TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
LƢU THỊ THỦY
TIẾP CẬN KIỂU TRUYỆN NGƢỜI CON RIÊNG
TRONG KHO TÀNG CỔ TÍCH VIỆT NAM
TỪ GÓC NHÌN THI PHÁP
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
HÀ NỘI, 2019
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
LƢU THỊ THỦY
TIẾP CẬN KIỂU TRUYỆN NGƢỜI CON RIÊNG
TRONG KHO TÀNG CỔ TÍCH VIỆT NAM
TỪ GÓC NHÌN THI PHÁP
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
TS. Nguyễn Thị Ngọc Lan
HÀ NỘI, 2019
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề ............................................................................................... 2
3. Mục đích nghiên cứu ..................................................................................... 5
4. Đối tƣợng phạm vi nghiên cứu ..................................................................... 6
5. Phƣơng pháp nghiên cứu............................................................................... 6
6. Đóng góp ....................................................................................................... 6
7. Cấu trúc khóa luận ........................................................................................ 6
NỘI DUNG ....................................................................................................... 7
CHƢƠNG 1: THI PHÁP NHÂN VẬT TRONG KIỂU TRUYỆN NGƢỜI
CON RIÊNG ..................................................................................................... 7
1.1. Hệ thống nhân vật ...................................................................................... 7
1.1.1. Nhân vật chính ........................................................................................ 8
1.1.2. Nhân vật đối thủ .................................................................................... 10
1.1.3. Nhân vật trợ thủ..................................................................................... 11
1.2. Đặc điểm nhân vật .................................................................................... 14
1.3. Phƣơng thức xây dựng nhân vật .............................................................. 17
Tiểu kết chƣơng 1............................................................................................ 19
CHƢƠNG 2: THI PHÁP LỰA CHỌN VÀ MIÊU TẢ XUNG ĐỘT TRONG
KIỂU TRUYỆN NGƢỜI CON RIÊNG ......................................................... 20
2.1. Xung đột mẹ kế - con chồng .................................................................... 21
2.1.1. Ngƣời con riêng bị hành hạ ngƣợc đãi .................................................. 22
2.1.2. Ngƣời con riêng bị bức hại ................................................................... 27
2.1.3. Ngƣời con riêng báo thù........................................................................ 30
2.2. Xung đột chị em gái ................................................................................. 37
2.3. Xung đột anh em trai ................................................................................ 41
Tiểu kết chƣơng 2............................................................................................ 42
CHƢƠNG 3: THI PHÁP THỜI GIAN, KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT
TRONG KIỂU TRUYỆN NGƢỜI CON RIÊNG .......................................... 44
3.1. Thời gian nghệ thuật ................................................................................ 44
3.1.1. Khái niệm .............................................................................................. 44
1.2. Truyện cổ tích - thể loại lớn đƣợc đƣa vào nhà trƣờng ở các cấp
học khác nhau, từ Tiểu học, Trung học cơ sở, Trung học phổ thông, Cao đẳng
và Đại học để giảng dạy. Việc đƣa vào chƣơng trình nhƣ vậy là bởi chức năng
của truyện cổ tích là chức năng giáo dục với giá trị đạo đức sâu sắc. Còn với
kiểu truyện ngƣời con riêng: hình tƣợng nhân vật ngƣời con hiền thảo tốt
bụng, ngƣời dì ghẻ tham lam độc ác sẽ đem lại cho trẻ nhỏ những xúc cảm
nghệ thuật một cách sâu sắc, rồi từ đó các em có những nhận thức thiết thực
về cái thiện, cái ác, cái xấu và ƣớc mơ về lẽ công bằng trong xã hội. Bằng lối
kết thúc có hậu với sự ban thƣởng hậu hĩnh cho nhân vật lƣơng thiện và sự
trừng trị thích đáng với nhân vật xấu xa phi nghĩa, truyện cổ tích đã làm yên
lòng trẻ thơ và niềm tin cho các em vào một cuộc sống bình đẳng tốt đẹp của
thế giới con ngƣời.
