Phát triển nguồn nhân lực cho ngành du lịch ở thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn hiện nay - Pdf 56

1


Mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài
Những thành tựu nổi bật trong sự phát triển kinh tế từ giữa những năm 80 của thế kỉ XX là kết quả thay
đổi chiến lược của nhiều quốc gia trên thế giới. Trong nền kinh tế trí thức ngày nay, việc đầu tư cho
phát triển nguồn lực là quan trọng hơn các lĩnh vực đầu tư khác, kinh nghiệm phát triển của khu vực
Châu Á trong vài thập kỷ vừa qua đã cho thấy, sự cất cánh phát triển của họ là ở chiến lược con người.
Nguồn lực con người là lâu bền nhất, chủ yếu nhất trong sự phát triển kinh tế - xã hội và sự nghiệp tiến
bộ của nhân loại. Có thể nói, chìa khóa thành công nằm ngay trong chân lý đơn giản: chiến lược trồng
người. Ngày nay, sự cạnh tranh giữa các quốc gia, các doanh nghiệp, công ty, các sản phẩm chủ yếu là
cạnh tranh về tỷ lệ hàm lượng chất xám kết tinh trong sản phẩm hàng hóa, dịch vụ nhờ nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực.
Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa rút ngắn, chúng ta còn thiếu nhiều điều kiện
cho phát triển như: vốn, công nghệ, kiến thức và kinh nghiệm quản lý đòi hỏi phải biết phát huy được
lợi thế của những nguồn lực hiện có, cần phải có chiến lược và giải pháp để nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực của mình.
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã nêu ra một giải pháp cơ bản cho quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa; lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển
nhanh và bền vững. Tiếp đó, Hội nghị Trung ương lần thứ hai ( khóa VIII ) của Đảng ta còn khẳng định
rõ thêm chủ trương coi con người là nguồn lực quan trọng nhất đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
nước ta; “ Để thực hiện mục tiêu chiến lược Đại hội VIII đã đề ra, cần khai thác và sử dụng nhiều
nguồn lực khác nhau, trong đó nguồn lực con người là quý báu nhất, có vai trò quyết định, đặc biệt đối
với nước ta, khi nguồn lực tài chính và nguồn lực vật chất còn hạn hẹp”.
Trong điều kiện hội nhập kinh tế ngày nay, khi mà các ngành nghề dịch vụ đang ngày càng phát triển.
Do đó mà hiện nay nhiều nước trên thế giới đã tập trung vào phát triển du lịch, coi đây là một ngành
kinh tế quan trọng để đưa nền kinh tế phát triển. Tại báo cáo chính trị Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
IX Đảng ta đã xác định “ Phát triển du lịch thực sự trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn... “
Du lịch là ngành kinh tế khá đặc biệt, hoạt động vừa mang tính sản xuất kinh doanh vừa mang tính

nghiệp của mình.

2 Mục đích nghiên cứu
Tìm ra những giải pháp để thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực cho ngành du lịch ở thành phố Đà Nẵng
trong thời gian tới trên cơ sở phân tích thực trạng nguồn nhân lực trong ngành du lịch ở đây. Cụ thể:

- Nghiên cứu cơ sở lí luận về phát triển nguồn nhân lực, nguồn nhân lực ngành du lịch tạo cơ sở khoa
-

học cho việc phân tích thực trạng phát tiển nguồn nhân lực trong ngành du lịch ở thành phố Đà Nẵng.
Khảo sát thực tragj phát triển nguồn nhân lực trong ngành du lịch ở Đà Nẵng.
Đề xuất giải pháp phát triển nguồn nhân lực trong ngành du lịch nhằm đáp ứng phát triển du lịch nói
riêng và phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Đà Nẵng nói chung.


