VIỆN HẦN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHAN ĐĂNG HẢI
QUẢN TRỊ CÔNG TY NIÊM YẾT
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 938.01.07
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI – 2019
Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Người hướng dẫn khoa học:
1. TS. Hồ Ngọc Hiển
2. TS. Nguyễn Văn Tuyến
Phản biện 1: GS.TS. Nguyễn Thị Mơ
Phản biện 2: PGS.TS. Dương Đăng Huệ
Phản biện 3: PGS.TS. Phạm Thị Giang Thu
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện họp tại
Học viện Khoa học Xã hội
vào hồi ..........giờ…………phút, ngày……tháng……….năm………
định mà không cần có sự đồng ý của tất cả các cổ đông trong công ty và hậu quả
là sự phá sản của nhiều công ty, hoạt động quản trị công ty (QTCT) đã lần đầu
tiên được quan tâm. Câu chuyện sụp đổ Phố Wall vào năm 1929 là một minh
chứng rõ nét nhất, khởi đầu cho các cuộc tranh luận bất tận về vai trò của cổ đông
và của người quản lý, về quyền sở hữu và quyền kiểm soát. Xu hướng phát triển
cũng như toàn cầu hóa làm xuất hiện những công ty quy mô lớn mà trong đó những
người chủ sở hữu công ty thường không phải là các nhà quản lý, điều này khiến
cho việc kiểm soát càng trở nên khó khăn hơn. Những cuộc xung đột lợi ích xảy
ra khi các cổ đông – chủ sở hữu nhận ra rằng những người quản lý – người đại
diện không thực hiện tối đa hóa lợi ích của cổ đông mà chỉ tập trung gia tăng lợi
nhuận cho chính bản thân họ.
Đối với các công ty niêm yết (CTNY), do vai trò quan trọng xuất phát từ
đặc thù về quy mô cũng như mức độ ảnh hưởng đối với tính ổn định và bền vững
của toàn bộ nền kinh tế, vấn đề QTCT đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Các nghiên
cứu đều chỉ ra rằng quản trị công ty niêm yết (QTCTNY) phức tạp hơn nhiều so
với QTCT thông thường do những vấn đề như: cơ cấu chủ sở hữu đa dạng, thông
tin bất cân xứng, các điều kiện về niêm yết chứng khoán, về chế độ công bố thông
tin và các quy định khác trên thị trường chứng khoán chặt chẽ hơn.
Trong thời gian qua ở Việt Nam, nhiều văn bản quy phạm pháp luật đã
được ban hành nhằm xây dựng khuôn khổ pháp lý cho hoạt động quản trị công ty
niêm yết như: Luật Chứng khoán 2006 (sửa đổi, bổ sung 2010), Luật doanh nghiệp
2014, Nghị định 71/2017/NĐ-CP về quản trị công ty đối với công ty đại chúng và
Thông tư 95/2017/TT-BTC hướng dẫn Nghị định 71/2017/NĐ-CP. Theo những
đánh giá chung, việc đảm bảo thực thi các quy định pháp luật về quản trị công ty
vẫn còn nhiều tồn tại, chưa nói tới việc áp dụng các thông lệ quốc tế mới đang chỉ
2
ở giai đoạn bắt đầu. Có nhiều nguyên nhân dẫn tới thực trạng này nhưng một vấn
đề không thể không nhắc tới đó là sự thiếu hoàn thiện của các quy định pháp luật.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là pháp luật QTCTNY, cụ thể là các tư
liệu liên quan đến QTCTNY, những vấn đề lý luận về QTCT nói chung và
QTCTNY nói riêng, những vấn đề lý luận về pháp luật QTCTNY, thực trạng quy
định pháp luật và tình hình thực thi pháp luật QTCTNY ở Việt Nam. Trong quá
trình nghiên cứu, pháp luật của các quốc gia, đặc biệt là các Bộ quy tắc QTCT trên
thế giới cũng được tác giả quan tâm. Trên cơ sở đó, rút ra những kết luận, kinh
nghiệm cho quá trình hoàn thiện pháp luật QTCTNY ở Việt Nam hiện nay.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Về lý luận, luận án nghiên cứu các quan điểm về QTCT, QTCTNY, pháp
luật QTCTNY hiện có trên thế giới, tập trung vào các quốc gia mà lý luận về
QTCT, pháp luật QTCT phát triển.