1
Tuy vậy, việc tiếp nhận của học sinh hiện nay, đôi khi chƣa đúng với
bản chất của truyện cổ tích nhƣ việc các em vẫn cho rằng Tấm ác, tác giả dân
gian trừng phạt mẹ con Cám quá dã man... Vì vậy, nhiệm vụ của các nhà sƣ
phạm cần quan tâm đặc biệt tới tâm lý tiếp nhận của học sinh trong quá trình
giảng dạy và giúp các em hƣớng đến những điều tốt đẹp trong cuộc sống.
1.3. Còn có lý do khác để chúng tôi lựa chọn đề tài này xuất phát từ
chính sự yêu thích của bản thân với truyện cổ tích. Chính vì vậy, “Tiếp cận
kiểu truyện người con riêng trong kho tàng cổ tích Việt Nam từ góc nhìn
thi pháp” mang một vẻ đẹp hấp dẫn không chỉ trẻ em mà còn đem đến cho
ngƣời lớn tuổi những rung cảm sâu lắng, đƣa tâm hồn mình đến một thế giới
khác hẳn, một thế giới trong đó “sự giản dị đẹp đẽ, sự dốt nát kì diệu của
người thời cổ... được bảo quản tươi nguyên như hoa với cả hương thơm” (Aphơ-răng-xơ) [10]. Truyện cổ tích đã khơi sâu trong con ngƣời những dòng
suối cảm xúc, những khát khao và hi vọng hạnh phúc với thực tại trần trụi,
ganh ghét. Truyện cổ tích nuôi dƣỡng tâm hồn, những giá trị tinh thần làm
Năm 1982, Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, Nguyễn Đổng Chi ở
phần: Đặc điểm truyện cổ tích Việt Nam cuối tập 5 cũng cho rằng: “Đối
tượng mà truyện cổ tích ra sức bênh vực là những nhân vật nghèo khổ, bất
hạnh, những kẻ bị áp bức, bóc lột, những người xấu số là đối tượng của xung
khắc gia đình: con côi, em út, con vợ trước, ngốc nghếch”. Rõ ràng, tác giả
cũng chỉ mới đề cập đến kiểu nhân vật “con vợ trƣớc” (ngƣời con riêng) mà
chƣa xem xét kiểu truyện ngƣời con riêng trong kho tàng văn học dân gian
Việt Nam một cách thấu đáo.
Giáo trình văn học dân gian Việt Nam của tác giả Trần Gia Linh, xuất
bản năm 1991, khi giới thuyết và phân loại truyện cổ tích cũng đã đề cập đến
nguồn gốc ra đời của truyện cổ tích cũng nhƣ kiểu truyện:“Truyện xuất hiện
rất xưa nhưng chủ yếu phát triển ở thời kỳ đã phân chia giai cấp. Chế độ tư
hữu tài sản và gia đình riêng đã tạo nên những xung đột gay gắt đe dọa số
phận con người. Những nhân vật bất hạnh trong xã hội như những người đi
ở, con riêng, em út, mồ côi... đã trở thành những nhân vật được quan tâm
biểu hiện đặc biệt”. Kiểu truyện ngƣời con riêng còn đƣợc thể hiện qua phần
nội dung của truyện, có ví dụ minh hoạ về nội dung và nhân vật song còn
riêng lẻ và chƣa cụ thể: “Nội dung của truyện hướng về những con người
bình thường, bất hạnh để nêu bật số phận bi thảm của những con người thấp
cổ bé họng. Đó là những con người mồ côi, bơ vơ, không nơi nương tựa bị
hất ra lề đường kiểu Thạch Sanh mình trần khố có một manh nơi gốc đa. Đó
là những người con riêng bị đày đọa, chết đi sống lại nhiều lần mà vẫn chưa
3
hết khổ kiểu cô Tấm. Đó là những người em bị tước đoạt mọi quyền lợi như
chàng trai truyện Cây khế ...”
Trong cuốn Văn học dân gian Việt Nam trong nhà trường của tác giả
Nguyễn Xuân Lạc, xuất bản năm 1998, tác giả đã có nhận xét sâu sắc về vai
trò, chức năng của truyện cổ tích, đồng thời cũng có những nhận định khái
những mâu thuẫn trong xã hội được truyện cổ tích phản ánh qua cuộc đấu
tranh giữa chủ nô và nô lệ, giữa địa chủ và nông dân thì những mâu thuẫn
trong gia đình được truyện cổ tích phản ánh qua cuộc đấu tranh giữa mẹ ghẻ
và con chồng, anh cả và em út, vợ cả và vợ lẽ”. Tuy nhiên, nguồn gốc ra đời
của truyện cổ tích thông qua các mâu thuẫn chƣa đƣợc cụ thể hoá mà mới chỉ
dừng ở mức độ khái quát.
