Sử dụng trò chơi vận động phát triển khả năng phối hợp vận động cho trẻ 3 4 tuổi tại trường mầm non kim chung đông anh hà nội - Pdf 56

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
**********

LÊ THỊ THANH HUỆ

SỬ DỤNG TRÒ CHƠI VẬN ĐỘNG
PHÁT TRIỂN KHẢ NĂNG PHỐI HỢP
VẬN ĐỘNG CHO TRẺ 3 – 4 TUỔI
TRƯỜNG MẦM NON KIM CHUNG ĐÔNG ANH - HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: giáo dục thể chất

HÀ NỘI - 2019


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
**********

LÊ THỊ THANH HUỆ

SỬ DỤNG TRÒ CHƠI VẬN ĐỘNG
PHÁT TRIỂN KHẢ NĂNG PHỐI HỢP
VẬN ĐỘNG CHO TRẺ 3 – 4 TUỔI
TRƯỜNG MẦM NON KIM CHUNG ĐÔNG ANH - HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: giáo dục thể chất
Người hướng dẫn khoa học

ThS. NGUYỄN THỊ HÀ

Sinh viên lớp K41D khoa Giáo dục Mầm non
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Những số
liệu kết quả nghiên cứu của đề tài là hoàn toàn trung thực và không trùng
khớp với bất cứ đề tài nào. Đề tài chưa được công bố trong bất cứ một công
trình khoa học nào.
Hà Nội, Ngày

tháng

năm 2019

Sinh viên

Lê Thị Thanh Huệ


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

S
T
1
3
4
5
6
7
8
9
1
0

H
S
T

G
i
Cán
b
Đ
c
Đ
h
G
o
G
o
G
o
N
x
T
c
T
d
T
c
X
h
Số
t



2.2.1. Phương pháp nghiên cứu và tổng hợp tài liệu................................... 17
2.2.2. Phương pháp phỏng vấn...................................................................... 17
2.2.3. Phương pháp quan sát sư phạm.......................................................... 18
2.2.4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm................................................... 18
2.2.5. Phương pháp kiểm tra sư phạm .......................................................... 18
2.2.6. Phương pháp toán học thống kê ......................................................... 19
2.3. Tổ chức nghiên cứu:............................................................................... 20
2.3.1. Thời gian nghiên cứu: ........................................................................ 20
2.3.2. Đối tượng nghiên cứu.......................................................................... 20
2.3.3 Địa điểm nghiên cứu............................................................................. 21
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.................................................... 22
3.1. Thực trạng công tác giáo dục thể chất và sử dụng trò chơi vận động
cho trẻ 3-4 tuổi ở trường mầm non Kim Chung - Đông Anh - Hà Nội.... 22
3.1.1. Thực trạng về số lượng và trình độ của giáo viên trường mầm non
Kim Chung - Đông Anh - Hà Nội ................................................................. 22
3.1.2. Thực trạng việc sử dụng một số trò chơi vận động cho trẻ 3-4 tuổi
trường mầm non Kim Chung - Đông Anh - Hà Nội .................................... 24
3.1.2.1. Thực trạng tổ chức thể dục sáng cho trẻ 3 - 4 tuổi của trường mầm
non Kim Chung................................................................................................ 24
3.1.2.2. Thực trạng việc dạy học Giáo dục thể chất cho trẻ 3 - 4 tuổi của
trường mầm non Kim Chung........................................................................... 25
3.1.2.3. Thực trạng tổ chức Giáo dục thể chất cho trẻ 3 - 4 tuổi của trường
mầm non Kim Chung trong hoạt động ngoài trời........................................... 26
3.1.2.4. Thực trạng tổ chức Giáo dục thể chất cho trẻ 3 - 4 tuổi của trường
mầm non Kim Chung trong hoạt động củng cố, luyện tập. ............................ 26
3.1.2.5. Thực trạng việc sử dụng một số trò chơi vận động cho trẻ 3-4 tuổi
trường mầm non Kim Chung - Đông Anh - Hà Nội........................................ 27


