TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
************
VŨ NGỌC HUẾ
DẠY HỌC TẠO LẬP
VĂN BẢN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI
THEO ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN
NĂNG LỰC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học Ngữ văn
HÀ NỘI - 2018
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
************
VŨ NGỌC HUẾ
DẠY HỌC TẠO LẬP
VĂN BẢN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI
THEO ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN
NĂNG LỰC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học Ngữ văn
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp “Dạy học tạo lập văn bản nghị luận xã hội
theo định hướng phát triển năng lực” là kết quả nghiên cứu của riêng tôi dưới sự
hướng dẫn của ThS. Trần Thị Hạnh Phương. Các kết quả nghiên cứu là trung thực và
chưa được công bố trong bất cứ công trình nào.
Hà Nội, tháng 5 năm 2018
Sinh viên thực hiện
Vũ Ngọc Huế
_________________________________________________________________
Vũ Ngọc Huế
K40B – SP Ngữ văn
Khóa luận tốt nghiệp Đại học
Trường ĐHSP Hà Nội 2
KÍ HIỆU VIẾT TẮT
GV:
Giáo viên
HS:
Học sinh
NLVH:
NL:
Năng lực
VB:
Văn bản
TPVH:
Tác phẩm văn học
CH:
Câu hỏi
DKTL:
Dự kiến trả lời
_________________________________________________________________
Vũ Ngọc Huế
K40B – SP Ngữ văn
Khóa luận tốt nghiệp Đại học
MỤC LỤC
Trường ĐHSP Hà Nội 2
_________________________________________________________________
Vũ Ngọc Huế
K40B – SP Ngữ văn
Khóa luận tốt nghiệp Đại học
Trường ĐHSP Hà Nội 2
1.1.5 Quy trình làm bài văn nghị luận...................................................................... 19
1.1.5.1 Tìm hiểu đề và tìm ý .................................................................................... 19
1.1.5.2 Lập dàn ý ...................................................................................................... 21
1.1.5.3 Tìm dẫn chứng ............................................................................................. 27
1.1.5.4 Viết bài ......................................................................................................... 28
1.1.5.5 Sửa chữa ....................................................................................................... 29
1.2 Dạy học văn nghị luận xã hội theo định hướng phát triển năng lực .................. 29
Chƣơng 2. CÁC BIỆN PHÁP TỔ CHỨC DẠY HỌC TẠO LẬP VĂN BẢN
NGHỊ LUẬN XÃ HỘI THEO ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN
NĂNG LỰC ........................................................................................................... 31
2.1 Định hướng tổ chức dạy học tạo lập văn bản .................................................... 31
2.1.1 Dạy học Làm văn theo hướng tiếp cận giao tiếp ............................................ 31
2.1.2 Dạy học Làm văn theo hướng tích hợp ........................................................... 31
2.1.3 Dạy học Làm văn theo hướng xây dựng bản sắc cá nhân, phát triển nhân cách
(cá thể) trong mối quan hệ thống nhất với cộng đồng. ............................................ 31
2.1.4 Dạy học Làm văn theo hướng khai phóng tư duy, phát huy tính tích cực,
chủ động của người học ........................................................................................... 32
2.2 Những phương pháp tổ chức dạy học ................................................................ 32
2.2.1 Phương pháp dạy học nhóm ............................................................................ 32
2.2.2 Phương pháp dạy thực hành ............................................................................ 34
những vấn đề liên quan đến các mối quan hệ phức tạp của con người trong đời sống xã
hội. Việc làm văn NLXH sẽ giúp mài sắc NL nhận thức về cuộc sống, đồng thời giáo
dục về tư tưởng đạo đức cho HS. HS THPT đã có những hiểu biết nhất định về các vấn
đề xã hội nên khi được bày tỏ suy nghĩ, chính kiến về các vấn đề này, các em thường
rất hứng thú. Đưa văn NLXH vào chương trình Ngữ văn là một nỗ lực nhằm đổi mới
bộ môn Ngữ văn theo hướng thiết thực, bám sát đời sống, phát huy NL tư duy, sáng tạo
ở HS.