Về thực tiễn, luận án tập trung nghiên cứu thực trạng pháp luật QTCTNY
ở Việt Nam thông qua các quy định của pháp luật doanh nghiệp và pháp luật chứng
khoán. Bên cạnh đó, luận án có phân tích, bình luận một số quy định pháp luật của
Đức, Anh, Mỹ, Australia, Nhật Bản và Bộ nguyên tắc QTCT của OECD để rút ra
các bài học kinh nghiệm cần thiết cho quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật
ở Việt Nam.
Về thời gian, luận án tập trung nghiên cứu về pháp luật QTCTNY từ năm
2005 – thời điểm những quan niệm về QTCT dần được hình thành ở Việt Nam và
xuất hiện các văn bản pháp luật đầu tiên điều chỉnh trực tiếp đến vấn đề QTCTNY.
4.1. Phương pháp luận nghiên cứu
Đề tài được hình thành trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác –
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng và Nhà nước về hoàn thiện
4
thể chế kinh tế thị trường trong điều kiện hội nhập quốc tế. Cơ sở phương pháp
luận của luận án là chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
định và cơ chế thực hiện các quy định đó. Trong quá trình phân tích, đánh giá,
luận án có so sánh pháp luật Việt Nam với pháp luật nước ngoài và các thông lệ
quốc tế để có được nhận định khách quan và khoa học.
Thứ năm, luận án đã xác định rõ các yêu cầu đặt ra trong việc hoàn thiện
pháp luật QTCTNY cũng như đề xuất các kiến nghị hoàn thiện nội dung pháp luật
và các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật QTCTNY.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Cho đến thời điểm hiện tại, luận án là công trình nghiên cứu đầu tiên với
cấp độ là một luận án tiến sĩ đã nghiên cứu chuyên sâu cả vấn đề lý luận và thực
tiễn của pháp luật QTCTNY.
Luận án là nguồn tài liệu tham khảo cho sinh viên các trường đại học, những
nhà nghiên cứu khoa học pháp lý, nhà quản lý trong học tập và công tác hoạch
định chính sách và ban hành pháp luật của Việt Nam.
7. Cơ cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận
án gồm có 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu.
Chương 2: Những vấn đề lý luận về QTCTNY và pháp luật QTCTNY.
Chương 3: Thực trạng pháp luật QTCTNY ở Việt Nam.
Chương 4: Hoàn thiện pháp luật QTCTNY ở Việt Nam hiện nay.
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Thông qua việc tìm hiểu các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài, tác
giả đã tổng hợp các công trình nghiên cứu thành 3 nhóm: i) Các công trình nghiên
6
cứu lý luận về QTCTNY; ii) Các công trình nghiên cứu về pháp luật QTCTNY;
iii) Các công trình nghiên cứu về thực trạng pháp luật quản trị công ty niêm yết ở
đến thực trạng pháp luật QTCTNY ở Việt Nam, dù là nghiên cứu tổng quát hay
các nội dung nhỏ, thì đa phần lại dựa trên các văn bản quy phạm pháp luật đã hết
hiệu lực tính đến thời điểm hiện tại.
- Về các giải pháp hoàn thiện: Do thiếu những nghiên cứu một cách toàn
diện, trực tiếp và cập nhập liên quan đến pháp luật QTCTNY nên những giải pháp
hoàn thiện khung pháp luật điều chỉnh đối với QTCTNY cũng chưa được các công
trình nghiên cứu thực hiện.
