” cho học sinh có cơ sở hình
thành ngôn ngữ trong hoạt động giao tiếp cũng như chiếm lĩnh nguồn tri thức
2
mới trong các môn học khác. Tầm quan trọng đó đã được rèn giũa luyện tập
nhuần nhuyễn trong quá trình giải quyết các dạng bài tập trong phân môn Luyện
từ và câu lớp 5.
môn Tiếng Việt và trong các giờ học của các môn học khác, điều đó nói lên ý
nghĩa quan trọng của việc dạy luyện từ và câu ở bậc Tiểu học.
Vốn từ là một trong những bộ phận cấu thành của ngôn ngữ không thể không
dặc biệt coi trọng vốn từ cho học sinh trong giao tiếp thông thường cả người
phát(nói- viết) và người nhận( nghe - đọc) đều cần nắm được từ, câu và sử dụng
từ và câu một cách chuẩn xác thì việc giao tiếp mới diễn ra có hiệu quả, nhất là
đối với học sinh độ tuổi Tiểu học. Khi mà vốn Tiếng Việt nói chung, vốn từ và
3
câu nói riêng ở các em còn hạn chế, cần phải được bổ sung phát triển để đáp ứng
các nhu cầu học tập giao tiếp....việc dạy từ và câu cho học sinh càng được coi là
quan trọng không thể bỏ qua.
Nhưng mục đích chủ yếu của việc dạy từ và câu ở phân môn này là giúp học
sinh hiểu và cảm thụ tốt nội dung bài văn (Trong phân môn tập đọc), vận dụng
một cách thích hợp có hiệu quả trong việc làm một bài văn.
2.2.Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:
Thực trạng:
a) Đối với chương trình sách giáo khoa:
Số tiết phân môn Luyện từ và câu của chính sách giáo khoa lớp 5 gồm 2
tiết/tuần. Sau mỗi tiết hình thành kiến thức là một loạt các bài tập củng cố bài.
Mà việc xác định phương pháp tổ chức cho một tiết dạy như vậy là hết sức cần
thiết. Việc xác định yêu cầu của bài và hướng giải quyết còn mang tính thụ động,
chưa phát huy triệt để vốn kiến thức khi luyện tập, thực hành.
b) Đối với giáo viên:
Phân môn Luyện từ và câu tạo cho học sinh môi trường giao tiếp để học sinh
mở rộng vốn từ có định hướng, trang bị cho học sinh các kiến thức cơ bản về
Tiếng Việt gắn với các tình huống giao tiếp thường gặp. Từ đó nâng cao các kỹ
năng sử dụng Tiếng Việt của học sinh. Giáo viên là một trong ba nhân tố cần
Thực tế cho thấy nhiều học sinh khi hỏi đến lí thuyết thì trả lời rất trôi chảy,
chính xác nhưng khi làm bài tập thực hành thì lúng túng và làm bài không đạt yêu
cầu. Điều đó thể hiện học sinh nắm kiến thức một cách máy móc, thụ động và tỏ
ra yếu kém thiếu chắc chắn.
Kết quả, hiệu quả của thực trạng trên:
T«i ®· tiến hành khảo sát học sinh bằng bài tập sau:
Đề bài: Tìm từ đồng nghĩa, trái nghĩa với mỗi từ sau : thật thà, siêng năng,
kiêu ngạo, dũng cảm
Qua khảo sát 30 học sinh lớp 5A kết quả đạt được như sau:
Hoàn thành
Chưa hoàn thành
SL
SL
TL (%)
TL (%)
47
16
53
14
Điều đáng nói ở đây là có tớ 20 em chưa biết xác định được từ đồng nghĩa, từ
trái nghĩa. Trong quá trình làm bài, học sinh chưa biết trình bày khoa học rõ ràng,
câu trả lời chưa đầy đủ, nhiều em còn lẫn lộn khi tìm từ và vốn từ của các em rất
nghèo nàn.
