TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
************
VŨ NGỌC HUẾ
DẠY HỌC TẠO LẬP
VĂN BẢN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI
THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN
NĂNG LỰC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn
HÀ NỘI - 2018
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
************
VŨ NGỌC HUẾ
DẠY HỌC TẠO LẬP
VĂN BẢN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI
THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN
NĂNG LỰC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn
Người hướng dẫn khoa học
Hà Nộ i 2
Tr ư ờ ng ĐHSP
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp “Dạy học tạo lập văn bản nghị luận xã hội
theo định hướng phát triển năng lực” là kết quả nghiên cứu của riêng tôi dưới sự
hướng dẫn của ThS. Trần Thị Hạnh Phương. Các kết quả nghiên cứu là trung thực và
chưa được công bố trong bất cứ công trình nào.
Hà Nội, tháng 5 năm 2018
Sinh viên thực hiện
Vũ Ngọc Huế
Vũ Ngọc
Huế
K40B – SP Ngữ
văn
Khóa luậ n tốt nghiệp Đạ i học
Hà Nộ i 2
Tr ư ờ ng ĐHSP
KÍ HIỆU VIẾT TẮT
GV:
Giáo viên
Giáo sư
ThS:
Thạc sĩ
NL:
Năng lực
VB:
Văn bản
TPVH:
Tác phẩm văn học
CH:
Câu hỏi
DKTL:
Dự kiến trả lời
Vũ Ngọc
Huế
K40B – SP Ngữ
1.1.2.4 Tính chất đối thoại trong văn nghị luận ....................................................... 9
1.1.2.5 Ngôn ngữ trong văn nghị luận ..................................................................... 10
1.1.3 Phân loại.......................................................................................................... 11
1.1.3.1 Nghị luận văn học ........................................................................................ 11
1.1.3.2 Nghị luận xã hội ........................................................................................... 11
1.1.4 Tạo lập văn bản nghị luận ............................................................................... 14
1.1.4.1 Khái niệm ..................................................................................................... 14
1.1.4.2 Các thao tác tạo lập một bài văn nghị luận .................................................. 15
Vũ Ngọc
Huế
K40B – SP Ngữ
văn
Khóa luậ n tốt nghiệp Đạ i học
Hà Nộ i 2
Tr ư ờ ng ĐHSP
1.1.5 Quy trình làm bài văn nghị luận...................................................................... 19
1.1.5.1 Tìm hiểu đề và tìm ý .................................................................................... 19
1.1.5.2 Lập dàn ý...................................................................................................... 21
1.1.5.3 Tìm dẫn chứng ............................................................................................. 27
1.1.5.4 Viết bài ......................................................................................................... 28
1.1.5.5 Sửa chữa ....................................................................................................... 29
1.2 Dạy học văn nghị luận xã hội theo định hướng phát triển năng lực .................. 29
Chương 2. CÁC BIỆN PHÁP TỔ CHỨC DẠY HỌC TẠO LẬP VĂN BẢN
Tr ư ờ ng ĐHSP
1
K40B – SP Ngữ
văn
Khóa luậ n tốt nghiệp Đạ i học
Hà Nộ i 2
MỞ ĐẦU
Tr ư ờ ng ĐHSP
1. Lý do chọn đề tài
Một thời gian dài trước đây, môn Làm văn trong nhà trường chỉ tập trung vào
NLVH, coi trọng NLVH, khiến HS chỉ quẩn quanh với kiến thức sách vở, sự liên hệ
với thực tế đời sống ít ỏi. Việc dạy và học văn phần nào đó trở nên phiến diện, máy
móc, giáo điều. Trong những năm gần đây, chương trình dạy học và thi môn văn có
nhiều đổi mới. Mảng văn NLXH được đưa vào chương trình các cấp học từ THCS đến
THPT. Đề văn NLXH là một trong những tiêu chí đánh giá quan trọng trong các bài
kiểm tra thường xuyên, định kì, đặc biệt là kì thi THPT quốc gia. Sự thay đổi này đã
đem lại không ít cơ hội cho việc rèn luyện NL tư duy và phát triển toàn diện cho HS.