1.2. Cơ sở lý thuyết nghiên cứu
1.2.1. Lý thuyết người đại diện (Agency Theory)
Trong tác phẩm Bàn về tài sản quốc gia, Adam Smith (1776) đã lần đầu
tiên đặt ra thách thức cơ bản đằng sau tất cả các vấn đề của QTCT đó chính là vấn
đề dại diện. Jensen và Meckling (1976) giải thích như sau: Lý thuyết đại diện liên
quan đến một hợp đồng theo đó một hoặc vài người (cổ đông) giao cho người khác
(thành viên Hội đồng quản trị) thay mặt họ thực hiện một số dịch vụ, trong đó có
việc ủy quyền ra quyết định cho đại diện. Nếu cả hai bên trong mối quan hệ này
là những người muốn tối đa hóa lợi ích, chúng ta có lý do để tin rằng đại diện sẽ
không luôn luôn hành động vì lợi ích của người chủ.
1.2.2. Lý thuyết người quản lý (Stewardship Theory)
Davis và Donaldson (1991) cho rằng những nhà quản lý được xem là những
người giỏi trong quản lý sẽ hoạt động vì lợi ích tốt nhất của cổ đông. Những thành
viên Hội đồng quản trị này sau đó sẽ là những nhà quản lý, hay người quản gia
(steward) cho lợi ích của họ. Các thành viên Hội đồng quản trị báo cáo cho cổ
đông về kết quả của việc quản lý đó như một trách nhiệm của người quản lý lợi
ích cho cổ đông. Niềm tin rằng có thể tin tưởng vào thành viên Hội đồng quản trị
là niềm tin cố hữu trong khái niệm về công ty.
1.2.3. Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder Theory)
8
Lý thuyết các bên liên quan được phát triển bởi Freeman (1984) với nội
đặc trưng của pháp luật QTCTNY, cũng như đưa ra các yêu cầu trong việc hoàn
thiện pháp luật QTCTNY ở Việt Nam.
Chương 2
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY NIÊM YẾT VÀ
PHÁP LUẬT QUẢN TRỊ CÔNG TY NIÊM YẾT
2.1. Những vấn đề lý luận về quản trị công ty niêm yết
2.1.1. Khái niệm công ty niêm yết
CTNY là công ty đại chúng có cổ phiếu được niêm yết tại Sở giao dịch
chứng khoán hoặc Trung tâm giao dịch chứng khoán. Để nhận biết về CTNY,
ngoài những đặc điểm chung của công ty cổ phần thông thường, CTNY còn có
một số đặc điểm riêng như sau: i) CTNY có cổ phiếu được niêm yết giao dịch trên
các Sở giao dịch chứng khoán hoặc Trung tâm giao dịch chứng khoán; ii) CTNY
có cơ cấu tổ chức nội bộ phức tạp hơn so với công ty cổ phần; iii) CTNY chịu sự
điều chỉnh của pháp luật doanh nghiệp và pháp luật chứng khoán; iv) CTNY chịu
sự quản lý của Sở giao dịch chứng khoán và Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước.
2.1.2. Các quan điểm về quản trị công ty
Theo nghĩa hẹp, QTCT được hiểu như là chế định về quản lý nội bộ công
ty, phản ánh mối quan hệ giữa các cổ đông và Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc.
Ý tưởng này xuất phát từ một vấn đề muôn thưở của QTCT – vấn đề đại diện.
Theo nghĩa rộng, QTCT là hệ thống các quy định, các cơ chế giúp cho các
công ty có thể thu hút vốn, hoạt động hiệu quả, đạt được mục tiêu của công ty,
đáp ứng được yêu cầu của pháp luật và mong đợi chung của xã hội. Theo đó,
QTCT xác định trách nhiệm và quyền hạn của các chủ thể là cổ đông, Đại hội
đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc điều hành và những người có liên
quan khác của công ty, đồng thời lập ra các nguyên tắc và thủ tục để ra những
quyết định về các vấn đề phát sinh của công ty.