Đối với riêng cá nhân tôi, tôi nhận thấy mảng văn NLXH là một chủ đề khá hay,
có gắn bó mật thiết với cuộc sống của các em HS. Khi học và làm văn NLXH, các em
được rèn luyện kĩ năng làm văn, đồng thời được bày tỏ suy nghĩ, quan điểm, cách nhìn
nhận về cuộc sống của bản thân. Từ đó, các em sẽ có cái nhìn khách quan, toàn diện về
_________________________________________________________________
Vũ Ngọc Huế
1
K40B – SP Ngữ văn
Khóa luận tốt nghiệp Đại học
Trường ĐHSP Hà Nội 2
các vấn đề của đời sống xã hội để tích lũy kinh nghiệm sống cho bản thân, tự hoàn
thiện mình để trở nên sống đẹp hơn, đóng góp vào sự phát triển chung của xã hội.
Với tất cả những lí do trên, nhằm để phát triển toàn diện NL cho HS, nhằm giúp
các em tích lũy thêm kinh nghiệm sống, đặc biệt là giúp các em có thêm kĩ năng làm
tốt bài văn NLXH, tôi chọn đề tài “Dạy học tạo lập văn bản nghị luận xã hội theo
định hướng phát triển năng lực”. Đề tài này sẽ giúp tôi nâng cao chuyên môn phân
môn Làm văn, đặc biệt là mảng văn NLXH, đồng thời góp phần hỗ trợ tôi trong việc
giảng dạy ở trường THPT.
NLVH (đề tài là các vấn đề trong văn học)… Trong những công trình nghiên cứu này,
tác giả tách nghị luận chính trị, nghị luận đạo đức thành kiểu bài riêng không nằm
trong NLXH như các tác giả trong cuốn “Làm văn”. Dù phân chia như vậy, song các
tác giả cũng đã đề cập đến sự khác nhau về đề tài của các kiểu bài và đặc trưng cơ bản
của NLXH.
Trong cuốn “Rèn luyện kĩ năng văn nghị luận” của Bảo Quyến,tác giả cũng đã
bàn về văn nghị luận. Theo Bảo Quyến, văn nghị luận cũng được phân làm hai loại:
NLVH và NLXH. Trong văn NLXH lại bao gồm nhiều dạng khác nhau như: Nghị luận
đạo đức, tư tưởng; nghị luận về một hiện tượng đời sống… Tuy nhiên, cuốn sách này
cũng chưa bàn luận nhiều tới việc dạy học văn nghị luận, trong đó có nghị luận về vấn
đề xã hội đặt ra trong TPVH. Cũng bàn đến phương pháp dạy học kiểu bài nghị luận,
trong cuốn “Để làm tốt bài văn NLXH”, các tác giả đã nêu ra mô hình về nội dung bài
nghị luận về một vấn đề đặt ra trong một TPVH, cụ thể là: Bước 1:Cần rút ra đúng vấn
đề từ TPVH của đề bài; Bước 2: tiến hành bàn luận về vấn đề xã hội đó trong con mắt
nhìn của ngày hôm nay (đây là nội dung chính của bài nghị luận); Bước 3: có thể mở
rộng ý nghĩa của vấn đề, bày tỏ thái độ, nêu giải pháp, rút ra bài học.
Như vậy, cho đến nay có khá nhiều công trình nghiên cứu bàn về văn nghị luận
nói chung, tuy nhiên công trình nghiên cứu cụ thể về nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra
trong TPVH chưa có nhiều; cách thức dạy làm bài văn nghị luận cũng còn rất ít. Rất
cần phải có những đường hướng cụ thể chỉ rõ cách thức tạo lập VB NLXH theo định
hướng phát triển NL.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Khi nghiên cứu đề tài này, chúng tôi hướng đến các mục đích sau:
-
Hệ thống hóa những cơ sở khoa học khi dạy học một nội dung kiến thức trong
phần Làm văn THPT hướng tới dạy HS tạo lập văn bản NLXH.