Đ

2
ản
9
nh
g gi
K
ế
B
t
3

q
1
n
u
g

3pB
Bả
3
ản
8
ng
gp
Ti
Bế
4
ản


T
r
4
4
4
4
4
5


MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Một quốc gia hùng mạnh là một quốc gia có nền giáo dục phát triển. Vì
vậy, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển của đất nước. Đại hội
Đảng khóa IX đã xác định: “Giáo dục và Đào tạo là quốc sách hàng đầu, phát
triển Giáo dục, Đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự
nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa là điều kiện phát huy nguồn lực con
người”.
Thể lực và trí lực là thước đo căn bản dùng để đánh giá năng suất lao
động của mỗi quốc gia. Theo nghiên cứu của Tổ chức Lao động Quốc Tế
(ILO) năm 2013, năng suất lao động của Việt Nam thuộc nhóm thấp nhất
Châu Á - Thái Bình Dương, thấp hơn Singapore gần 15 lần, thấp hơn Nhật
Bản 11 lần và Hàn Quốc 10 lần. So với các nước láng giềng ASEAN có mức
thu nhập trung bình, năng suất lao động của Việt Nam vẫn có khoảng cách
lớn, chỉ bằng một phần năm Malaysia và hai phần năm Thái Lan. Đứng trước
thực trạng đó, vai trò của giáo viên được chú trọng hơn bao giờ hết. Trong đó
giáo dục thể chất (GDTC) là một bộ phận chung của mọi bậc học, kể cả bậc
học nhỏ nhất - Mầm non.
Ở tuổi mầm non, cơ thể trẻ phát triển nhanh nhưng sức đề kháng yếu,

Thực tế cho thấy hiệu quả giờ học GDTC của trẻ tại các nhà trường
mầm non hiện nay vẫn chưa được quan tâm và chú trọng. Vấn đề thể lực của
trẻ chưa được đánh giá cao, điều đó hạn chế rất nhiều khả năng vận động, ảnh
hưởng đến sự phát triển về hình thái và chức năng của trẻ. Nếu lựa chọn và
ứng dụng được các TCVĐ phù hợp và hiệu quả cho trẻ 3-4 tuổi thì sẽ nâng
cao khả năng phối hợp vận động cho trẻ trong nhà trường mầm non, góp phần
đổi mới giáo dục mầm non hiện nay.

2


3


CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Vị trí, vai trò, mục tiêu và nhiệm vụ của giáo dục mầm non trong hệ
thống giáo dục quốc dân
1.1.1. Vị trí, vai trò của giáo dục mầm non
Trong hệ thống Giáo dục quốc dân, Giáo dục mầm non là bậc học đầu
tiên có vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển nguồn lực con người. Nhà
giáo dục người Nga Macarenko A.X đã viết: “Những cơ sở căn bản của việc
giáo dục trẻ đã được hình thành từ trước tuổi lên năm. Những điều dạy cho trẻ
trong thời kì đó, chiếm 90% tiến trình giáo dục trẻ. Về sau, việc giáo dục và
đào tạo con người vẫn tiếp tục, nhưng lúc đó là bắt đầu nếm quả, còn những
nụ hoa đã được vụn trồng trong năm đầu tiên”. Điều đó cho thấy rằng: Việc
nuôi dạy “con người” bắt đầu từ những năm đầu tiên của cuộc sống là một
việc làm hết sức quan trọng và có ý nghĩa lớn lao về nhân văn, xã hội và kinh
tế, nhưng lại vô cùng vất vả và khó khăn.
Trong điều 19 của Luật Giáo dục năm 1998 có viết: “Mục tiêu của