10
Với hai cách hiểu như trên về QTCT, tác giả đồng tình với cách hiểu QTCT
quan đến công ty: không chỉ có các chủ nợ, các nhà đầu tư mà còn bao gồm các
nhân viên, các nhà cung cấp, các khách hàng, các cơ quan pháp luật, các cơ quan
chức năng của nhà nước và các cộng đồng địa phương nơi công ty hoạt động.
2.1.5. Các mục tiêu của quản trị công ty niêm yết
QTCTNY được coi là thành công khi đạt được các mục tiêu sau đây:
Thứ nhất, đảm bảo tính thích nghi của hệ thống QTCT. Mục tiêu này hướng
tới đảm bảo hình thành một môi trường QTCT phù hợp với các giá trị xã hội và
tạo lợi nhuận kinh tế dài hạn.
Thứ hai, gia tăng giá trị và bảo vệ quyền lợi của cổ đông. Hoạt động QTCT
trước hết phải tạo ra lợi nhuận kinh tế dài hạn để gia tăng giá trị của cổ đông (nhà
đầu tư) nhằm thu hút vốn trong điều kiện cạnh tranh toàn cầu về vốn.
Thứ ba, điều hoà lợi ích của các bên liên quan. Sự thành công của khung
quản trị hiệu quả gắn liền với khả năng điều hoà lợi ích giữa Hội đồng quản trị,
Giám đốc, các bên liên quan với lợi ích của cổ đông.
Thứ tư, tăng tính độc lập của Hội đồng quản trị và cơ chế kiểm soát. Hội
đồng quản trị và các cơ chế kiểm soát khác có trách nhiệm bảo vệ và chống lại sự
lừa dối, lãng phí tài sản hay hoạt động kém hiệu quả của Ban Giám đốc hoặc các
cán bộ quản lý.
2.2. Những vấn đề lý luận về pháp luật quản trị công ty niêm yết
2.2.1. Sự cần thiết điều chỉnh bằng pháp luật đối với quan hệ quản trị
công ty niêm yết
Việc điều chỉnh bẳng pháp luật đối với quan hệ QTCTNY là thực sự cần
thiết xuất phát từ những lý do chính sau đây: i) QTCT nói chung và QTCT đối với
CTNY nói riêng có vai trò hết sức quan trọng, gây ảnh hưởng lớn tới đời sống
kinh tế - xã hội. Pháp luật QTCTNY ra đời và phát triển để đáp ứng nhu cầu đó;
ii) Xuất phát từ tính không hoàn chỉnh của hợp đồng trong mối quan hệ QTCT nói
chung và QTCTNY nói riêng; iii) Pháp luật QTCTNY tạo dựng hành lang pháp
12
13
quy định pháp luật về ngăn ngừa xung đột lợi ích; iv) Các quy định pháp luật về
chế độ báo cáo và công bố thông tin; v) Các quy định pháp luật về giám sát và xử
lý vi phạm.
2.2.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật quản trị công ty niêm yết
Các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật QTCTNY là tiền đề quan trọng cho sự
hình thành và phát triển của pháp luật QTCTNY ở các quốc gia cũng như ở Việt
Nam, bao gồm: i) Cơ chế quản lý kinh tế của quốc gia; ii) Điều kiện kinh tế - xã
hội của quốc gia; iii) Các thiết chế bổ trợ cho pháp luật quản trị công ty; iv) Xu
hướng hội nhập kinh tế quốc tế.