3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung vào nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp kinh doanh du lịch ở
Đà Nẵng, trong đó đề tài đi sâu nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực trong các đơn vị lưu trú, coi đó là
nhân tố quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội ở Đà Nẵng.
3.2

Phạm vi nghiên cứu

3.2.1 Phạm vi không gian
Đề tài nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực trong ngành du lịch trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.

3.2.2 Phạm vi thời gian
Đề tài nghiên cứu thực trạng phát triển nguồn nhân lực du lịch ở Đà Nẵng trong giai đoạn từ 2010 –
2015

Làm rõ các vấn đề lí luận và thực tiễn về nguồn nhân lực trong ngành du lịch.
Làm tài liệu tham khảo cho nững ai quan tâm đến vấn đề nguông nhân lực trong ngành du lịch.


- Làm cơ sở để đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong ngành du lịch cho
Đà Nẵng.

6 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài có kết cấu gồm
ba chương:
Chương 1: Cở sở lí luận và thực tiễn của phát triển nguồn nhân lực trong ngành du lịch.
Chương 2: Thực trạng phát triển nguồn nhân lực trong ngành du lịch ở thành phố Đà Nẵng trong giai
đoạn hiện nay.
Chương 3: Những giải pháp phát triển nguồn nhân lực trong ngành du lịch ở thành phố Đà Nẵng.


Nội dung

1 Chương 1: CỞ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
TRONG NGÀNH DU LỊCH
6.1 Nguồn nhân lực, chất lương nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực

6.1.1 Nguồn nhân lực
Một quốc gia muốn phát triển thì cần phải có các nguồn lực của sự phát triển kinh tế như: tài
nguyên thiên nhiên, vốn, khoa học - công nghệ, con người … Trong các nguồn lực đó thì nguồn
lực con người là quan trọng nhất, có tính chất quyết định trong sự tăng trưởng và phát triển kinh
tế của mọi quốc gia từ trước đến nay. Một nước cho dù có tài nguyên thiên nhiên phong phú,
máy móc kỹ thuật hiện đại nhưng không có những con người có trình độ, có đủ khả năng khai
thác các nguồn lực đó thì khó có khả năng có thể đạt được sự phát triển như mong muốn.
Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và ngày nay trong công cuộc hội nhập và

một số được tính là nguồn nhân lực nhưng lại không phải là nguồn lao động, đó là: Những
người không có việc làm nhưng không tích cực tìm kiếm việc làm, tức là những người không có
nhu cầu tìm việc làm, những người trong độ tuổi lao động quy định nhưng đang đi học...
Từ những quan niệm trên, tiếp cận dưới góc độ của Kinh tế Chính trị có thể hiểu: nguồn nhân
lực là tổng hoà thể lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lượng lao động xã hội của một quốc
gia, trong đó kết tinh truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo của một dân tộc trong lịch
sử được vận dụng để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại và
tương lai của đất nước.
Nguồn nhân lực chất lượng cao là khái niệm để chỉ một con người, một người lao động cụ thể
có trình độ lành nghề ( về chuyên môn, kỹ thuật) ứng với một ngành nghề cụ thể theo tiêu thức
phân loại lao động về chuyên môn, kỹ thuật nhất định (Đại học, trên đại học, cao đẳng, lao
động kỹ thuật lành nghề. Giữa chất lượng nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao có
mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng. Nói đến chất
lượng nguồn nhân lực là muốn nói đến tổng thể nguồn nhân lực của một quốc gia, trong đó
nguồn nhân lực chất lượng cao là bộ phận cấu thành đặc biệt quan trọng, là nhóm tinh tuý nhất,
có chất lượng nhất. Bởi vậy, khi bàn về nguồn nhân lực chất lượng cao không thể không đặt nó
trong tổng thể vấn đề chất lượng nguồn nhân lực nói chung của một đất nước. Nguồn nhân lực
chất lượng cao là nguồn nhân lực phải đáp ứng được yêu cầu của thị trường ( yêu cầu của các
doanh nghiệp trong và ngoài nước), đó là: có kiến thức: chuyên môn, kinh tế, tin học; có kỹ
năng: kỹ thuật, tìm và tự tạo việc làm, làm việc an toàn, làm việc hợp tác; có thái độ, tác phong
làm việc tốt, trách nhiệm với công việc.
Như vậy, nguồn nhân lực chất lượng cao phải là những con người phát triển cả về trí lực và thể
lực, cả về khả năng lao động, về tính tích cực chính trị- xã hội, về đạo đức, tình cảm trong sáng.
Nguồn nhân lực chất lượng cao có thể không cần đông về số lượng, nhưng phải đi vào thực
chất.