Qua giảng dạy tôi nhận thấy kết quả chưa cao là do nguyên nhân cả hai phía cả
người dạy và người học. Do vậy, tôi rất cần phải trau rồi kiến thức tìm ra phương
pháp đổi mới trong hướng dẫn giảng dạy để khắc phục thực trạng trên giúp kết
quả dạy học được nâng lên, thu hút sự chú ý của học sinh vào hoạt động học.
2.3. Những giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề:
Sơ lược một số dạng bài tập thực hành chủ yếu trong phân môn Luyện
từ và câu ở lớp 5 là:
Mỗi một dạng bài tập cụ thể, bài tập riêng đều có một hình thức tổ chức riêng.
Có thể theo nhóm, làm việc cả lớp hoặc làm việc cá nhân. Song song với các hình
thức đó là phương pháp hình thành giải quyết vấn đề cho học sinh.
Muốn làm được việc đó, trước tiên học sinh phải hiểu rõ đặc điểm của nội dung
các chủ điểm mà phân môn Luyện từ và câu cung cấp.
- Qua các bài tập mở rộng vốn từ, học sinh được: Cung cấp thêm các từ ngữ mới
theo chủ điểm hoặc nghĩa, các yếu tố Hán Việt; rèn luyện khả năng vốn từ theo
chủ điểm; rèn luyện kĩ năng dùng từ đặt câu và sử dụng các dấu câu, sử dụng
thành ngữ, tục ngữ.
- Thông qua các bài tập về từ (các hiện tượng đồng nghĩa, trái nghĩa, đồng âm),
học sinh được cung cấp kiến thức sơ giản về từ như xác định được nghĩa, cấu tạo
và cách sử dụng các từ đó.
- Thông qua các bài tập về từ loại: ngoài việc củng cố các từ loại đã học ở lớp 4,
lên lớp 5 học sinh còn được cung cấp các kiến thức về đại từ, quan hệ từ.
- Qua các bài tập về câu, học sinh nắm được cấu tạo của câu ghép, biết cách đặt
câu ghép và biết liên kết các câu và đoạn trong văn bản.
Phương pháp tổ chức cho học sinh làm một số bài tập luyện từ và câu:
Các kiểu hình thức về kĩ năng cần học trong phân môn Luyện từ và câu được
rèn luyện thông qua nhiều bài tập với các tình huống giao tiếp tự nhiên.
* Đối với các dạng bài tập mở rộng vốn từ:
Thông qua làm bài tập, học sinh nắm được nghĩa của từ thuộc bài mở rộng và
biết đặt câu với từ đó.
Ví dụ1: Bài : Mở rộng vốn từ : Tổ quốc
6
Bài 1: Tìm trong bài “Thư gửi các học sinh” hoặc bài “Việt Nam thân yêu”
những Từ đồng nghĩa với từ Tổ quốc.
- Bài này giáo viên yêu cầu học sinh làm việc theo cặp và ghi các từ ra phiếu.
học, học sinh trung học, bác sĩ, kĩ sư, tiểu thương, chủ tiệm )
- Giáo viên giúp học sinh hiểu từ tiểu thương.
- Cho học sinh trao đổi theo cặp và làm bài vào vở bài tập, cho đại diện hai cặp
làm vào phiếu khổ rộng và trình bày.
- Giáo viên và học sinh cả lớp nhận xét, chốt lại ý đúng.
- Cho học sinh liên hệ và kể thêm các từ ngữ khác phù hợp với các nhóm trên.
Cho học sinh đọc lại nội dung bài vừa làm.
7
Bài 2: Các thành ngữ, tục ngữ dưới đây nói lên những phẩm chất gì của con
người Việt Nam ta ?
a) Chịu thương chịu khó.
b) Dám nghĩ dám làm.
c) Muôn người như một.
d) Trọng nghĩa khinh tài ( tài : tiền của ).
e) Uống nước nhớ nguồn.