Trong luận án Tiến sĩ Trƣờng Đại học Quốc gia Hà Nội, Đƣờng Tiểu
Thi đã đi “so sánh kiểu truyện “Cô lọ lem” của một số dân tộc miền Nam
Trung Quốc với kiểu truyện “Tấm Cám” của Việt Nam.” Ở luận văn này, ta
có cái nhìn sâu sắc hơn về motif, type truyện “Cô lọ lem” ở miền Nam Trung
Quốc và Việt Nam. Bƣớc đầu có sự so sánh đánh giá nhƣng lại chƣa đánh giá
hết kiểu truyện ngƣời con riêng của các dân tộc thiểu số của Việt Nam mà chỉ
dừng lại ở truyện “Tấm Cám”.
Tóm lại, vấn đề kiểu truyện ngƣời con riêng luôn đƣợc các nhà nghiên
cứu quan tâm nhƣng chƣa thực sự đƣợc coi là vấn đề lớn cần giải quyết một
cách cụ thể, chi tiết và triệt để. Mỗi tác giả nghiên cứu kiểu truyện ngƣời con
riêng lại ở mức nông sâu khác nhau. Nhƣng những thành quả này đã giúp cho
chúng tôi có nhiều ý tƣởng khi đi sâu nghiên cứu khóa luận một cách tốt hơn.
“Tiếp cận kiểu truyện người con riêng trong kho tàng cổ tích Việt Nam từ
góc nhìn thi pháp” với mục đích kế thừa, phát triển ý kiến của tác giả đi
trƣớc và cố gắng nghiên cứu một cách cụ thể hơn để tìm ra những nét độc đáo
và hấp dẫn của kiểu truyện ngƣời con riêng này.
3. Mục đích nghiên cứu
- Làm rõ vấn đề kiểu truyện ngƣời con riêng từ góc nhìn thi pháp học
qua việc khảo sát đặc điểm nhân vật, xung đột giữa các thành viên trong gia
đình phụ quyền thời cổ và yếu tố không gian, thời gian nghệ thuật của kiểu
truyện này.
- Thông qua việc nghiên cứu, khảo sát chúng ta sẽ thấy rõ hơn về nhân
vật, xung đột, thế giới nghệ thuật góp phần lý giải sức hấp dẫn riêng của kiểu
truyện ngƣời con riêng so với những kiểu truyện khác trong kho tàng truyện
đầy đủ hơn, củng cố tình cảm và niềm tin của học sinh.
7. Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Nội dung chính
của khóa luận gồm 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Thi pháp nhân vật trong kiểu truyện ngƣời con riêng
Chƣơng 2: Thi pháp lựa chọn và miêu tả xung đột trong kiểu truyện
ngƣời con riêng
Chƣơng 3: Thi pháp thời gian, không gian nghệ thuật trong kiểu truyện
ngƣời con riêng.
6
NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: THI PHÁP NHÂN VẬT TRONG KIỂU TRUYỆN
NGƢỜI CON RIÊNG
1.1. Hệ thống nhân vật
Theo Từ điển thuật ngữ văn học do nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần
Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) định nghĩa: “Nhân vật văn học là
con người cụ thể được miêu tả trong tác phẩm văn học. Nhân vật văn học có
thể có tên riêng (Tấm, Cám, chị Dậu, anh Pha) cũng có thể không có tên như
thằng bán tơ, một mụ nào đó trong Truyện Kiều. Trong truyện cổ tích, ngụ
ngôn, đồng thoại, thần được đưa ra để nói chuyện con người. Khái niệm nhân
vật văn học có khi được sử dụng như một ẩn dụ, không chỉ một con người cụ
thể nào cả, mà chỉ là một hiện tượng nổi bật nào đó trong tác phẩm... Nhân
vật văn học là một đơn vị nghệ thuật đầy tính ước lệ, không thể đồng nhất nó
với một con người có thật trong đời sống” [7-tr.193].