Trong thế giới hiện đại, khi chuyển dần sang nền kinh tế chủ yếu dựa trên tri thức và trong xu
thế toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế, nguồn nhân lực đặc biệt là nguồn nhân lực ngày càng
thể hiện vai trò quyết định của nó. Các lý thuyết tăng trưởng gần đây chỉ ra rằng, một nền kinh

trung bình, cơ cấu giới tính ...


- Chỉ tiêu biểu hiện trình độ văn hoá của nguồn nhân lực: Trình độ văn hóa là sự hiểu biết của
người lao động đối với những kiến thức phổ thông không chỉ về lĩnh vực tự nhiên mà còn
bao gồm cả lĩnh vực xã hội. Ở một mức độ cho phép nhất định nào đó thì trình độ văn hoá
của dân cư thể hiện mặt bằng dân trí của một quốc gia.
Trình độ văn hoá của nguồn nhân lực được thể hiện thông qua các quan hệ tỷ lệ:
 Số lượng và tỷ lệ biết chữ
 Số lượng và tỷ người qua các cấp học tiểu học, trung học cơ sở, phổ thông trung
học, cao đẳng, đại hoc, trên đại học, ...
Đây là một trong những chỉ tiêu hết sức quan trọng phản ánh chất lượng nguồn nhân lực
cũng như trình độ phát triển của kinh tế xã hội
- Chỉ tiêu biểu hiện trình độ chuyên môn kỹ thuật của nguồn nhân lực: Trình độ chuyên môn
kỹ thuật thể hiện sự hiểu biết, khả năng thực hành về một chuyên môn, nghề nghiệp nào đó.
Đó cũng là trình độ được đào tạo ở các trường chuyên nghiệp, chính quy. Các chỉ tiêu phản
ánh trình độ chuyên môn kỹ thuật như:
 Số lượng lao động được đào tạo và chưa qua đào tạo
 Cơ cấu lao động được đào tạo:
o Cấp đào tạo
o Công nhân kỹ thuật và cán bộ chuyên môn
o Trình độ đào tạo( cơ cấu bậc thợ..)
- Chỉ số phát triển con người (HDI): Chỉ số này được tính bằng ba chỉ tiêu chủ yếu là tuổi thọ
bình quân, thu nhập bình quân đầu người và trình độ học vấn. Như vậy, chỉ số HDI không
chỉ đánh giá sự phát triển của con người về mặt kinh tế, còn nhấn mạnh đến chất lượng cuộc
sống và sự công bằng, tiến bộ xã hội.
Ngoài ra còn có thể xem xét chất lượng nguồn nhân lực thông qua chỉ tiêu biểu hiện năng lực
phẩm chất của người lao động.
Một cách tiếp cận khác về chất lượng nguồn nhân lực. Chất lượng nguồn nhân lực được đánh
giá qua các tiêu thức:

cách khái quát nhất, phát triển nguồn nhân lực chính là quá trình tạo lập và sử dụng năng lực
toàn diện con người vì sự tiến bộ kinh tế- xã hội và sự hoàn thiện bản thân mỗi con người.
Như vậy, phát triển nguồn nhân lực với nội hàm trên đây thực chất là đề cập đến vấn đề chất
lượng nguồn nhân lực và khía cạnh xã hội của nguồn nhân lực của một quốc gia.Nguồn nhân
lực của đất nước nói chung, của cơ quan và ngay cả mỗi gia đình đều cần được phát triển. Phát
triển nguồn nhân lực là các hoạt động đầu tư nhằm tạo ra nguồn nhân lực với số lượng và chất
lượng đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đồng thời đảm bảo sự phát triển
của mỗi cá nhân.
UNESCO sử dụng khái niệm phát triển nguồn nhân lực theo nghĩa hẹp và cho rằng phát triển
nguồn nhân lực là làm cho toàn bộ sự lành nghề của dân cư luôn phù hợp yêu cầu phát triển của
đất nước. Theo Tổ chức Lao động Thế giới ( ILO), phát triển nguồn nhân lực bao hàm phạm vi


rộng hơn, không chỉ là sự chiếm lĩnh trình độ lành nghề hoặc vấn đề đạo tạo nói chung, mà còn
là sự phát triển năng lực và sử dụng năng lực đó vào làm việc có hiệu quả, cũng như thõa mãn
nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân. Liên hiệp quốc thì nghiêng về sử dụng khái niệm phát triển
nguồn nhân lực theo nghĩa rộng, bao gồm giáo dục, đào tạo và sử dụng nguồn tiềm năng con
người nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống. (phát triển và
quản lý nguồn nhân lực xã hội.-NXB Tư pháp, 2006)

Phát triển nguồn nhân lực bao gồm các nội dung:
- Phát triển về số lượng: Nội dung cơ bản đầu tiên của phát triển nguồn nhân lực đó là
phát triển về số lượng, hay nói cách khác là thúc đẩy sự gia tăng về số lượng con
người trong nguồn nhân lực.
Sự phát triển nguồn nhân lực về số lượng hợp lý là tạo ra số lượng lao động theo nhu
cầu của phát triển của các ngành kinh tế ở mỗi giai đoạn phát triển, ngược lại sự phát
triển quá nhiều hoặc quá ít, tạo ra sự thiếu hụt hay dư thừa so với nhu cầu của nền
kinh tế quốc dân đều là sự phát triển bất hợp lý về số lượng và gây nên những khó
khăn, trở ngại trong sử dụng nguồn nhân lực.
Phát triển về chất lượng: Phát triển nguồn nhân lực về chất lượng là làm tăng lên về

mọi năng lực, sở trường và ý chí cá nhân trong công việc nhằm đưa tới kết quả
làm việc cao nhất, đem lại lợi ích lớn nhất cho xã hội và bản thân người lao
động.
6.3 Nguồn nhân lực trong ngành du lịch

6.3.1 Các khái niệm cơ bản về du lịch:
Du lịch là một ngành kinh tế có tốc độ phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ trên phạm vi toàn
cầu. Từ chổ ban đầu là hoạt động mang tính tâm linh của giới qúy tộc, tầng lớp thượng lưu, đến
nay du lịch đã trở thành một hiện tượng phổ biến không thể thiếu trong đời sống của mọi người
dân. Du lịch phát triển góp phần làm tăng nguồn thu ngoại tệ cho các quốc gia và giải quyết
nhiều công ăn việc làm cho xã hội; thúc đẩy sự phát triển của các ngành có liên quan như xây
dựng, thương mại, sản xuất hàng tiêu dùng, bảo hiểm, giao thông vận tải, bưu chính – viễn
thông... Theo thống kê của Tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO) năm 2008, lượng khách du lịch
quốc tế trên toàn cầu đạt 922 triệu, du lịch toàn cầu đã đem lại nguồn thu tới 944 tỉ USD, tạo
việc làm cho trên 300 triệu người. Du lịch đã trở thành ngành kinh tế bậc nhất thế giới, xuất
khẩu du lịch chiếm khoảng 30% xuất khẩu dịch vụ thương mại thế giới và 6% tổng xuất khẩu
hàng hóa và dịch vụ.
Vì hiệu quả to lớn đó, nhiều nước trên thế giới đã chọn Du lịch là ngành ưu tiên phát triển số
một trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mình. Hội nghị Bộ trưởng Du lịch thế giới
năm 1994 tại Osaka (Nhật Bản) đã khẳng định : “Du lịch là nguồn lớn nhất tạo ra GDP và việc
làm của thế giới, chiếm tới 1/10 mỗi loại, đồng thời đầu tư cho Du lịch và các khoản thu từ thuế
liên quan đến Du lịch tương ứng cũng tăng cao. Những sự gia tăng này cùng với các tiêu chí
khác của Du lịch dự đoán sẽ tiếp tục tăng trưởng một cách vững chắc và như vậy Du lịch sẽ là
đầu tàu kéo nền kinh tế thế giới trong thế kỷ 21”.
Mặc dù hoạt động du lịch có nguồn gốc hình thành từ lâu và phát triển với tốc độ rất nhanh ,
nhưng khái niệm “du lịch” lại được hiểu rất khác nhau, như Giáo sư, Tiến sỹ Berneker nhận
định “Đối với du lịch, có bao nhiêu tác giả thì có bấy nhiêu định nghĩa”. Lý do chính của hiện