Tuy nhiên nó cũng đặt ra cho các em không ít thách thức. Thời gian rèn luyện về
NLXH ở trên lớp không nhiều, nhiều em kiến thức xã hội còn hời hợt, kĩ năng làm bài
chưa được tốt… tất cả những điều đó tạo nên khó khăn khá lớn cho HS trong quá trình
tạo lập VB.
NLXH là một thể văn quan trọng hướng tới việc tìm hiểu, phân tích, bàn bạc về
Trong chủ trương đổi mới toàn diện giáo dục nhiều thập kỉ qua, đặc biệt là đổi
mới giảng dạy văn học ở nhà trường phổ thông, phân môn được quan tâm nhiều nhất là
giảng văn. Và phân môn ít được chú ý nhất là làm văn. Đây là khía cạnh còn nhiều mắc
mớ nhất [12, 124]
Bắt nguồn từ nhu cầu của cuộc sống, của xã hội và quay trở lại phục vụ cuộc sống
xã hội, văn nghị luận có vai trò to lớn đối với mỗi con người. Cũng bởi thế, các nhà
nghiên cứu đã dành nhiều sự quan tâm và nghiên cứu về kiểu VB này.
Các tác giả: Đỗ Ngọc Thống, Phạm Minh Hiếu, Nguyễn Thành Thi trong cuốn
“Làm văn” đã có nhận xét về VB NLXH. Đặc biệt, các tác giả đã chỉ ra phạm trù của
NLXH đó là: Nghị luận chính trị; nghị luận đạo đức, tư tưởng; nghị luận hiện tượng
đời sống xã hội. Bên cạnh đó, trong cuốn sách này các tác giả cũng lưu ý một số điểm
khác nhau khi làm đề văn NLXH với NLVH, giữa nghị luận về một hiện tượng đời
sống với nghị luận về một tư tưởng, đạo lí. Tuy nhiên, các tác giả chưa nêu ra cách dạy
học hiệu quả cho dạng bài nghị luận này một cách cụ thể.
Nhóm tác giả Nguyễn Trọng Hoàn trong cuốn “Văn nghị luận trong chương
trình Ngữ văn Trung học cơ sở” cũng chỉ ra cách phân loại căn cứ vào nội dung bài
học sẽ có các loại sau: Nghị luận chính trị (đề tài là các vấn đề chính trị), NLXH (đề tài
là các vấn đề xã hội), nghị luận đạo đức (đề tài là các vấn đề đạo đức, nhân sinh quan),
NLVH (đề tài là các vấn đề trong văn học)… Trong những công trình nghiên cứu này,
tác giả tách nghị luận chính trị, nghị luận đạo đức thành kiểu bài riêng không nằm
trong NLXH như các tác giả trong cuốn “Làm văn”. Dù phân chia như vậy, song các
tác giả cũng đã đề cập đến sự khác nhau về đề tài của các kiểu bài và đặc trưng cơ bản
của NLXH.
Trong cuốn “Rèn luyện kĩ năng văn nghị luận” của Bảo Quyến,tác giả cũng đã
bàn về văn nghị luận. Theo Bảo Quyến, văn nghị luận cũng được phân làm hai loại:
NLVH và NLXH. Trong văn NLXH lại bao gồm nhiều dạng khác nhau như: Nghị luận
đạo đức, tư tưởng; nghị luận về một hiện tượng đời sống… Tuy nhiên, cuốn sách này
cũng chưa bàn luận nhiều tới việc dạy học văn nghị luận, trong đó có nghị luận về vấn
-
Cách thức tạo lập một dạng bài NLXH nói chung; nghị luận về vấn đề xã hội
đặt ra trong TPVH nói riêng.
4. Đối tượng nghiên cứu
Khóa luận tập trung hướng dẫn HS cách tạo lập văn bản NLXH theo định hướng
phát triển NL, cung cấp cho các em cách thức, chiến thuật làm bài hiệu quả nhất.
5. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là “Nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác
phẩm văn học” cho HS THPT.
6. Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng những phương pháp nghiên cứu chính
sau:
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp thu thập tài liệu
- Phương pháp hệ thống hóa
- Phương pháp thực nghiệm
7. Đóng góp của khóa luận
Khóa luận đi sâu vào hướng dẫn cho HS THPT cách thức làm bài văn nghị luận
về vấn đề đặt ra trong TPVH. Qua đó góp phần giáo dục nhân cách, kĩ năng sống cho
HS ngoài việc trang bị tri thức, kĩ năng, kĩ xảo tạo lập văn bản NLXH.
8. Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, phần nội dung của
khóa luận được triển khai cụ thể thành ba chương:
NLXH là những bài văn bàn về xã hội, chính trị, đời sống. Đề tài của dạng bài
NLXH cũng hết sức rộng mở. Nó gồm tất cả những vấn đề về tư tưởng, đạo lí, một lối
sống đẹp, một hiện tượng tích cực hoặc tiêu cực trong cuộc sống hàng ngày, vấn đề
thiên nhiên môi trường, vấn đề hội nhập, toàn cầu hóa… Nghĩa là, ngoài những tác
phẩm NLVH (lấy TPVH, nhà văn làm đối tượng), tất cả các dạng VB viết khác đều có
khả năng được xếp vào dạng NLXH, chính trị.
Văn nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong TPVH là bài văn mang tính tổng hợp,
đòi hỏi HS kiến thức về cả hai mảng văn học và đời sống, cũng đòi hỏi cả kĩ năng phân
tích văn học, đánh giá các vấn đề xã hội. Nghĩa là có thể kiểm tra được người viết về cả
kiến thức văn học và kiến thức đời sống. Dạng bài này thường xuất phát từ một vấn đề
xã hội giàu ý nghĩa có trong một TPVH nào đó để yêu cầu HS bàn luận rộng ra vấn đề
xã hội đó. Vấn đề xã hội được bàn bạc có thể rút ra từ một TPVH đã học trong chương
trình nhưng cũng có thể từ một câu chuyện chưa được học (thường là câu chuyện ngắn
gọn, giàu ý nghĩa).
Dạng bài nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong TPVH đòi hỏi ở HS kĩ năng tổng
hợp: đọc hiểu VB văn học, phát hiện vấn đề nghị luận, sử dụng nhuần nhuyễn các thao
tác nghị luận để bàn bạc về vấn đề và thường được sử dụng nhiều trong các kì thi các
cấp học, bậc học.
1.1.2 Đặc điểm của văn nghị luận
1.1.2.1 Đề tài của văn nghị luận
Đề tài của văn nghị luận hết sức phong phú, nó là những bài văn bàn về vấn đề
chính trị, xã hội, văn học nghệ thuật, triết học, đạo đức. Nó gồm tất cả những vấn đề về
tư tưởng, đạo lí, một lối sống đẹp, một hiện tượng tích cực hoặc tiêu cực trong cuộc
sống hàng ngày, vấn đề thiên nhiên môi trường, vấn đề hội nhập, toàn cầu hóa…
Ví dụ: Truyền thống “thương người như thể thương thân” của nhân dân Việt
Nam; truyền thống “tôn sư trọng đạo” của nhân dân Việt Nam; quan niệm về con
người của thế kỉ XXI; thiên nhiên bị hủy hoại, môi trường bị xuống cấp; văn hóa đọc,
văn hóa giao tiếp ứng xử trong cuộc sống hiện nay;…
Mỗi bài văn nghị luận là một đề xuất ý kiến, là trình bày tư tưởng, quan điểm của
người viết trước một vấn đề của văn học hoặc của cuộc sống. Vẻ đẹp của văn nghị luận
trên phương diện này là chất trí tuệ. Chất trí tuệ của bài văn nghị luận thể hiện ở hệ
thống luận điểm. Vì thế luận điểm chính là linh hồn của bài văn nghị luận. Luận điểm
thể hiện rõ tư tưởng, quan điểm, chủ trương, đánh giá của người viết đối với vấn đề cần
thuyết phục và làm sáng tỏ.