Trong cuốn Lí luận văn học của Phƣơng Lựu, Trần Đình Sử lại định
nghĩa nhƣ sau: “Nói đến nhân vật văn học là nói đến con người được miêu tả,
thể hiện trong tác phẩm bằng phương tiện văn học. Đó là những nhân vật có
trong mối quan hệ xã hội. Lần đầu tiên các nhân vật nhỏ bé tầm thường trở
thành nhân vật trung tâm của văn học dân gian, hơn nữa họ còn là đại diện
cho cái đẹp, cái thiện cái cao cả, thánh thiện theo quan điểm của người dân.
Nhân vật trong truyện cổ tích mang diện mạo của cá nhân là những người
bình thường nhỏ bé chưa có cá tính mà chỉ mang tính đại diện. Họ đại diện
cho một kiểu người, một lối sống phát ngôn cho một quan niệm đạo đức nhân
sinh nhất định. Vì vậy, họ không có tính cách và phát triển tính cách, họ phụ
thuộc vào bất cứ hoàn cảnh nào nhưng những con người ngoài đời sống hoặc
như những nhân vật văn học sau này.”[6-tr.103]. Nhân vật chính trong truyện
cổ tích thần kì là ngƣời con riêng - những con ngƣời khốn khổ, chịu đau khổ
mọi bề. Họ bị ghẻ lạnh, áp bức và ngƣợc đãi vật chất lẫn tinh thần, bị tƣớc
đoạt quyền sống, quyền mƣu cầu hạnh phúc. Ngƣời con riêng ngoan hiền,
chăm chỉ, tốt bụng, vị tha... song luôn bị thiệt thòi và bất hạnh. Sự bất hạnh đó
đƣợc thể hiện ngay trong cách đối xử cả ngƣời dì ghẻ với ngƣời con riêng.
Nếu nhƣ mụ dì ghẻ và con riêng của mụ dƣ thừa, no đủ về vật chất, đƣợc ăn
ngon mặc đẹp, đƣợc nhàn hạ không phải làm việc gì thì ngƣời con riêng lại
đối nghịch hoàn toàn, phải làm việc quần quật suốt ngày, cơm không đủ no áo
lành không đủ mặc, Vua mở hội cũng không đƣợc đi trẩy hội.
Ngƣời con riêng trong “Tấm Cám” (dân tộc Việt), “Con côi dì ghẻ”
(dân tộc Mƣờng), “Ò Ché và Hùm tinh” (dân tộc Nùng), “Tuagia - Tuanhi”
(dân tộc Tày) là minh chứng tiêu biểu. Họ bị đẩy vào cuộc sống éo le không
8
vật chất, không chốn nƣơng tựa, địa vị thấp hèn trong xã hội và bị ức hiếp đến
mức thảm hại. Họ đại diện cho những con ngƣời trong xã hội bị bạc đãi, thấp
cổ bé họng không kêu đến tận mây xanh về lẽ công bằng trong xã hội. Điển
hình trong truyện “Tấm Cám” (dân tộc Việt), cô Tấm - một cô gái xinh đẹp,
hiền dịu, nết na nhƣng lại mồ côi cả cha lẫn mẹ phải ở với dì ghẻ, từ đây cuộc
sống của nàng nhƣ địa ngục giữa trần gian. Cô Tấm bị mụ dì ghẻ hãm hại hết
thƣờng luôn bị bạc đãi, áp bức bóc lột sức lao động hơn nữa còn bị giết hại
nhƣng ở ngƣời con riêng vẫn ánh lên những phẩm chất tốt đẹp và đƣợc hƣởng
hạnh phúc bên những ngƣời mà họ yêu thƣơng. Những truyện cổ tích về
ngƣời con riêng đã đề cập đến vấn đề quan trọng và gây nhức nhối của gia
đình phụ quyền. Trong xã hội cũ, trong gia đình cũ, ngƣời con riêng là một
trong những kẻ đau khổ bất hạnh nhất. Nhân dân lao động đã lí tƣởng hóa
nhân vật của mình và ngầm truyền tải thông điệp, một sứ mệnh đặc biệt dành
cho những đứa trẻ mồ côi đó là lẽ công bằng, khát vọng, ƣớc mơ của con
ngƣời khi thời kì cộng đồng bộ tộc đã qua, mƣợn nhân vật ngƣời con riêng để
thể hiện quan niệm “ở hiền gặp lành, ác giả ác báo”.