tượng này là đến mãi thế kỷ thứ 19, du lịch mới trở thành một hiện tượng đại chúng nên khoa

vào cách tiếp cận của mỗi tác giả. Từ khi có Luật Du lịch, khái niệm du lịch ở nước ta được sử
dụng tương đối thống nhất theo cách giải thích thuật ngữ của Luật. Luật Du lịch giải thích khái


niệm du lịch như sau: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài
nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí , nghỉ
dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”. Đây là một định nghĩa xúc tích, mang tính khái
quát, bao hàm được cả hai khía cạnh cơ bản của du lịch là chuyến đi ngoài nơi cư trú với mục
đích tham quan nghỉ dưỡng và các hoạt động liên quan đến chuyến đi đó.
Luật Du lịch cũng giải thích một số thuật ngữ liên quan khác của Du lịch như sau:
- Hoạt động du lịch: Là hoạt động của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch,
cộng đồng dân cư và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến du lịch.
- Tài nguyên du lịch: Là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hóa, công
trình lao động sáng tạo của con người với các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng
nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch,
điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch.
- Tham quan: Là hoạt động của khách du lịch trong ngày tới tham quan nơi có tài nguyên du
lịch với mục đích tìm hiểu, thưởng thức những giá trị của tài nguyên du lịch.
- Sản phẩm du lịch: Là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch
trong chuyến đi.
- Dịch vụ du lịch: Là việc cung cấp các dịch vụ về lữ hành, vận chuyển, lưu trú , ăn uống, vui
chơi giải trí, thông tin hướng dẫn và những dịch vụ khác nhằm đáp ứng nhu cầu của khách
du lịch.
6.3.2 Khái niệm và đặc điểm của nguồn nhân lực trong ngành du lịch
Nhân lực du lịch – sản phẩm văn hóa, sản phẩm du lịch đặc biệt Trong xã hội hiện đại, nhân lực
là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của đất nước, bởi nhân lực chính là nguồn lực chủ
đạo của xã hội. Nhân lực là nguồn lực lao động hoạt động trong một lĩnh vực nào đó của đời
sống xã hội trên một địa bàn nhất định, trong những khoảng thời gian nhất định. Do có vai trò,
vị trí quan trọng như vậy nên nhân lực luôn là mối quan tâm hàng đầu của bất kỳ một cá nhân,
tổ chức nào trong đó có các doanh nghiệp du lịch. Là ngành kinh tế dịch vụ mang tính tổng hợp