Luận điểm giống như chiếc đinh để người ta treo móc toàn bộ chiếc áo là bài văn
nghị luận trên đó. Nó thể hiện rất rõ mục đích, tư tưởng và quan điểm của người viết.
Vì thế một bài văn nghị luận không thể không có luận điểm. Trong mỗi luận điểm lại
có nhiều luận cứ nhằm làm sáng tỏ cho luận điểm. Luận cứ là các dẫn chứng (chứng
cứ) cụ thể. Luận chứng (hay lập luận) là sự tổ chức các luận điểm và luận cứ, các lí lẽ
và dẫn chứng nhằm làm sáng tỏ vấn đề, để người đọc hiểu, tin và đồng tình với điều
mà người viết đặt ra và giải quyết. Lập luận trong văn nghị luận chỉ thực sự có ý nghĩa
thuyết phục nếu người đọc tiếp thu thông tin, hiểu thấu đáo nội dung ý nghĩa của thông
báo.
Ví dụ: Với luận điểm “Thiên nhiên là môi trường sống tốt nhất của con người,
con người phải biết bảo vệ thiên nhiên” gồm có các luận cứ sau:
- Thiên nhiên là môi trường sống tốt nhất của con người (giải thích vì sao, dẫn
chứng);
- Thiên nhiên và môi trường ở nước ta hiện nay đang bị tàn phá và xuống cấp
nghiêm trọng (thực trạng, nguyên nhân, tác hại);
- Thái độ của chúng ta (lên án, ngăn chặn, có biện pháp xử lí với hành động phá
hoại; kế hoạch, chiến lược bảo vệ thiên nhiên; biện pháp, giải pháp công nghệ hữu
hiệu).
1.1.2.4 Tính chất đối thoại trong văn nghị luận
Văn nghị luận lấy việc đề xuất, bàn bạc, thảo luận, phê bình vấn đề có ý nghĩa xã
hội làm nội dung nên bao giờ nó cũng có “một ai đó” để giao tiếp và đối thoại. Văn
Trọng Lư, cánh cò phân vân của Xuân Diệu, ánh nắng ngẩn ngơ buồn của Huy
Cận…”; “trăng hoa đã trở về trong thơ Bác, vẫn yêu kiều, vẫn lộng lẫy như xưa!”.
Văn nghị luận nói chung là loại văn của tư duy khái niệm, của duy lí logic. Tuy
nhiên, văn nghị luận cũng rất cần hấp dẫn, lôi cuốn bằng từ ngữ có hình tượng và có
sức gợi cảm cao. Bài văn nghị luận hay là bài văn vừa giàu sức thuyết phục luận lí, vừa
giàu hình ảnh. Hình ảnh làm tăng sức thuyết phục, làm cho chân lí vừa sáng tỏ, vừa
thấm thía. Đồng thời, văn nghị luận cũng rất cần yếu tố biểu cảm, bởi hiệu quả tác
động không chỉ ở lí trí mà còn ở tình cảm, cảm xúc của người đọc, người nghe. Điều
đó đòi hỏi người làm văn phải thật sự có cảm xúc trước những điều mình nói (hoặc
viết) và biết diễn tả cảm xúc đó bằng những từ ngữ, câu văn có sức truyền cảm cao.
1.1.3 Phân loại
1.1.3.1 Nghị luận văn học
NLVH là một thể loại văn học đặc biệt, dùng lí lẽ, phán đoán, chứng cứ để bàn
bạc về văn học, có thể là tác giả, tác phẩm, ý kiến nhận định về tác phẩm, nhân vật
trong tác phẩm…Khi làm bài NLVH thì chúng ta cần phải nắm chắc kiến thức cơ bản
về mỗi tác giả, tác phẩm. Đối với thơ thì cần chú ý đến hình thức như nhịp điệu, cách
gieo vần, cấu trúc…Đối với tác phẩm văn xuôi thì chú ý đến cốt truyện, nhân vật, tình
tiết, các dẫn chứng cần chính xác, chọn lọc, chú ý đến các giá trị: nhân đạo, tình huống
truyện…
Ví dụ: Nghị luận về hình tượng người lính Tây Tiến trong bài thơ “Tây Tiến” của
Quang Dũng.