_________________________________________________________________
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là “Nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác
phẩm văn học” cho HS THPT.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng những phương pháp nghiên cứu chính
sau:
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp thu thập tài liệu
- Phương pháp hệ thống hóa
- Phương pháp thực nghiệm
7. Đóng góp của khóa luận
Khóa luận đi sâu vào hướng dẫn cho HS THPT cách thức làm bài văn nghị luận
về vấn đề đặt ra trong TPVH. Qua đó góp phần giáo dục nhân cách, kĩ năng sống cho
HS ngoài việc trang bị tri thức, kĩ năng, kĩ xảo tạo lập văn bản NLXH.
8. Bố cục của khóa luận
_________________________________________________________________
Vũ Ngọc Huế
4
K40B – SP Ngữ văn
Khóa luận tốt nghiệp Đại học
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, phần nội dung của
khóa luận được triển khai cụ thể thành ba chương:
Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
Chƣơng 2. CÁC BIỆN PHÁP TỔ CHỨC DẠY HỌC TẠO LẬP VĂN BẢN
đức). Vấn đề được nêu ra như một câu hỏi cần giải đáp, làm sáng tỏ. Luận là bàn về
đúng, sai, phải, trái, khẳng định điều này, bác bỏ điều kia, để người ta nhận ra chân lí,
đồng tình với mình, chia sẻ quan điểm và niềm tin của mình. Sức mạnh của văn nghị
luận là ở sự sâu sắc của tư tưởng, tình cảm, tính mạch lạc, chặt chẽ của suy nghĩ và
trình bày, sự thuyết phục của lập luận. Vận dụng các thao tác như giải thích, phân tích,
chứng minh, bác bỏ, so sánh…”[1, 110].
NLXH là những bài văn bàn về xã hội, chính trị, đời sống. Đề tài của dạng bài
NLXH cũng hết sức rộng mở. Nó gồm tất cả những vấn đề về tư tưởng, đạo lí, một lối
sống đẹp, một hiện tượng tích cực hoặc tiêu cực trong cuộc sống hàng ngày, vấn đề
thiên nhiên môi trường, vấn đề hội nhập, toàn cầu hóa… Nghĩa là, ngoài những tác
_________________________________________________________________
Vũ Ngọc Huế
6
K40B – SP Ngữ văn
Khóa luận tốt nghiệp Đại học
Trường ĐHSP Hà Nội 2
phẩm NLVH (lấy TPVH, nhà văn làm đối tượng), tất cả các dạng VB viết khác đều có
khả năng được xếp vào dạng NLXH, chính trị.
Văn nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong TPVH là bài văn mang tính tổng hợp,
đòi hỏi HS kiến thức về cả hai mảng văn học và đời sống, cũng đòi hỏi cả kĩ năng phân
tích văn học, đánh giá các vấn đề xã hội. Nghĩa là có thể kiểm tra được người viết về cả
kiến thức văn học và kiến thức đời sống. Dạng bài này thường xuất phát từ một vấn đề
xã hội giàu ý nghĩa có trong một TPVH nào đó để yêu cầu HS bàn luận rộng ra vấn đề
xã hội đó. Vấn đề xã hội được bàn bạc có thể rút ra từ một TPVH đã học trong chương
trình nhưng cũng có thể từ một câu chuyện chưa được học (thường là câu chuyện ngắn
đem ra để bàn luận, bảo vệ, chứng minh trong toàn bộ bài viết. Chính vì thế trong
nhiều bài văn nghị luận, luận đề được thể hiện ở ngay nhan đề của bài viết.
Ví dụ: Với bài nghị luận “Tinh thần yêu nước của nhân dân ta” (Hồ Chí Minh),
luận đề chính là “Tinh thần yêu nước của nhân dân ta”, luận điểm là “Dân ta có một
lòng nồng nàn yêu nước”.
1.1.2.3 Luận điểm của bài văn nghị luận
Luận điểm (còn gọi là ý lớn) là những ý kiến, quan điểm chính được nêu ra trong
bài văn nghị luận. Luận điểm thường được thể hiện bằng một phán đoán (câu văn)
mang ý nghĩa khẳng định những tính chất, thuộc tính của vấn đề, nội dung, khía cạnh
được triển khai. Các luận điểm được sắp xếp theo một trình tự hợp lí, được triển khai
bằng những lí lẽ, dẫn chứng để làm sáng tỏ cho vấn đề đặt ra [12, 190]
Ví dụ, để khẳng định truyền thống yêu nước của nhân dân ta, Hồ Chí Minh đã
đưa ra những luận điểm sau:
-
Lịch sử đã chứng tỏ tinh thần nồng nàn yêu nước của dân tộc;
-
Đồng bào ta ngày nay rất xứng đáng với tổ tiên ta ngày trước;
-
Bổn phận của chúng ta là phải biến lòng yêu nước vào những hành động.