Trung ương.
- Những người trực tiếp đào tạo, cung cấp nguồn nhân lực cho ngành du lịch. Đây là một bộ
phận đông đảo trong các trường đại học, cao đẳng, trung học nghề của ngành Du lịch, các
khoa Du lịch trong hệ thống các trường Đại học và cao đẳng, trung học chuyên nghiệp trên
toàn quốc. Với nhiều qui mô và cấp độ đào tạo khác nhau, các cơ sở đào tạo đang là cơ sở
đầu tiên đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực đa dạng, chất lượng cao cho kinh tế du lịch của
đất nước.
- Những người làm việc trực tiếp trong ngành du lịch: bao gồm toàn bộ cán bộ công nhân viên
ở tất cả các bộ phận khác nhau nằm trong các công ty du lịch, các hãng lữ hành, các doanh
nghiệp kinh doanh du lịch trên toàn quốc. Những người trực tiếp kinh doanh du lịch ở các vị
trí khác nhau của ngành kinh tế trọng điểm này của đất nước. Toàn bộ những người làm việc
ở các vị trí khác nhau trong 5 lĩnh vực kinh doanh du lịch là những người lao động trực tiếp,
bao gồm: Những người làm việc trong các doanh nghiệp Kinh doanh lữ hành. Những người
làm việc trong các doanh nghiệp Kinh doanh lưu trú. Những người làm việc trong các doanh


nghiệp Kinh doanh vận chuyển khách du lịch. Những người làm việc trong các doanh nghiệp
Kinh doanh các dịch vụ bổ trợ. Những người làm việc trong các doanh nghiệp Kinh doanh
khu du lịch, đô thị du lịch.
Trong mỗi một lĩnh vực, lại có rất nhiều các vị trí khác nhau với các nhiệm vụ và chức năng
khác nhau. Tất cả những cá nhân đó được tổ chức, sắp xếp, biên chế thành những bộ phận với
cơ cấu khác nhau… Đó là những người trực tiếp làm việc trong ngành du lịch. Trong nguồn
nhân lực hoạt động trực tiếp lại hình thành đội ngũ lao động chuyên nghiệp và đội ngũ lao động
thời vụ. Đội ngũ lao động thời vụ trong ngành du lịch thường xuất hiện ở những nơi có hoạt
động du lịch diễn ra không thường xuyên. Ví dụ như ở các bãi biển phía Bắc nước ta, do điều
kiện thời tiết chi phối nên hầu như các hoạt động du lịch biển thường chỉ diễn ra trong các tháng
mùa hè. Vào thời điểm này, tại các khu du lịch biển như Đồ Sơn, Sầm Sơn, Cửa Lò… du khách
đổ về rất đông, chủ yếu là khách nội địa. Các nhà nghỉ, khách sạn hoạt động hết công xuất và
phải thuê nhân công thời vụ để tham gia vào những công việc phục vụ khách tại các khách sạn,
nhà hàng… Ngoài những người hoạt động trực tiếp, nguồn nhân lực hoạt động gián tiếp trong