Như vậy, việc chăm sóc giáo dục trẻ ngay từ những năm đầu tiên của
cuộc sống, là một việc làm hết sức cần thiết và có ý nghĩa vô cùng quan trọng,
trong sự nghiệp chăm lo đào tạo và bồi dưỡng thế hệ trẻ trở thành những con
người tương lai của đất nước Việt Nam, một quốc gia đang có những bước
chuyển mạnh mẽ trên con đường xây dựng một xã hội ấm no, văn minh và
hạnh phúc.
1.1.2. Mục tiêu, nhiệm vụ của giáo dục mầm non
Quyết định 55 của Bộ Giáo dục quy định mục tiêu, kế hoạch của nhà
trẻ - mẫu giáo, trang số 6 ghi rõ mục tiêu giáo dục mầm non: “... hình thành ở
trẻ những cơ sở đầu tiên của nhân cách con người mới XHCN Việt Nam” [4]:
- Khỏe mạnh, nhanh nhẹn, cở thể phát triển hài hòa cân đối;

5


- Giàu lòng yêu thương, biết quan tâm, nhường nhịn giúp đỡ những
người gần gũi (bố, mẹ, bạn bè, cô giáo...) thật thà, lễ phép, mạnh dạn, hồn
nhiên;
- Yêu thích cái đẹp, biết giữ gìn cái đẹp và mong muốn tạo ra cái đẹp ở
xung quanh;
- Thông minh, ham hiểu biết, thích tìm tòi khám phá, có một số kỹ
năng sơ đẳng (quan sát, phân tích, tổng hợp, suy luận...) cần thiết để vào
trường phổ thông, thích đi học;
Thực hiện mục tiêu GDMN là chuẩn bị những tiền đề quan trọng, đảm
bảo những điều kiện cần thiết cho việc thực hiện các mục tiêu giáo dục. Để
thực hiện mục tiêu GDMN thì GDTC trong trường mầm non cần thực hiện
các nhiệm vụ sau:
Bảo vệ và tăng cường sức khỏe, đảm bảo sự tăng trưởng hài hòa của
trẻ:
- Rèn luyện cơ thể, nâng cao tính miễn dịch đối với các loại bệnh mà

Trẻ thực hiện các bài tập vận động một cách hợp lý trong các điều kiện khác
nhau và biết kết hợp các bài tập vận động đã học.
Giáo dục nếp sống có giờ giấc, hình thành thói quen vệ sinh;
- Thói quen thường để chỉ những hành động của cá nhân được diễn ra
trong những điều kiện ổn định và thường gắn với nhu cầu cá nhân. Khi đã trở
thành thói quen, mọi hoạt động tâm lý trở nên ổn định, cân bằng và khó loại
bỏ.
- Giáo dục cho trẻ nếp sống có giờ giấc, rèn luyện thói quen ăn, ngủ,
thức đúng giờ và dễ dàng thích nghi khi chuyển từ hoạt động này sang hoạt
động khác. Thói quen này giúp trẻ vào nề nếp, thúc đẩy quý trình tiêu hóa, có
khả năng làm việc cao hơn, tạo điều kiện cho sự phát triển thể chất diễn ra
bình thường và sức khỏe của trẻ được củng cố.
- Rèn luyện các kỹ năng, kỹ xảo vệ sinh có ý nghĩa vô cùng to lớn đối
với việc bảo vệ sức khẻo và tăng cường thể lực. Bởi khi trẻ biết vệ sinh thân
thể, vệ sinh ăn uống, giúp tăng ngăn chặn những ảnh hưởng xấu từ môi
7


trường xung quanh. Tuy nhiên khả năng nhận thức cũng như vận động của trẻ
còn hạn chế nên chúng ta cần hình thành, rèn luyện những thói quen đó một
cách tỉ mỉ, kiên trì trong thời gian dài để thói quen đó được củng cố, ổn định.
1.2. Vị trí, vai trò của môn Giáo dục thể chất
GDTC có vị trí vô cùng quan trọng, là một bộ phận không thể thiếu của
giáo dục quốc dân, là sự phát triển con người toàn diện. Vai trò của GDTC là:
GDTC là cơ sở nên tảng của nền TDTT quốc dân;
GDTC là yếu tố tích cực trong đời sống văn hóa tinh thần;
GDTC là yếu tố căn bản để chuẩn bị cho lao động và sẵn sàng bảo vệ
Tổ quốc;
GDTC làm phong phú đời sống xã hội hiện đại;
1.3. Đặc điểm tâm, sinh lý của trẻ 3-4 tuổi