1.1.2. Nhân vật đối thủ
Nếu nhƣ nhân vật chính là ngƣời lƣơng thiện, xinh đẹp và tài năng thì
nhân vật đối thủ là những kẻ chuyên đi gây hấn, gieo rắc những bất hạnh cho
ngƣời khác. Nói cách khác, đây là những con ngƣời ức hiếp bạc đãi ngƣời con
riêng trong truyện cổ tích thần kì: mụ dì ghẻ, cha dƣợng. Dân gian có câu:
“Bao giờ bánh đúc có xƣơng/ Mấy đời dì ghẻ lại thƣơng con chồng”. Ngƣợc
dòng lịch sử, chúng tôi đi nghiên cứu truyện cổ tích thần kì của Việt Nam
không có loại nhân vật đối thủ là phù thủy nhƣ truyện cổ tích của nhiều quốc
gia trên thế giới. Nhân vật đối thủ là ngƣời đặc biệt là ngƣời có tính cách độc
ác, ức hiếp ngƣời khác. Khi công xã nguyên thủy tan rã, xã hội có sự phân
chia giai cấp giàu nghèo sâu sắc, con ngƣời đối xử với nhau cũng hoàn toàn
khác. Họ tranh giành ganh ghét nhau nhằm thu lợi ích về mình. Và một gia
đình phụ quyền trong xã hội phân chia giai cấp nhƣ vậy cũng không nằm
ngoài quy luật đó. Bà cả mất, bà hai - mụ dì ghẻ tác oai tác quái hành hạ đánh
đập con riêng, hay cha đẻ mất cha dƣợng thay thế chăm sóc con riêng nhƣng
đây chỉ là hình thức trá hình bên ngoài mà thực chất bên trong là cả một thế
giới của sự ngƣợc đãi, ngƣời con riêng bị hành hạ bóc lột áp bức để phục vụ
cho nhu cầu của cha dƣợng, dì ghẻ. Dƣới quan điểm của dân gian, những
ngƣời mẹ ghẻ thƣờng đối xử bất công với con chồng còn bao điều tốt đẹp thì
dành hết cho con đẻ của mình. Dì ghẻ là ngƣời có quyền lực trong gia đình
chủ yếu là mụ dì ghẻ chiếm 96% , cha dƣợng, bố ghẻ chỉ chiếm 4% bởi xã hội
có sự phân chia giai cấp mà gia đình chủ yếu thời phong kiến bấy giờ là gia
đình phụ quyền nên mâu thuẫn sâu sắc nhất vẫn xoay quanh mối quan hệ giữa
dì ghẻ và con chồng, còn quan hệ giữa cha dƣợng và con riêng thì ít đƣợc đề
cập hơn trong truyện.
1.1.3. Nhân vật trợ thủ
So sánh với xung đột trong truyện cổ tích sinh hoạt và truyện cổ tích về
loài vật thì xung đột trong truyện cổ tích thần kì luôn đƣợc giải quyết nhờ sự
phù trợ, giúp đỡ của các lực lƣợng thần kì. “Giáo trình văn học dân gian Việt
11
Nam” của PGS. TS. Nguyễn Bích Hà có viết “lực lƣợng kì ảo” (thần kì) hay
còn gọi là yếu tố kì ảo (thần kì) là “kết quả của những hư cấu dưới ánh sáng
của trí tưởng tượng kì ảo và bay bổng của nhân dân. Trong truyện cổ tích, lực
lượng kì ảo bao gồm một số loại: nhân vật kì ảo, đồ vật hoặc vật thể kì ảo,
động thực vật kì ảo những biến hóa kì ảo”. Nhân vật trợ giúp thần kì và yếu
tố thần kì là loại nhân vật không thể thiếu trong truyện cổ tích thần kì. Sự xuất
hiện của nhân vật trợ thủ thỏa mãn nhu cầu tâm lý của con ngƣời thời xƣa.
Nhân vật trợ thủ xuất hiện chịu ảnh hƣởng tác động của tôn giáo, tín ngƣỡng
nơi mà các bản truyện kể tồn tại và truyền miệng từ đời này qua đời khác.