o Đặc thù công việc: Du lịch là hoạt động mang tính động rất cao, luôn biến đổi và phát
triển không ngừng. Nội dung công việc liên quan đến nhiều đối tượng, thành phần khác
nhau. Kết quả công việc luôn chịu sự tác động của hiệu quả tài chính, tiền bạc trong kinh
doanh nên thường xuất hiện tính thực tế, thực dụng cao. Điều đó cũng chi phối phần nào
các mối quan hệ trong ngành giữa các cá nhân và tổ chức với nhau.
o Tính liên ngành, liên vùng cao đòi hỏi sự phối kết hợp cao, sâu và rộng mang tính đồng
bộ… giữa nhiều cơ quan, ban ngành, các cá nhân và tổ chức; giữa các địa phương vùng
miền; giữa các quốc gia trong khu vực và quốc tế.
o Tính tổng hợp, kế thừa cao những kết quả thành tựu, kinh nghiệm của những người đi
trước, của những hoạt động kinh doanh đã và đang hoàn thành. Trong kinh doanh du lịch,
đôi khi xuất hiện tình trạng “hớt váng” khi thời cơ và điều kiện cho phép.
o Tính luân chuyển nhanh chóng, kịp thời: sự luân chuyển vị trí, nhiệm vụ; luân chuyển địa
bàn, hình thức hoạt động. Ví dụ, các sinh viên, những người làm trong các ngành văn hóa
– ngoại ngữ, sư phạm đang nhiều người có xu hướng chuyển sang hoạt động trong lĩnh
vực du lịch. Những người đã kinh qua thời gian làm Hướng dẫn viên có thể chuyển vào
vị trí người điều hành du lịch... Điều đó dẫn đến yêu cầu chuyển đổi, cập nhật bổ sung,
hoàn thiện và nâng cao kiến thức phải được tiến hành thường xuyên, liên tục.
o Tính linh hoạt, thích ứng cao đòi hỏi sự tích cực, chủ động, nhạy bén, sáng tạo… của
người làm du lịch nhưng phải luôn tuân thủ luật pháp trên tinh thần “thượng tôn pháp
luật” đồng thời lại phải phù hợp với những thông lệ trong nước và quốc tế, lề luật của các
địa phương, vùng miền.
o Tính chuyên biệt, chuyên nghiệp trong một số lĩnh vực cao đòi hỏi tính chính xác, cụ thể,
khách quan, khoa học. Ví dụ, các nhân viên điều hành du lịch phải đảm bảo tính chính
xác nhưng linh hoạt, thích ứng cao và luôn bám sát thực tế. Các Hướng dẫn viên phải
luôn bình tĩnh, sáng suốt, quyết đoán nhưng phải thể hiện sự vui vẻ, hòa nhã… Hoạt động
du lịch luôn đòi hỏi và đặt ra yêu cầu ngày càng cao cả về số và chất lượng nguồn nhân
lực du lịch, đáp ứng các vị trí khác nhau (trực tiếp hay gián tiếp) trong ngành du lịch.
Những yêu cầu luôn cụ thể, sát thực cả về nội dung và hình thức. Ví dụ cụ thể, với
Hướng dẫn viên du lịch, cần có “hai nội và ba ngoại”. “Hai nội”, gồm: nội dung (nắm
chắc kiến thức chuyên môn); nội tình (nắm chắc diễn biến tình hình công việc cụ thể).

thương binh và xã hội đã tổ chức Hội thảo quốc gia Đào tạo Nhân lực ngành du lịch theo
nhu cầu xã hội. Hội thảo một lần nữa nhấn mạnh đến việc đổi mới và nâng cao chất lượng
đào tạo nguồn nhân lực du lịch, đặc biệt gắn quá trình đào tạo với thực tiễn hoạt động của
ngành, tạo ra sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ sở đào tạo với các doanh nghiệp. Đặc điểm
của đào tạo du lịch là đào tạo nghề nên rất cần các cơ sở thực hành, thực tế. Các trang thiết
bị kỹ thuật phục vụ đào tạo thường rất đắt tiền và nhanh chóng thay đổi khiến cho các cơ sở
đào tạo thường khó theo kịp sự phát triển của ngành. Dẫn đến tình trạng đào tạo du lịch hiện