- Cho học sinh đọc yêu cầu bài.
- Giáo viên giải thích thêm các em có thể dùng nhiều từ đồng nghĩa để giải thích
cặn kẽ, đầy đủ nội dung một thành ngữ hoặc tục ngữ.
- Cho học sinh trao đổi theo cặp trong bàn và ghi lại ý kiến vào phiếu.
- Đại diện cặp học sinh trình bày ý kiến.
- Cả lớp và giáo viên cùng nhận xét, bổ sung.
- Giáo viên kết luận lại toàn bài. Cho học sinh đọc lại nhiều lần các câu thành
ngữ, tục ngữ vừa nêu và dặn các em về học thuộc các thành ngữ, tục ngữ đó.
Bài 3: Đọc truyện Con Rồng cháu Tiên (SGK Tiếng Việt 5 - Tập 1/trang 27, 28)
trả lời các câu hỏi :
a)Vì sao người Việt Nam ta gọi nhau là đồng bào ?
b)Tìm từ bắt đầu bằng tiếng đồng (có nghĩa là “cùng”)
đoàn kết, bạn bè, mênh mông) theo nội dung sau:
bình yên
đoàn kết
bạn bè
mênh mông
Từ
đồng
nghĩa
Từ
trái
nghĩa
Cùng yêu cầu của bài đã cho, học sinh chọn từ để đặt câu với từ đó. Giáo viên
cho học sinh làm việc cá nhân.
Giáo viên cho học sinh so sánh từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa.
Giáo viên chốt lại:
- Từ đồng nghĩa là những từ có nghĩa giống nhau hoặc gần giống nhau.
- Từ trái nghĩa là những từ có nghĩa trái ngược nhau.
Từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa đều có tác dụng riêng trong từng văn cảnh. Vì vậy,
giáo viên lưu ý học sinh khi dùng từ:
+ Với từ đồng nghĩa hoàn toàn, có thể thay thế cho nhau trong lời nói. Ví dụ:
hổ, cọp, hùm,… Còn với từ đồng nghĩa không hoàn toàn thì khi dùng những từ
này, ta phải cân nhắc để lựa chọn cho đúng.
Ví dụ : ăn, xơi, chén,… (biểu thị những thái độ, tình cảm khác nhau đối với
người đối thoại hoặc điều được nói đến). mang, khiêng, vác,… (biểu thị những
cách thức hành động khác nhau).
+ Với từ trái nghĩa việc đặt các từ trái nghĩa bên cạnh nhau có tác dụng làm nổi
trên và từ vạt ở ý 3 là từ nhiều nghĩa, cả 2 từ vạt đều là danh từ đồng nghĩa với từ
vạt ở ý 2 là động từ.
Tóm lại, thông qua các bài tập về từ (các hiện tượng đồng nghĩa, trái nghĩa,
đồng âm), học sinh được cung cấp kiến thức sơ giản về từ như xác định được
nghĩa, cấu tạo và cách sử dụng các từ đó.
Luyện tập các bài có dạng về đại từ, quan hệ từ:
Ở lớp 4, học sinh đã được học về danh từ, tính từ và động từ. Lên lớp 5, học
tiếp tục được học bổ sung tiếp về từ loại là đại từ và quan hệ từ.
Ví dụ 1: Các từ in đậm trong đoạn thơ sau được dùng để chỉ ai ? Những từ
ngữ đó được viết hoa nhằm biểu lộ điều gì ?
Mình về với Bác đường xuôi
Thưa giùm Việt Bắc không nguôi nhớ Người
Nhớ Ông Cụ mắt sáng ngời
Áo nâu túi vải, đẹp tươi lạ thường !
Nhớ Người những sáng tinh sương
Ung dung yên ngựa trên đường suối reo
Nhớ chân Người bước lên đèo
Người đi, rừng núi trông theo bóng Người.