1.1.3.2 Nghị luận xã hội
NLXH là những bài văn bàn về xã hội, chính trị, đời sống. Đề tài của dạng bài
NLXH cũng hết sức rộng mở. Nó gồm tất cả những vấn đề về tư tưởng, đạo lí, một lối
sống đẹp, một hiện tượng tích cực hoặc tiêu cực trong cuộc sống hàng ngày, vấn đề
thiên nhiên môi trường, vấn đề hội nhập, toàn cầu hóa… Nghĩa là, ngoài những tác
phẩm NLVH (lấy TPVH, nhà văn làm đối tượng), tất cả các dạng VB viết khác đều có
khả năng được xếp vào dạng NLXH, chính trị. Có thể phân loại NLXH làm ba dạng
Nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học
Đây là vấn đề tổng hợp, đòi hỏi HS kiến thức về cả hai mảng văn học và đời
sống, cũng đòi hỏi cả kĩ năng phân tích văn học và kĩ năng phân tích, đánh giá các vấn
đề xã hội. Nghĩa là có thể kiểm tra được người viết về cả kiến thức văn học và kiến
thức đời sống. Đề thường xuất phát từ một vấn đề xã hội giàu ý nghĩa có trong một
TPVH nào đó để yêu cầu HS bàn luận rộng ra vấn đề xã hội đó. Vấn đề xã hội được
bàn bạc có thể rút ra từ một TPVH đã học trong chương trình những cũng có thể từ một
câu chuyện chưa được học (thường là câu chuyện ngắn gọn, giàu ý nghĩa).
Trong dạng đề nghị luận về vấn đề đặt ra trong một TPVH, nó có thể được chia
thành các dạng nhỏ:
* Vấn đề nghị luận về tư tưởng đạo lý rút ra từ TPVH
Trong chương trình THPT, HS đã được học về kiểu đề NLXH về một tư tưởng
đạo lí. Trong các đề bài thuộc kiểu đề này, vấn đề tư tưởng đạo lí có thể được nêu trực
tiếp (Ví dụ: Trình bày suy nghĩ của anh/chị về lòng dũng cảm) hoặc được thể hiện qua
một câu danh ngôn/câu tục ngữ, thành ngữ/câu thơ, câu hát… (Ví dụ: Trình bày suy
nghĩ của anh/chị về câu tục ngữ “Lá lành đùm lá rách”). Các vấn đề tư tưởng, đạo lí
đặt ra để bàn luận không phải là những vấn đề quá phức tạp, lớn lao mà chỉ là những
khía cạnh đạo đức, tư tưởng, tình cảm gần gũi với đời sống hàng ngày của các em HS.
Kiểu đề này tạo cơ hội cho HS được bày tỏ chính kiến của mình về quan niệm sống, về
các vấn đề đạo đức… để từ đó hướng đến việc bồi đắp nhân cách cho thế hệ trẻ. Để
làm tốt điều đó, HS cần nắm chắc các kĩ năng cơ bản khi tìm hiểu đề, tìm ý, xây dựng
dàn ý, huy động vốn kiến thức… HS cũng cần nắm chắc kĩ năng làm bài NLXH về một
tư tưởng đạo lí để kết hợp với kĩ năng đọc hiểu VB văn học để hoàn thành tốt dạng bài
này.
* Vấn đề nghị luận về hiện tượng đời sống rút ra từ TPVH
Nghị luận về một hiện tượng đời sống là bàn bạc về một hiện tượng đang diễn ra
trong thực tế đời sống xã hội mang tính chất thời sự, thu hút sự quan tâm của nhiều
người. Đó có thể là một hiện tượng tốt hoặc xấu, đáng khen hoặc đáng chê.
có khả năng nắm bắt, lựa chọn, phân tích vấn đề, biết cách triển khai các luận điểm một
cách hợp lý, tránh lan man, dàn trải, thiếu tập trung hoặc tham kiến thức.
1.1.4 Tạo lập văn bản nghị luận
1.1.4.1 Khái niệm