Hệ tiêu hóa ngày càng hoàn thiện, quá trình hình thành men tiêu hóa
được tăng cường, sự hấp thu thức ăn ngày càng tốt hơn.
Hệ thần kinh ngày càng phát triển, khả năng hoạt động của các tế bào
thần kinh tăng lên, quá trình cảm ứng của vỏ não phát triển, trẻ có thể tiến
hành hoạt động trong thời gian lâu hơn.
Hệ xương hoàn thiện dần, các mô cơ ngày càng phát triển, cơ quan điề
u khiển vận động được tăng cường...Do đó, trẻ có thể tiến hành hoạt động đòi
hỏi sự khéo léo cảu cân, tay và toàn thân.
Qua đó ta thấy trẻ 3-4 tuổi đang phát triển nhưng chưa hoàn thiện, tuy
nhiên trẻ đã có thể tiến hành được những hoạt động đòi hỏi sự khéo léo của
chân, tay và thân. Vì vậy cần lựa chọn các trò chơi vận động phù hợp để nâng
cao khả năng phối hợp vận động cho trẻ.
Từ việc nghiên cứu, tìm tòi dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn, nhận
thức được vai trò to lớn của GDTC với trẻ mầm non, đề tài đã lựa chọn và
ứng dụng một số trò chơi vận động nhằm phát triển khả năng phối hợp vận

9


động cho trẻ 3-4 tuổi trường mầm non Kim Chung - Đông Anh - Hà Nội.
Góp phần nâng cao hiệu quả công tác GDTC cho trường mầm non Kim
Chung, giúp trẻ hào hứng vui chơi, tham gia nhiệt tình, xua tan những căng
thẳng mệt mỏi. Kích thích sự sáng tạo trong học tập và vui chơi, trong quá
trình tham gia trẻ biểu lộ rõ tình cảm niềm vui nỗi buồn khi chiến thắng và
khi thất bại.
1.4. Một số nét đặc trưng của trò chơi vận động
1.4.1. Khái niệm trò chơi vận động
TCVĐ là phương tiện của GDTC, là hoạt động có ý thức, nhằm đạt
được những kết quả, những mục đích có điều kiện đã được đặt ra. TCVĐ
thuộc loại trò chơi có luật, là sự phối hợp giữa các thao tác vận động và một số

năng vận động cho trẻ.
Ngoài ra, TCVĐ dân gian có từ lâu đời thường gắn liền với các bài hát
hay câu thơ. Khi trẻ chơi sẽ phải nhớ những câu thơ, bài hát, cách chơi và luật
chơi đó làm cho ngôn ngữ của trẻ phát triển, vốn từ thêm phong phú và mở
rộng. TCVĐ còn tạo điều kiện để rèn luyện tố chất và phát triển thể lực góp
phần nâng cao nhận thức và giúp trẻ phát triển ngôn ngữ, trí tưởng tượng,...
1.4.3. Đặc điểm, phân loại trò chơi vận động
1.4.3.1. Đặc điểm trò chơi vận động
Hầu hết TCVĐ được sử dụng trong GDTC ở trường mầm non đã mang
tính mục đích một cách rõ ràng.
Trò chơi mang tính tư tưởng rất cao. Trong quá trình chơi trẻ tiếp xúc
với nhau để cùng chơi và hoàn thành nhiệm vụ của trò chơi, điều đó rèn cho
trẻ tinh thần đồng đội, trách nhiệm và lòng nhân ái, tính sáng tạo, tác phong
nhanh nhẹn và hình thành nhân cách cho trẻ.
TCVĐ gồm 3 phần: nội dung chơi, hành động chơi và luật chơi;
- Nội dung chơi: Là nhiệm vụ vận động mà trẻ phải thực hiện.
Ví dụ: Trò chơi “Mèo đuổi chuột”. Trong trò chơi này trẻ thực hiện
nhiệm vụ vận động là chạy và việc chạy này giúp rèn luyện sức khỏe cho trẻ.