(Tố Hữu)
Bài này, tôi cho học sinh trao đổi theo cặp và trả lời miệng : Các từ in đậm
trong đoạn thơ được dùng để chỉ Bác Hồ, đồng thời tôi sẽ hỏi thêm: các từ in đậm
đó thuộc từ loại gì ? ( là đại từ ). Đại từ được thay thế cho từ loại gì ? (thay thế
cho danh từ Bác Hồ ).Thông qua hai câu hỏi phụ đó, giúp học sinh khắc sâu thêm
10
về tác dụng của đại từ trong phần Ghi nhớ ; những từ đó được viết hoa nhằm biểu
lộ thái độ tôn kính Bác.
Ví dụ 2: Dùng đại từ ở những chỗ thích hợp để thay thế cho từ bị lặp lại
qua
Ở bài này, tôi sẽ hướng dẫn học sinh làm như sau:
- Cho học sinh đọc yêu cầu (đọc cả bảng và bài mẫu).
- Học sinh thảo luận nhanh theo cặp nhắc lại những kiến thức đã học về động từ,
tính từ, quan hệ từ.
- Giáo viên mời học sinh nối tiếp nhau trình bày nội dung vừa thảo luận theo
cặp. Sau đó, giáo viên chốt lại và dán tờ phiếu lên bảng về các định nghĩa và cho
học
sinh nhắc lại :
+ Động từ là những từ chỉ hoạt động, trạng thái của sự vật.
11
+ Tính từ là những từ miêu tả đặc điểm hoặc tính chất của sự vật, hoạt động,
trạng thái,…
+ Quan hệ từ là từ nối các từ ngữ hoặc các câu với nhau, nhằm thể hiện mối
quan hệ giữa các từ ngữ hoặc các câu ấy.
- Học sinh làm bài cá nhân vào vở bài tập.
- Giáo viên dán 3 tờ phiếu mời 3 em lên bảng thi làm bài. Cả lớp và giáo viên
nhận xét. tuyên dương em làm nhanh và đúng.
- Cho học sinh đọc kết quả đúng.
Tóm lại, thông qua thực hành làm các bài tập về từ loại ngoài việc giúp học
sinh được củng cố, khắc sâu về từ loại danh từ, động từ, tính từ được học ở lớp 4
thì các em được cung cấp thêm về từ loại khác là đại từ và quan hệ từ. Học sinh
nắm được tác dụng của đại từ và quan hệ từ để đưa vào sử dụng thành thạo trong
giao tiếp cũng như trong viết văn.
Củng cố, khắc sâu, mở rộng luyện các dạng bài tập về câu:
Với dạng bài này cũng được lựa chọn với thực tiễn sinh động hằng ngày để
học
sinh xác định đúng câu và biết sử dụng phù hợp với tình huống giao tiếp, đảm
Chức năng
Các từ đặc biệt
Câu hỏi
Dùng để hỏi về điều
chưa biết.
Câu kể
Dùng để kể, tả, giới
thiệu hoặc bày tỏ ý
kiến, tâm tư, tình
cảm.
Dùng để nêu yêu cầu,
đề nghị, mong muốn.
Câu khiến
Dùng để bộc lộ cảm
xúc.
ai, gì, nào, sao,
không, …
Dấu câu
Dấu chấm hỏi
Dấu chấm
hãy, chớ, đừng ;
mời, nhờ, yêu cầu,
13
Câu ghép dùng từ nối :
- Dùng quan hệ từ
- Dùng cặp từ hô ứng.
Cho 2 học sinh làm phiếu to dán bảng và trình bày bài. Cả lớp và GV nhận xét.
Tiếp tục cho HS khác trình bày, GV có thể hỏi thêm một số câu : Câu ghép em
vừa nêu gồm mấy vế câu ? Các vế câu được nối với nhau bằng gì ? …
Qua các bài tập về câu, học sinh nắm được cấu tạo của câu ghép, biết cách đặt
câu ghép và biết liên kết các câu và đoạn trong văn bản.