Trong truyện cổ tích “Tấm Cám” (dân tộc Việt) nhân vật trợ thủ quen thuộc là
ông Bụt hiền từ đức độ, mỗi khi Tấm khóc là Bụt lại hiện lên giúp đỡ. Do vậy
mà Tấm vƣợt qua khó khăn, thử thách mà mụ dì ghẻ dành riêng cho Tấm.
Truyện về ngƣời con riêng ở các dân tộc thiểu số, nhân vật trợ thủ thƣờng
xuất hiện với các dạng thức đặc biệt. Dạng một là ngƣời mẹ đã chết hiện về
và các hình thức hóa thân khác nhau của ngƣời mẹ (10/25 truyện: 40%), dạng
hai: nhân vật trợ thủ là loài vật cụ thể là trâu, hổ, con quạ, con cá chép... (4/25
truyện: 16%), dạng ba nhân vật trợ thủ là Bụt, bà Tiên, Trời, Sét chiếm số
lƣợng ít (2/25 truyện: 8%), còn lại 36% không xuất hiện nhân vật trợ thủ.
đi rồi lại quay trở về giúp đỡ đứa con mặc dù không đƣợc kể rõ về hình dạng
nhƣng ta có thể thấy rằng đó là những thuộc tính của loài cá. Rồi truyện
“Nàng Nảo và Sì Năng” (dân tộc H’mông) mẹ biến thành trâu để nàng Nảo có
gạo ăn và có quần áo đẹp đi chơi xuân. Truyện “Gầu Nà” (dân tộc H’mông)
con bò là sự hóa thân của ngƣời mẹ luôn theo sát bên con.
Sự lặp đi lặp lại hình ảnh con hổ với loài vật gần gũi khác là con trâu và
con bò hay con chó trong truyện “Nàng Biooc Rồm” (dân tộc Tày) phản ánh
dấu ấn cuộc sống nông nghiệp gắn liền với đồi núi, ruộng nƣơng. Bên cạnh
đó, tín ngƣỡng thờ cúng những con vật linh thiêng nhằm phù trợ ngƣời tốt,
trừng phạt kẻ ác.
Nhƣ vậy, chúng ta có thể kết luận rằng, nhân vật trợ thủ là thứ ngôn
ngữ không lời mang đậm dấu ấn văn hóa của mỗi dân tộc. Nhân vật trợ thủ là
một yếu tố không thể thiếu trong truyện cổ tích thần kì nhƣ một thứ gia vị
thêm phần hấp dẫn, li kì và đó cũng là một phao cứu trợ kịp thời cho ngƣời
con riêng khi bị mụ dì ghẻ đày đọa, áp bức. Truyện cổ tích có thể li kì hay
huyền ảo có thể thơ mộng và đầy hấp dẫn đối với ngƣời nghe, có thể phản ánh
sinh động khát vọng, ƣớc mơ của con ngƣời là nhờ vào nhân vật trợ thủ. Nhân
vật trợ thủ là cánh tay đắc lực cho nhân vật chính thể hiện lẽ công bằng trong
xã hội phong kiến lúc bấy giờ: cái thiện luôn chiến thắng cái ác, cái ác sẽ bị
trừng trị thích đáng.
13
1.2. Đặc điểm nhân vật
Theo một số nhà nghiên cứu, nhân vật ở truyện cổ tích thần kỳ hầu nhƣ
không hề có sự thay đổi, phát triển tính cách. Nhân vật xuất hiện trong truyện
cổ tích từ đầu với tính cách nhƣ thế nào thì nó sẽ giữ nguyên đến cuối truyện
với tích cách nhƣ thế. Nhân vật trong cổ tích thần kì đƣợc tác giả dân gian xây
dựng mang tính chất nguyên phiến, không thay đổi một cách đột ngột về tính
thú đến hành động của các nhân vật ra sao, kết quả nhƣ nào: ngƣời tốt, ngƣời
lƣơng thiện thì đƣợc đền đáp, còn kẻ xấu thì bị trừng trị. Nhân vật chính là
nhân vật chức năng, nhân vật thuyết minh trình bày đạo đức chứ không phải
là nhân vật cá nhân, nhân vật cá tính nhƣ trong truyện hiện đại ngày nay.