11


- Hành động chơi: Là những thao tác vận động mà trẻ thực hiện trong
quá trình chơi.
Ví dụ: Trò chơi “Mèo đuổi chuột”, trẻ thực hiện những thao tác vận
động như đuổi bắt, chui, luồn lách,...
- Luật chơi: Là những quy ước, quy định trẻ phải thực hiện trong lúc
chơi.
Ví dụ: Trò chơi “Mèo đuổi chuột” luật chơi là: mèo không được đón
đầu chuột để bắt mà phải luôn lách đúng lỗ mà chuột đã chạy, nếu mèo bắt

động, không bị ràng buộc hay phụ thuộc bởi các thành viên khác. Trong nhóm
trò chơi này người có thể tham gia cùng lúc hoặc tham gia lần lượt, trong quá
trình chơi có thể thi đua hoặc không thi đua.
- Trò chơi cá nhân chuyển thành đồng đội: là trò chơi ban đầu hoạt
động riêng lẻ, xuất hiện tình huống bất ngờ thì sẽ kết hợp thành nhóm, đội để
cùng nhau để phối hợp hành động, sự kết hợp đó sẽ không ổn định trong suốt
trò chơi.
- Trò chơi đồng đội: Các trò chơi thuộc nhóm này mang tính chất thi
đua của cả tập thể có đặc điểm là mỗi hành động dẫn tới thành công hay thất
bị đều ảnh hưởng đến các nhân người thực hiện và cả tập thể đó.
1.4.4. Một số hạn chế khi áp dụng trò chơi vận động cho trẻ 3-4 tuổi
Giáo viên khó có thể kiểm soát được lượng vận động khi tiến hành
TCVĐ cho trẻ.
Một số trẻ tham gia TCVĐ vượt quá khả năng chịu đựng dễ xảy ra tai
nạn hoặc chấn thương ngoài ý muốn.
Nhiều trẻ tham gia trò chơi một cách hời hợt, không tích cực tham gia
trò chơi dẫn đến không phát huy được hết hiệu quả của TCVĐ mang lại.

13


Đôi khi trẻ nhốn nháo dẫn đến giáo viên rất khó kiểm soát tốt được
toàn bộ lớp học nên chưa phát huy được các ưu điểm mà TCVĐ mang đến.
Vì vậy việc lựa chọn và sử dụng có hiệu quả TCVĐ cho trẻ 3-4 tuổi là
rất quan trọng.
1.5. Cơ sở giáo dục khả năng phối hợp vận động
1.5.1. Khái niệm khả năng phối hợp vận động
Theo từ điển Tiếng Việt: Khả năng: Là có thể, có lẽ.
Theo tác giả Nguyễn Quốc Hùng: Khả năng: Là có thể làm được.
Theo triết học Mác - Lênin: Khả năng là “cái hiện chưa có” nhưng bản

nhanh chóng.
Sử dụng các bài tập làm phương tiện phát triển năng lức phối hợp vận
động thì người tập cần phải thực hiện một cách chính xác và thường xuyên để
kiểm tra tính chính xác một cách có ý thực.
Cần sử dụng các biện pháp nhầm nâng cao yêu cầu về khả năng phối
hợp vận động của các bài tập như:
- Đa dạng hóa việc thực hiện động tác: Bật cao, bật co gối, nhảy với các
động tác tay kết hợp khác nhau.
- Kết hợp với các dụng cụ có độ khó tăng dần, trọng lượng khác nhau,...
- Phối hợp các kỹ thuật kỹ xảo với nhau: sử dụng các động tác với dụng
cụ
thể dục, thể dục nghệ thuật hoặc các môn bóng (bóng đá - chạy, ném, tung,
bắt,...).
- Thực hiện các động tác cần yêu cầu về thời gian: Cố gắng thực hiện
trong thời gian ngắn nhất nhanh nhất có thể để phát triển năng lực phản ứng,
định hướng, kết hợp vận động.
- Thực hiện các bài tập có yêu cầu cao về phối hợp vận động khi đã
xuất hiện dấu hiệu mệt mỏi.
15



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status