2. 4.Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm:
Trong quá trình nghiên cứu, thử nghiệm và tích cực tìm tòi phương pháp tổ
chức cho học sinh làm các dạng bài tập về phân môn Luyện từ và câu, với thời
gian hơn một học kì ôn tập và áp dụng phương pháp nghiên cứu tôi đã tiến hành
ra đề khảo sát và thu được kết quả sau:
Đề bài: Đọc bài thơ Chiều biên giới (sách Tiếng Việt 5, tập 1/trang 176) trả
lời các câu hỏi sau:
1) Tìm trong bài thơ một từ đồng nghĩa với từ biên cương.
2) Trong khổ thơ 1, các từ đầu và ngọn được dùng với nghĩa gốc hay nghĩa
chuyển ?
3) Có những đại từ xưng hô nào được dùng trong bài thơ ?
4) Viết một câu văn miêu tả hình ảnh mà câu thơ Lúa lượn bậc thang mây gợi
ra cho em.
Kết quả thu được : Tổng có 30 em.
Hoàn thành
Chưa hoàn thành
SL
Qua kết quả trên , tôi nhận thấy: dạy các dạng bài tập luyện từ và câu cho học
sinh lớp 5 nhằm giúp học sinh nắm được kiến thức trong phân môn Luyện từ và
câu đó là cung cấp : Học sinh hiểu được từ mới, phát triển kỹ năng, kỹ xảo sử
dụng từ ngữ, học sinh còn biết nhận diện xác định các dạng bài tập, phân tích kĩ,
chính xác yêu cầu của đề bài. Từ đó có hướng cho hoạt động học tập của mình.
Để dạt được các điều đó, người giáo viên cần chú ý:
- Trong quá trình giảng dạy, giáo viên không nên nóng vội mà phải bình tỉnh
trong thời gian không phải một hoặc hai ngày. Phải tìm hiểu nguyên nhân sai sót
của học sinh để từ đó khắc phục. Đặc biệt luôn xem xét phương pháp giảng dạy
của mình để điều chỉnh phương pháp sao cho phù hợp với việc nhận thức của học
sinh, gây được hứng thú học tập cho các em.
- Phải nghiên cứu để nhận rõ về vị trí, nhiệm vụ của phần kiến thức vừa dạy. Từ
đó tìm ra phương pháp tổ chức sao cho phù hợp với từng dạng bài tập.
- Lưu ý quá trình giảm tải để điều chỉnh sao cho phù hợp với đặc điểm học sinh
của lớp . Đề ra hướng giải quyết cho thống nhất với nội dung giảm tải.
- Phân biệt cho học sinh hướng giải quyết cho các dạng bài khác nhau. Các em
cần
nắm được các bước tiến hành một bài tập. Cần tổ chức cho các em theo các hình
thức phong phú để phát huy tốt hiệu quả giờ dạy.
- Giáo viên cần lưu ý học sinh cách trình bày sạch sẽ, khoa học, rèn chữ viết đẹp
đúng chính tả cho học sinh.
Trên đây là một vài kinh nghiệm nhỏ của tôi về “Một số biện pháp giúp học
sinh lớp 5 làm tốt các dạng bài tập luyện từ và câu”. Do kinh nghiệm của bản
thân còn ít nên chắc chắn đề tài không tránh khỏi hạn chế. Vì vậy, tôi rất mong
muốn nhận được sự đóng góp ý kiến của Hội đồng khoa học để giúp cho đề tài
nghiên cứu của tôi được hoàn thiện hơn nhằm nâng cao hiệu quả trong việc dạy
học.
3. 2. Kiến nghị:
Dạy các dạng bài tập luyện từ và câu là nguồn cung cấp vốn từ, lối diễn đạt bồi
16
17