Chính vì đặc điểm này mà V.Ia Prôp đã kết luận rằng: “Cổ tích vấn đề quan
trọng không phải hành động do ai thực hiện mà nó được thực hiện như thế
nào?”. Ngƣời con riêng trong truyện “Sao Gia Sao Nhi” (dân tộc H’mông),
“Ò Ché và Hùm Tinh” (dân tộc Nùng), “Ngƣời dì ghẻ độc ác” (dân tộc Dao)
về chức năng và tính cách không khác gì nhau, họ đều hiền lành ngoan ngoãn
và không tham lam, không đố kị. Rồi “Tấm Cám” (dân tộc Việt) Tấm khổ đau
khi bị Cám cƣớp mất giổ tép, yếm đỏ... mỗi lần nhƣ thế chỉ thấy Tấm khóc.
Tác giả dân gian không hề miêu tả những tủi nhục, khổ đau trong tâm hồn
nàng. Vậy nét tính cách hay chức năng thuyết minh của loại nhân vật này là
không tham lam, không đố kị để đối lập với loại nhân vật mụ dì ghẻ tham lam
đố kị và xấu xa. Có thể thấy rằng, nhân vật thần kì là nhân vật chức năng,
Nguyễn Xuân Đức cho rằng nhân vật trƣớc hết hành động theo mạch cốt
truyện còn V.Ia Prôp trong “Folklore và hiện tại” lại nhận định rằng: “Trong
truyện cổ tích thần kì, nhân vật tự mình không có sức mạnh, nhưng khi nhân
vật không biết đường đi, anh ra bỗng gặp một bà già hay một mụ phù thủy (cổ
tích thần kì Việt Nam là tiên, bụt, hay các loài động vật) sẽ chỉ cho anh ta cần
đi đâu và giúp đỡ anh ta”. Hành động của nhân vật sẽ thể hiện nhân cách cái
mà đƣợc quy định sẵn từ cốt truyện: Tấm ngờ nghệch tin vào lời mụ dì ghẻ,
Sao Gia tin vào lời của bà vợ lẽ, Ò Ché cũng vậy. Sau hành động đó là hành vi
có chức năng mang bản sắc riêng của nhân vật: tốt vẫn tốt, xấu thì vẫn hoàn
xấu. Nhƣ vậy, nhân vật làm việc gì hành vi ra sao không phải là sự thôi thúc
của tính cách của chính bản thân mà bị chi phối bởi cốt truyện có chức năng,
bởi ý đồ của tác giả dân gian là xây dựng mẫu ngƣời nhất định với nét tính cách
chức năng nổi trội nhƣ Tấm hiền lành nết na, Nọng nghĩa tình, hiếu thảo, mụ dì
ghẻ ác độc, Cám mƣu mô, Ò Sáy tham lam muốn xinh hơn Ò Ché...
Nhân vật đối thủ cũng là nhân vật chức năng đại diện cho cái xấu cái ác
có tác dụng phân tuyến các nhân vật trung tâm”[4-tr.42]. Nhân vật trợ thủ
thƣờng đại diện cho lẽ công bằng, cái lƣơng thiện, cái tốt trong xã hội. Nhân
vật trợ thủ là nhân vật luôn giúp đỡ nhân vật chính, mỗi lần nhân vật chính
gặp khó khăn đều có sự ra tay giúp đỡ của nhân vật trợ thủ. Tấm khóc vì mất
giổ tép, không đƣợc đi dự hội là lại một lần Bụt hiện lên, Sao Gia khổ quá mẹ
biến thành bà cụ có vết sẹo về giúp đỡ con và xoa dịu nỗi đau thiếu thốn tình
mẹ, Ò Ché đƣợc Hùm Tinh giúp trông ngô, ngày nào cũng đƣợc ăn thịt và có
quần áo đẹp đi chơi hội... Nhân vật trợ thủ là nhân vật thực thi cái lẽ công
16
bằng không còn trên sách vở nữa mà đƣợc thực hiện bằng hành động. Họ là
những ngƣời tốt, yêu sự công bằng, ƣớc mơ của nhân vật chính.
1.3. Phƣơng thức xây dựng nhân vật
Nhân vật có đặc biệt thì câu chuyện mới hấp dẫn, kích thích trí tò mò
của ngƣời nghe. Để nhân vật độc đáo nhƣ vậy là sự góp mặt của các yếu tố
trong đó yếu tố quan trọng nhất là phƣơng thức xây dựng nhân vật. Nhân vật
thần kì cũng nhƣ những nhân vật trong truyện hiện đại ngày nay đều đƣợc xây
dựng với những phƣơng thức nghệ thuật khác nhau. Ở truyện cổ tích thần kì,
nhân vật chủ yếu đƣợc khắc họa dựa trên những phƣơng diện: xung đột, hành
động, chi tiết nghệ thuật.