Mỗi bài văn nghị luận là một đề xuất ý kiến, là trình bày tư tưởng, quan điểm của
người viết trước một vấn đề của văn học hoặc của cuộc sống. Vẻ đẹp của văn nghị luận
trên phương diện này là chất trí tuệ. Chất trí tuệ của bài văn nghị luận thể hiện ở hệ
thống luận điểm. Vì thế luận điểm chính là linh hồn của bài văn nghị luận. Luận điểm
thể hiện rõ tư tưởng, quan điểm, chủ trương, đánh giá của người viết đối với vấn đề cần
1.1.2.4 Tính chất đối thoại trong văn nghị luận
Văn nghị luận lấy việc đề xuất, bàn bạc, thảo luận, phê bình vấn đề có ý nghĩa xã
hội làm nội dung nên bao giờ nó cũng có “một ai đó” để giao tiếp và đối thoại. Văn
nghị luận chẳng những mang đặc điểm bàn luận mà còn theo đuổi mục đích thuyết
phục người khác tin vào ý kiến đúng đắn cũng như phương thức trình bày, lập luận,
chứng minh của chủ thể lập luận. Tại sao phải đặt vấn đề đối thoại? Vì nghị luận là
giao tiếp xã hội, con người đương thời không những tán đồng đồng ý với con người
đương thời bằng bàn bạc tranh luận mà còn phải thực hiện sự đồng tình hay phản bác
đó một cách rộng rãi với con người mọi thời đại, mọi xứ sở [11, 8]. Logic đối thoại là
đặc điểm quan trọng của văn nghị luận. Logic đối thoại trong văn nghị luận làm cho ý
tưởng bài văn phong phú, làm cho phương án trình bày có khả năng nảy sinh để dự
đoán những tình huống tranh luận có thể xảy ra, tạo nên sự căng thẳng hấp dẫn của
cuộc đối thoại ngầm. Logic đối thoại huy động tối đa NL cá nhân, biết tự đặt mình vào
_________________________________________________________________
Vũ Ngọc Huế
9
K40B – SP Ngữ văn
Khóa luận tốt nghiệp Đại học
Trường ĐHSP Hà Nội 2
người khác, tâm lí khác và tình huống cụ thể để xem xét, luận giải vấn đề toàn vẹn,
đem lại hiệu quả thuyết phục cao của văn nghị luận.
1.1.2.5 Ngôn ngữ trong văn nghị luận
Do đặc điểm và tính chất của nó, văn nghị luận ít dùng loại câu mô tả, trần thuật
“kể lể” sự việc mà chủ yếu dùng loại câu khẳng định và phủ định với nội dung hầu hết
là các phán đoán hoặc những nhận xét, đánh giá sâu sắc. Ví dụ:
đó đòi hỏi người làm văn phải thật sự có cảm xúc trước những điều mình nói (hoặc
viết) và biết diễn tả cảm xúc đó bằng những từ ngữ, câu văn có sức truyền cảm cao.
1.1.3 Phân loại
1.1.3.1 Nghị luận văn học
NLVH là một thể loại văn học đặc biệt, dùng lí lẽ, phán đoán, chứng cứ để bàn
bạc về văn học, có thể là tác giả, tác phẩm, ý kiến nhận định về tác phẩm, nhân vật
trong tác phẩm…Khi làm bài NLVH thì chúng ta cần phải nắm chắc kiến thức cơ bản
về mỗi tác giả, tác phẩm. Đối với thơ thì cần chú ý đến hình thức như nhịp điệu, cách
gieo vần, cấu trúc…Đối với tác phẩm văn xuôi thì chú ý đến cốt truyện, nhân vật, tình
tiết, các dẫn chứng cần chính xác, chọn lọc, chú ý đến các giá trị: nhân đạo, tình huống
truyện…
Ví dụ: Nghị luận về hình tượng người lính Tây Tiến trong bài thơ “Tây Tiến” của
Quang Dũng.