2.2.5. Xu hướng phát triển của pháp luật quản trị công ty niêm yết trên
thế giới và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam
Xác định chủ thuyết về quản trị công ty niêm yết: Liên quan tới mục đích
công ty, trên thế giới cũng xuất hiện hai học thuyết với hai quan điểm đối lập nhau,
đó là học thuyết giá trị cổ đông (shareholder value theory) và học thuyết giá trị
các bên liên quan (stakeholder value theory). Về cơ bản, các quy định pháp luật
QTCTNY ở Việt Nam hiện nay chưa làm rõ được mục đích của công ty. Chỉ trên
cơ sở xác định mục đích của công ty là gì, khuôn khổ pháp lý cho QTCTNY mới
có thể xây dựng một cách thống nhất và nhất quán.
Xây dựng mô hình quản trị công ty niêm yết: Khi nghiên cứu về mô hình
quản trị của các công ty cổ phần nói chung trên thế giới, có hai mô hình cơ bản,
đó là cấu trúc hội đồng hai cấp (dual board hay two-tier board model) và hội
đồng một cấp (unitary board hay one-tier board model). Việc tổ chức theo mô
hình nào tùy thuộc vào điều kiện thực tế và truyền thống, cơ chế pháp lý của
từng nước. Ở Việt Nam hiện nay, có 02 mô hình QTCT mà các CTNY có thể
lựa chọn. Dù tồn tại ở mô hình nào đi chăng nữa, những vấn đề đặt ra ở bất kỳ
quốc gia nào, đó là: i) Phân định rõ thẩm quyền của từng cơ quan trong mô hình
QTCTNY; ii) Gia tăng chất lượng của những người quản lý, điều hành, giám sát
Thứ ba, nhóm các quy định, quy tắc QTCTNY khác: nằm rải rác trong Nghị
định 71/2017/NĐ-CP và Thông tư 95/2017/TT-BTC với các nội dung mang tính
nguyên tắc, khuyến nghị trong hoạt động QTCTNY.
3.1.1. Thực trạng các quy định pháp luật về bảo vệ quyền cổ đông
Qua nghiên cứu các quy định hiện hành, luận án nhận thấy các quyền cơ
bản của cổ đông CTNY đã được ghi nhận tương đối đầy đủ, nhấn mạnh vào 3 vấn
đề quan trọng là: quyền kiểm soát công ty, quyền được đảm bảo công bằng, quyền
bảo vệ các quyền lợi hợp pháp của mình. Mặc dù vẫn còn tồn tại những điểm chưa
thống nhất liên quan đến việc xác định cổ đông thiểu số, quyền khởi kiện phái
sinh, cơ chế liên kết tạo thành nhóm cổ đông... nhưng có thể thấy quy định về
quyền cổ đông đã có sự hoàn thiện nhất định, tạo điều kiện để cổ đông có thể sử
dụng để bảo vệ mình trên thực tế.
3.1.2. Thực trạng các quy định pháp luật về mô hình quản trị công ty
niêm yết
Về hai mô hình quản trị công ty niêm yết: Luật Doanh nghiệp đã tạo điều
kiện cho các công ty linh hoạt hơn trong quản lý, tăng trách nhiệm cho các cổ
đông trong môi trường xã hội và kinh doanh thay đổi. Tuy nhiên, điểm hạn chế
hiện nay là việc chưa có nhiều quy định hay hướng dẫn cụ thể cho mô hình QTCT,
đặc biệt đối với CTNY khi đưa ra những yêu cầu giống nhau cho dù 2 mô hình có
khá nhiều điểm khác biệt nhau.
Về Đại hội đồng cổ đông: Nhìn chung, pháp luật Việt Nam về chức năng,
vai trò, nhiệm vụ của Đại hội đồng cổ đông phù hợp với lý thuyết đại diện và có
nhiều nét tương đồng với thông lệ quốc tế.