Có thể thấy, trong kiểu truyện ngƣời con riêng, xung đột nổi cộm nhất
là xung đột gia đình, đó là xung đột giữa dì ghẻ - con chồng, cha dƣợng - con
riêng. Đây đƣợc coi là một phƣơng thức xây dựng nhân vật quen thuộc của
tác giả dân gian khi hình thành 2 tuyến nhân vật thiện - ác. Qua đó tác giả dân
gian ngầm đƣa ra quan niệm về cải tạo thực tế cuộc sống của con ngƣời sống
công bằng, không tham lam, đố kị.
Bên cạnh đó, nhân vật cổ tích thần kì chủ yếu đƣợc xây dựng dựa trên
hành động nhƣng chƣa có ý thức nội tâm hoặc nội tâm chƣa phát triển, không
màn
bị đốt
bị giết
quả trứng
chim yểng
bị giết
cây trúc
bị chặt
sào
Sao Gia.
-Truyện “Mùi Mụi Mùi Nái”:
Mùi Mụi trèo cây
trứng
bị giết
con chim
bị thịt
ngƣời con riêng chúng tôi nhận thấy rằng: sự biến hóa của nhân vật chính đa
dạng, phong phú song cuối cùng họ vẫn trở về với hình dạng cũ là cô gái
xinh đẹp, hiền lành, tốt bụng và có thêm phần rắn rỏi, mạnh mẽ và vững bền
hơn. Chi tiết kì ảo đóng góp không nhỏ vào sự biến hóa của nhân vật. Sự
biến hóa theo vòng tuần hoàn nhƣ vậy chúng ta có thể lí giải dựa trên triết lí
của nhà Phật con ngƣời hồi sinh hết kiếp này đến kiếp khác. Chi tiết kì ảo
dƣới góc nhìn thi pháp học là ƣớc mơ,khát vọng, ủng hộ cái tốt, đồng cảm
với con ngƣời có số phận bất hạnh trong gia đình phụ quyền thời cổ. Chi tiết
kì ảo làm tăng thêm vẻ đẹp sức mạnh của nhân vật thiện, nhân vật thiện đẹp
khi vƣợt qua cái ác, cái xấu xa. Chi tiết kì ảo rất quan trọng trong truyện cổ
tích về ngƣời con riêng.
18
Tiểu kết chƣơng 1
Nhƣ vậy, khi đi tìm hiểu về nhân vật trong truyện cổ tích và ngƣời con
riêng chúng tôi nhận thấy rằng: truyện cổ tích về ngƣời riêng đƣợc tác giả xây
dựng với hai truyến nhân vật đối lập: nhân vật chính và nhân vật đối thủ.
Ngoài ra, còn có thêm tuyến nhân vật trung gian, hỗ trợ cho nhân vật chính là
nhân vật trợ thủ. Với phƣơng thức xây dựng chủ yếu dựa trên phƣơng diện:
xung đột, hành động, và chi tiết nghệ thuật làm cho nhân vật hiện lên một
cách chân thực, rõ nét và không bị pha lẫn. Nhân vật chính - ngƣời con riêng
luôn phải chịu cảnh đàn áp, hành hạ của dì ghẻ những vẫn ánh ngời lên vẻ đẹp
dịu dàng, nết na hay lam hay làm... dù chịu số phận bất hạnh của đứa trẻ mồ
côi, dù dì ghẻ không yêu thƣơng, trân trọng nhƣng đến cuối truyện ngƣời con
riêng vẫn đƣợc hƣởng hạnh phúc bên ngƣời mà họ yêu thƣơng còn mụ dì ghẻ
đại diện cho ác gian ác, xấu xa thì phải trả giá bị trừng phạt thích đáng bị chết,
bị giết hay tự vẫn... Nhân vật phù trợ là ngƣời chuyên trở ƣớc mơ của nhân
dân về ƣớc mơ, lẽ công bằng trong xã hội còn nhiều bất công. Họ là cánh tay