nay đang phổ biến tình trạng “tay không bắt giặc”. Việc phối kết hợp giữa các nhà trường
với các doanh nghiệp về lý thuyết là rất đúng, rất cần thiết nhưng thực hiện trên thực tế
không hề dễ dàng bởi các cơ sở vật chất kỹ thuật, con người của mỗi một doanh nghiệp là
của công việc kinh doanh chứ không dễ dàng để cho các cơ sở đào tạo “thử” hay “tập”. Thực
tế ở Khoa Văn hóa Du lịch, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội lấy “Đồng hành cùng doanh
nghiệp” luôn là một phương châm đúng nhưng không dễ thực hiện. Nếu muốn tăng thực tế,
thực hành cho sinh viên, học viên lại phải giải bài toán tăng học phí, tăng kinh phí đào tạo –
một bài toán muôn thủa của toàn xã hội… Ngay trong việc đào tạo, do nhu cầu xã hội tăng
nhanh dẫn đến qui mô đào tạo được mở rộng nhanh chóng đòi hỏi tăng nhanh về số lượng
đội ngũ giảng viên. Điều này cũng khiến cho chất lượng đội ngũ giảng viên cũng không cao,
không đáp ứng và thỏa mãn yêu cầu của thực tế. Nhiều sinh viên giỏi đã không muốn làm
công tác giảng dạy, đào tạo do thu nhập thấp trong nhà trường. Muốn thu nhập cao phải tham
gia kinh doanh trong khi khả năng và kinh nghiệm kinh doanh của các nhà trường, các thầy
các cô thật khó có thể cạnh tranh với các doanh nghiệp trong ngành. Chất lượng đào tạo
cũng phụ thuộc vào chất lượng tuyển sinh. Chất lượng tuyển sinh phụ thuộc chất lượng đào
tạo phổ thông từ các cấp mầm non, cơ sở… Nguyên nhân làm nảy sinh kết quả và nguyên
nhân khác đồng thời tạo nên hệ quả rộng rãi, tác động lâu dài… Ngành du lịch Việt Nam
cũng mới thực sự phát triển trong khoảng 15 năm trở lại đây nên còn thiếu những chuyên gia
đầu ngành, thiếu nhiều nhà quản lý, nhà khoa học tầm cỡ. Hệ thống giáo trình, giáo án, tài
liệu thiếu, nhiều cán bộ giáo viên không muốn xuất bản vì nhuận bút thấp, sự bảo hộ quyền
và lợi ích tác quyền chưa tốt dẫn đến nhiều người phải lo bảo vệ cái “cần câu cơm” cho riêng

sẻ và hợp tác… Nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực ngành du lịch là vấn đề đầu
tiên, chiếm nội dung và vị thế cực kỳ quan trọng nhưng là “câu chuyện dài hơi” muôn thủa
của không chỉ các cơ sở đào tạo, của ngành du lịch mà là của toàn xã hội. Bằng những bước
đi và biện pháp thích hợp với từng thời đoạn, chất lượng đào tạo nguồn nhân lực du lịch ở
Việt Nam đang từng bước được hoàn thiện và nâng cao. Mỗi cơ sở đào tạo, mỗi doanh
nghiệp trong quá trình phát triển luôn cần phải soi lại chính mình, “tắm gội, giặt ủi, sắm
sanh” đồ hành của mình, xốc lại tâm thế, hành trang, tiếp tục lên đường! Cùng với các cơ sở
đào tạo khác, Khoa Văn hóa Du lịch, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội đang nỗ lực cố gắng
hết sức mình trên con đường tiến về phía trước. Đường chúng ta đi là con đường còn lắm
chông gai, đầy khó khăn, thử thách nhưng là con đường “vô tiền khoáng hậu” – Đường đó là
ĐƯỜNG TỚI NGÀY VINH QUANG!
6.4 Vai trò và xu hướng phát triển nguồn nhân lực trong ngành du lịch


6.4.1 Vai trò của phát triển nguồn nhân lực đối với ngành du lịch ở Việt Nam
6.4.2 Xu hướng phát triển nguồn nhân lực trong ngành du lịch
6.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển nguồn nhân lực trong ngành du lịch
6.6 Kinh nghiệm của một số quốc gia và địa phương trong phát triển nguồn nhân lực ngành du
lịch

6.6.1 Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực trong ngành du lịch của một số quốc gia trên thế
giới

6.6.2 Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực trong ngành du lịch của một số tỉnh trong nước
6.6.3 Một số bài học rút ra cho phát triển nguồn nhân lực ngành du lịch ở Đà Nẵng




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status