Về Hội đồng quản trị: Do đóng vai trò quan trọng trong công ty, các quy
định pháp luật dành nhiều sự quan tâm cho Hội đồng quản trị, đặc biệt là đối với
CTNY. Các quy định liên quan đến tư cách thành viên Hội đồng quản trị, số lượng
16
và cơ cấu thành viên trong Hội đồng quản trị, cuộc họp Hội đồng quản trị, các tiểu
đối tượng cần kiểm soát nhằm ngăn ngừa các giao dịch có nguy cơ tư lợi trong
công ty; ii) Quy định về kiểm soát giá trị của giao dịch chưa rõ ràng và bộc lộ
nhiều hạn chế; iii) Việc áp dụng các biện pháp cần thiết để ngăn ngừa những tổn
hại lợi ích chỉ tập trung vào lợi ích của công ty.
3.1.4. Thực trạng các quy định pháp luật về chế độ báo cáo và công bố
thông tin
Thông tin và cách thức công bố thông tin được theo quy định của pháp luật
Việt Nam tương đối rõ ràng khiến cho việc công bố thông tin được thực hiện, bảo
đảm cổ đông và công chúng có thể tiếp cận công bằng.
3.1.5. Thực trạng các quy định về giám sát và xử lý vi phạm
Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước là chủ thể có trách nhiệm giám sát nội dung
liên quan đến QTCT của các CTNY. Chế tài được áp dụng chủ yếu đối với những
hành vi vi phạm pháp luật về QTCT là chế tài hành chính. Với mức phạt không
lớn, tính răn đe đối với doanh nghiệp, các cá nhân vi phạm là không cao. Trong
khi đó, những hệ quả có thể xảy ra, bao gồm ảnh hưởng đến quyền lợi nhà đầu tư
do tiếp cận không đầy đủ thông tin có thể tác động lên giá cổ phiếu, mất niềm tin
về công ty.
Tóm lại, khung pháp luật về QTCTNY ở Việt Nam về cơ bản đã được đảm
bảo. Các quy định pháp luật QTCTNY đã đáp ứng yêu cầu khắt khe của hoạt động
QTCTNY bằng việc đặt ra những điều kiện cao hơn so với pháp luật QTCT thông
thường. Ngoài ra, pháp luật Việt Nam trong thời gian gần đây là đã có những bước
tiến trong việc tiếp cận các chuẩn mực quốc tế về QTCT, thể hiện qua các yêu
cầu, nguyên tắc và chuẩn mực quốc tế về QTCT đã từng bước được nội luật hóa
trong các văn bản pháp luật của Việt Nam. Tuy nhiên, khung pháp luật về
QTCTNY vẫn còn nhiều bất cập liên quan đến cấu trúc và mô hình quản trị, chức
năng, nhiệm vụ và thẩm quyền của các cơ quan nội bộ công ty, cơ chế bảo vệ
quyền và lợi ích của cổ đông, cơ chế kiểm soát và ngăn ngừa các giao dịch tiềm
ẩn xung đột lợi ích, vấn đề minh bạch và công bố thông tin...
19
đủ công bố thông tin là không nhiều. Trong số các trường hợp không đạt chuẩn
công bố thông tin, những trường hợp vi phạm phổ biến là: i) Các vi phạm liên
quan đến công bố báo cáo tài chính; ii) Các vi phạm hí liên quan đến kỳ họp Đại
hội đồng cổ đông; iii) Các vi phạm liên quan đến công bố Báo cáo QTCT.
Tổng kết lại, những tồn tại về QTCTNY ở Việt Nam bắt nguồn từ những
nguyên nhân chính sau:
Thứ nhất, yếu tố lịch sử, văn hóa kinh doanh: sự xuất hiện của các cổ đông
kiểm soát là Nhà nước và cơ cấu sở hữu cổ phần tập trung. Từ ảnh hưởng về lịch
sử, văn hóa kinh doanh ở Việt Nam, thực tế QTCTNY nảy sinh các vấn đề tồn tại
sau: i) Ít có sự phân chia giữa quyền sở hữu và quyền quản lý; ii) Cơ chế kiểm
soát lỏng lẻo; iii) Thiếu sự công khai, minh bạch trong hoạt động QTCT:
Thứ hai, hoạt động xây dựng pháp luật: Yêu cầu của việc hoàn thiện pháp
luật cũng dẫn tới vấn đề là các quy định pháp luật được xây dựng theo hướng tiến
bộ, tiệm cận thông lệ quốc tế, tạo ra khoảng cách rất xa giữa các quy định pháp
luật và khả năng thực thi của các CTNY. Bên cạnh đó, pháp luật QTCTNY vẫn
còn tồn tại những bất cập, điều này tạo ra những mâu thuẫn, chồng chéo trong hệ
thống, xuất hiện khó khăn trong quá trình thực thi pháp luật QTCTNY.