1.1.3.2 Nghị luận xã hội
NLXH là những bài văn bàn về xã hội, chính trị, đời sống. Đề tài của dạng bài
NLXH cũng hết sức rộng mở. Nó gồm tất cả những vấn đề về tư tưởng, đạo lí, một lối
sống đẹp, một hiện tượng tích cực hoặc tiêu cực trong cuộc sống hàng ngày, vấn đề
thiên nhiên môi trường, vấn đề hội nhập, toàn cầu hóa… Nghĩa là, ngoài những tác
phẩm NLVH (lấy TPVH, nhà văn làm đối tượng), tất cả các dạng VB viết khác đều có
khả năng được xếp vào dạng NLXH, chính trị. Có thể phân loại NLXH làm ba dạng
chính: nghị luận về một tư tưởng đạo lí, nghị luận về một hiện tượng đời sống và nghị
luận về vấn đề xã hội đặt ra trong TPVH.
Nghị luận về một tư tưởng đạo lí
Đối với HS trong nhà trường phổ thông, do tâm lí, lứa tuổi, tầm nhận thức nên
những vấn đề đặt ra để bàn luận không phải là những vấn đề quá phức tạp mà chỉ là
khía cạnh đạo đức, tư tưởng, tình cảm gắn liền với cuộc sống hằng ngày như tình cảm
quê hương, gia đình, bạn bè, ý thức trách nhiệm, tinh thần học tập, phương pháp nhận
_________________________________________________________________
sống, cũng đòi hỏi cả kĩ năng phân tích văn học và kĩ năng phân tích, đánh giá các vấn
đề xã hội. Nghĩa là có thể kiểm tra được người viết về cả kiến thức văn học và kiến
thức đời sống. Đề thường xuất phát từ một vấn đề xã hội giàu ý nghĩa có trong một
TPVH nào đó để yêu cầu HS bàn luận rộng ra vấn đề xã hội đó. Vấn đề xã hội được
bàn bạc có thể rút ra từ một TPVH đã học trong chương trình những cũng có thể từ một
câu chuyện chưa được học (thường là câu chuyện ngắn gọn, giàu ý nghĩa).
_________________________________________________________________
Vũ Ngọc Huế
12
K40B – SP Ngữ văn
Khóa luận tốt nghiệp Đại học
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Trong dạng đề nghị luận về vấn đề đặt ra trong một TPVH, nó có thể được chia
thành các dạng nhỏ:
* Vấn đề nghị luận về tư tưởng đạo lý rút ra từ TPVH
Trong chương trình THPT, HS đã được học về kiểu đề NLXH về một tư tưởng
đạo lí. Trong các đề bài thuộc kiểu đề này, vấn đề tư tưởng đạo lí có thể được nêu trực
tiếp (Ví dụ: Trình bày suy nghĩ của anh/chị về lòng dũng cảm) hoặc được thể hiện qua
một câu danh ngôn/câu tục ngữ, thành ngữ/câu thơ, câu hát… (Ví dụ: Trình bày suy
nghĩ của anh/chị về câu tục ngữ “Lá lành đùm lá rách”). Các vấn đề tư tưởng, đạo lí
đặt ra để bàn luận không phải là những vấn đề quá phức tạp, lớn lao mà chỉ là những
khía cạnh đạo đức, tư tưởng, tình cảm gần gũi với đời sống hàng ngày của các em HS.
Kiểu đề này tạo cơ hội cho HS được bày tỏ chính kiến của mình về quan niệm sống, về
các vấn đề đạo đức… để từ đó hướng đến việc bồi đắp nhân cách cho thế hệ trẻ. Để
làm tốt điều đó, HS cần nắm chắc các kĩ năng cơ bản khi tìm hiểu đề, tìm ý, xây dựng
Xuất phát từ một trong những đặc trưng cơ bản quan trọng nhất của văn học – văn
học là tấm gương phản ánh cuộc sống, một TPVH có thể đặt ra rất nhiều các vấn đề xã
hội, cả về tư tưởng đạo lý và hiện tượng đời sống, truyền tải những bài học cuộc sống
sâu sắc tới người tiếp nhận. Các thông điệp mà nhà văn gửi gắm có thể được đan cài rất
sâu trong tác phẩm, đòi hỏi người viết phải suy nghĩ thận trọng, rút ra những vấn đề xã
hội phức tạp ẩn chứa bên trong.