Thứ ba, hoạt động của cơ quan, tổ chức liên quan đến QTCTNY: các cơ
quan nhà nước có thẩm quyền chưa thể hiện được rõ nét vai trò cũng như hiệu quả
trong việc giám sát và cưỡng chế thực thi pháp luật QTCTNY; thiếu sự tồn tại và
tham gia của các tổ chức trung gian hỗ trợ hoạt động QTCT.
Thứ tư, nhận thức của CTNY đối với hoạt động QTCT: nhận thức chung
đối với QTCTNY vẫn còn hạn chế; không ít trường hợp xuất phát từ sự thiếu ý
thức tôn trọng các quy định pháp luật QTCTNY.
Chương 4
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT QUẢN TRỊ CÔNG TY NIÊM YẾT Ở
VIỆT NAM HIỆN NAY
21
Thứ ba, hướng tới ban hành một Bộ quy tắc QTCT đúng nghĩa áp dụng cho
CTNY nhằm hoàn thiện khuôn khổ quy định về QTCT cho thị trường chứng khoán
Việt Nam. Cần xác định rõ nội dung nào nên được Luật hóa, nội dung nào nên
được quy định tại Bộ quy tắc QTCTNY.
4.2.2. Các kiến nghị nhằm hoàn thiện nội dung pháp luật quản trị công
ty niêm yết ở Việt Nam
Về bảo vệ quyền cổ đông: Sửa đổi, bổ sung các quy định: i) tỷ lệ nắm giữ
cổ phần phổ thông của cổ đông để thực hiện quyền đề cử người vào Hội đồng
quản trị, Ban kiểm soát; ii) tỷ lệ sở hữu cổ phần của cổ đông để thực hiện quyền
khởi kiện đối với thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc (Tổng Giám đốc); iii)
cơ chế đảm bảo cho việc liên kết tạo thành nhóm cổ đông; iv) tính công bằng đối
với cổ phần ưu đãi biểu quyết.
Về mô hình quản trị công ty:
- Cần hướng dẫn cụ thể cho từng mô hình QTCT.
- Nhóm các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về Đại hội đồng cổ
đông: Sửa đổi, bổ sung các quy định về thời gian thông báo mời họp, hình thức
mời họp Đại hội đồng cổ đông, tỷ lệ xác định cuộc họp diễn ra hợp lệ, hiệu lực
của Nghị quyết Đại hội đồng cổ đông
- Nhóm giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về Hội đồng quản trị: Sửa
đổi, bổ sung các quy định về cơ cấu Hội đồng quản trị, về thẩm quyền, trách
nhiệm, điều kiện, tiêu chuẩn và nhiệm kỳ của thành viên độc lập Hội đồng quản
trị.
- Nhóm giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về Ban kiểm soát: Sửa đổi,
bổ sung các quy định về tính độc lập Ban kiểm soát trong CTNY, về thẩm quyền
và trách nhiệm của Ban kiểm soát, về điều kiện, tiêu chuẩn của Kiểm soát viên.
- Về quy định về người đại diện theo pháp luật: Bổ sung các quy định làm
rõ hơn trong trường hợp có nhiều hơn một người đại diện theo pháp luật và dành
Thứ ba, khuyến khích thành lập các tổ chức bảo vệ quyền cổ đông.
4.3.3. Nhóm giải pháp đối với các công ty niêm yết