Cũng giống như hai dạng đề đã trình bày ở trên, dạng đề nghị luận về nhiều vấn
đề xã hội rút ra từ TPVH cũng có cấu tạo hai phần. Phần thứ nhất nêu một hoặc nhiều
tác phẩm, hoặc trích dẫn một phần VB tác phẩm. Phần thứ hai là câu lệnh yêu cầu suy
nghĩ về các vấn đề rút ra từ tác phẩm đã nêu. Điểm khác biệt của đề bài dạng này là
trong câu lệnh của đề thường không gọi trực tiếp vấn đề xã hội cần nghị luận mà đưa
những câu hỏi có tính gợi mở cho người đọc tự tư duy, khám phá, tìm hiểu.
Ví dụ như: Suy nghĩ của anh/chị được gợi ra từ câu chuyện trên; hay Anh/chị rút
ra những bài học gì từ tác phẩm này?... Các tác phẩm được lựa chọn nêu trong phần
một thường là những VB có nhiều tầng ý nghĩa, gợi mở nhiều vấn đề xã hội. Có thể
nói, đây là dạng đề khó nhất trong các dạng đề NLXH, đòi hỏi HS tư duy tổng hợp cao,
có khả năng nắm bắt, lựa chọn, phân tích vấn đề, biết cách triển khai các luận điểm một
cách hợp lý, tránh lan man, dàn trải, thiếu tập trung hoặc tham kiến thức.
1.1.4 Tạo lập văn bản nghị luận
1.1.4.1 Khái niệm
_________________________________________________________________
Vũ Ngọc Huế
14
K40B – SP Ngữ văn
Khóa luận tốt nghiệp Đại học
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Phân tích cần đi sâu vào từng mặt, từng bộ phận, song cần đặc biệt lưu ý đến quan
hệ giữa chúng với nhau trong một chỉnh thể toàn vẹn thống nhất [7, 25]
Ví dụ: Với đề bài “Ôi! Sống đẹp là thế nào, hỡi bạn?”
Ta có thể sử dụng thao tác lập luận phân tích để xác định những tiêu chí của lối
sống đẹp như:
- Cần phải có lí tưởng đúng đắn, cao đẹp.
- Bên cạnh đó, sống đẹp cần phải có tâm hồn, tình cảm lành mạnh, nhân hậu.
- Người sống đẹp cần phải biết nỗ lực không ngừng để trí tuệ mỗi ngày thêm rộng
mở.
_________________________________________________________________
Vũ Ngọc Huế
15
K40B – SP Ngữ văn
Khóa luận tốt nghiệp Đại học
Trường ĐHSP Hà Nội 2
- Sống đẹp còn được thể hiện qua những hành động tích cực, lương thiện…”
*Thao tác lập luận so sánh
So sánh có tác dụng làm nổi bật sự vật, hiện tượng mà người ta cần nói đến. Khi
viết văn nghị luận, người ta cũng dùng so sánh để làm sáng rõ, làm vững chắc thêm
luận điểm của mình. Đó là so sánh trong lập luận, gọi là lập luận so sánh. Mục đích của
lập luận so sánh là làm sáng rõ đối tượng đang nghiên cứu trong tương quan với đối
tượng khác. So sánh đúng làm cho văn nghị luận sáng tỏ, cụ thể, sinh động và có sức
thuyết phục.
Khi so sánh cần phải đảm bảo tính khoa học và tính chính xác của sự so sánh:
16
K40B – SP Ngữ văn
Khóa luận tốt nghiệp Đại học
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Bác bỏ là dùng lí lẽ và chứng cứ để gạt bỏ những quan điểm, ý kiến sai lệch hoặc
thiếu chính xác,… từ đó nêu ý kiến của mình để thuyết phục người nghe, người đọc.
Mục đích của lập luận bác bỏ là khẳng định ý kiến đúng, dùng cách bác bỏ để ý kiến
đúng được nổi bật, người đọc, người nghe dễ chấp nhận. Khi bác bỏ cần tỏ thái độ
khách quan, đúng mực của người viết.
Thông thường có thể bác bỏ theo hai cách:
+Nêu hết ý kiến sai trái, sau đó tiến hành phân tích, bác bỏ và khẳng định ý kiến
đúng của mình.
+Nêu từng phần ý kiến sai rồi bác bỏ từng phần ý kiến đó, sau đó khẳng định ý
kiến đúng của mình, cuối cùng tổng hợp lại vấn đề để khẳng định cái đúng chung, toàn
bộ.
Ví dụ: Với đề bài: “Tôi có tiền, tôi mua được tất cả”, ta có thể sử dụng thao tác
lập luận bác bỏ như sau:
- Các Mác từng nói với con gái của mình : Đối với ba, hạnh phúc là được đấu tranh”
chứ không hề nói “Đối với ba, hạnh phúc là có nhiều tiền”, Đúng vậy, tiền chưa bao
giờ và không bao giờ là tất cả;
- Bạn có thể dùng tiền để mua thành công nhưng rồi một ngày chính tiền sẽ khiến bạn
thất bại;
- Bạn có thể sẽ thành công trong sự nghiệp, sẽ có nhiều tiền nhưng đến một lúc nào đó
bạn sẽ nhận ra rằng, xung quanh không còn ai cùng bạn chia sẻ sự thành công đó.
Việc sử dụng thao tác lập luận bác bỏ này đã nhấn mạnh con người không nên đề
cao của cải vật chất, tiền bạc, thao tác này giúp cho đoạn văn có sức thuyết phục cao
Ví dụ: “Chúng ta biết chủ động trong mọi tình huống là một điều tốt. Tuy nhiên,
trước quy luật vận động và phát triển không ngừng của xã hội, chủ động trong mọi tình
huống là chưa đủ. Thêm vào đó, chúng ta cần phải có tư duy nhạy bén, ý chí, niềm tin
kết hợp kinh nghiệm đã học được, rút ra bài học từ sai lầm người khác để mình không
mắc phải, có sự sáng tạo trong cách giải quyết vấn đề…Câu chuyện về hành động của
người mù đúng là câu chuyện nhỏ nhưng chứa đựng bài học lớn, sâu sắc, bổ ích. Đọc
câu chuyện, mỗi người đã tự rút ra cho mình câu trả lời cho băn khoăn, thắc mắc: tại
sao chúng ta cần phải chủ động? Làm thế nào để chủ động trong cuộc sống? Để tránh
khỏi những rủi ro không đáng có, chúng ta cần phải luôn trong tâm thế chủ động, thích
nghi với mọi hoàn cảnh, điều kiện. “Sống là không chờ đợi, sống luôn luôn chủ
động”. Đó là phương châm sống đúng đắn với con người trong mọi thời đại…”
Ở đây, người viết đã bình luận mở rộng về sự chủ động trong cuộc sống: chủ
động trong mọi tình huống là chưa đủ; Đọc câu chuyện, mỗi người đã tự rút ra cho
mình câu trả lời cho băn khoăn, thắc mắc: tại sao chúng ta cần phải chủ động? Làm
thế nào để chủ động trong cuộc sống? Để tránh khỏi những rủi ro không đáng có,
chúng ta cần phải luôn trong tâm thế chủ động, thích nghi với mọi hoàn cảnh, điều
kiện. “Sống là không chờ đợi, sống luôn luôn chủ động”
*Ngoài bốn thao tác cơ bản kể trên còn có thể kết hợp sử dụng các thao tác và
cách thức lập luận khác như diễn dịch, quy nạp, tổng hợp, giải thích, chứng minh,…
Một bài văn nghị luận sẽ là sự kết hợp của nhiều thao tác lập luận, tùy theo yêu cầu và
vấn đề nghị luận nêu ra mà lựa chọn và sử dụng thao tác nào là chính. Không thể sử
_________________________________________________________________
Vũ Ngọc Huế
18
K40B – SP Ngữ văn