Đề tài:
“Một số biện pháp rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 1”
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong sự nghiệp phát triển chung của đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm
đến giáo dục, xem giáo dục là quốc sách hàng đầu, bởi “Giáo dục là chìa khóa mở cửa
tiến vào tương lai”. Việc đổi mới nội dung chương trình cũng như phương pháp dạy học
và giáo dục là một đòi hỏi khách quan đối với nền giáo dục nước nhà trong giai đoạn hiện
nay. Đáp ứng đòi hỏi đó, giáo dục chủ trương nhấn mạnh mục tiêu đào tạo con người phát
triển toàn diện, có đức, có tài, có khả năng thích ứng với đời sống, biết vận dụng sáng tạo
những kiến thức đã học vào đời sống học tập cũng như đời sống xã hội.
Giáo dục Tiểu học tạo tiền đề cơ bản để nâng cao dân trí, là cơ sở ban đầu hết sức
quan trọng để đào tạo thế hệ trẻ trở thành người có ích trong giai đoạn mới. Hiện nay ở
nhà trường Tiểu học, việc rèn kỹ năng đọc rất quan trọng. Kỹ năng đọc là sự khởi đầu
giúp cho học sinh chiếm lĩnh một công cụ mới để sử dụng trong học tập và trong giao
tiếp. Nếu kỹ năng viết được coi là phương tiện ưu thế nhất trong hệ thống ngôn ngữ thì kỹ
năng đọc có một vị trí quan trọng không thiếu được trong chương trình môn Tiếng Việt ở
bậc Tiểu học. Cùng với kỹ năng viết, kỹ năng đọc có nhiệm vụ lớn lao là trao cho các em
cái chìa khóa để vận dụng chữ viết trong học tập. Khi biết đọc, biết viết các em có điều
kiện nghe lời thầy giảng trên lớp, sử dụng sách giáo khoa, sách tham khảo. Từ đó có điều
kiện học tốt các môn học khác có trong chương trình.
Ở lớp Một các em học sinh bắt đầu làm quen với: nghe, nói, đọc, viết. Và kỹ năng đọc
rất quan trọng, nếu kỹ năng đọc được rèn luyện tốt, hình thành tốt ở các em nó sẽ giúp các
em đọc tốt suốt cả cuộc đời, giúp các em phát triển tư duy, cảm nhận cái hay, cái đẹp
trong mỗi bài học, hiểu được nghĩa của tiếng, từ, câu, đoạn văn, bài văn mình vừa đọc,
hiểu được các lệnh, các yêu cầu trong các môn học khác. Mặt khác ở lớp Một, các em
được tập đọc thành thạo, đọc đúng, đọc trôi chảy thì khi lên các lớp trên các em sẽ học
vững vàng, học tốt hơn. Chính vì những lí do nêu trên mà tôi đã chọn đề tài sáng kiến
kinh nghiệm: “Một số biện pháp rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 1.”
1. Mục đích đề tài:
a) Đối tượng nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Tìm đọc các tài liệu, giáo trình có nội dung rèn kĩ
năng đọc cho học sinh.
- Phương pháp khảo sát thực tế từng học sinh: cho học sinh đọc bài để nắm bắt tình
hình đọc của các em.
.
- Phương pháp quan sát: Quan sát thái độ học tập của học sinh, quan sát các hoạt động
được tổ chức theo nhóm đôi, nhóm 4.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Tổ chức so sánh, đối chiếu kết quả trước và sau khi
thực hiện các biện pháp để thấy được kết quả cũng như hạn chế nhằm tìm ra hướng điều
chỉnh, khắc phục hợp lí.
2
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: phương pháp này được sử dụng để kiểm tra, đánh
giá hiệu quả một số biện pháp rèn kĩ năng đọc cho học sinh, từ đó nâng cao hiệu quả giờ
học môn Tiếng Việt.
- Phương pháp thống kê toán học: thống kê số liệu học sinh trước và sau khi thực hiện các
biện pháp để thấy được sự tiến bộ của học sinh.
b) Giới hạn của đề tài
Đề tài nghiên cứu để tìm ra các biện pháp hữu ích để rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 1A.
II. THỰC TRẠNG
1. Thuận lợi
- Trường Tiểu học Ninh Lộc gồm có 26 lớp, gồm 4 điểm trường (điểm Mỹ Lợi, điểm Tam
Ích, điểm Phong Thạnh, điểm Tân Thủy). Môi trường học tập tương đối thuận lợi, được
sự quan tâm của chính quyền địa phương và các bậc phụ huynh.
- Lớp học có sĩ số học sinh là 21 em, thuận lợi cho việc kiểm tra, phát hiện lỗi sai kịp thời
để sửa chữa và khắc phục lỗi phát âm cho học sinh.
- Giáo viên có kế hoạch rèn kĩ năng đọc cho học sinh ngay từ tuần đầu năm học.
(thống kê phân loại học sinh đọc chậm, mắc lỗi để theo dõi thường xuyên)
2. Khó khăn
giúp học sinh phát âm dễ dàng hơn khi học ngoại ngữ và học các môn học khác.
II. CÁC GIẢI PHÁP, BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
1. Biện pháp tác động giáo dục:
- Từ thực trạng trên tôi đã tiến hành họp phụ huynh học sinh đầu năm học: đề nghị và
yêu cầu thống nhất trang bị đầy đủ sách vở, đồ dùng cần thiết phục vụ cho môn học.
- Yêu cầu phụ huynh thường xuyên nhắc nhở việc học bài đọc bài ở nhà của con em mình,
đồng thời hướng dẫn phụ huynh cơ bản về cách đọc, cách phát âm chữ cái, cách đánh vần
vần, đánh vần tiếng,…để phụ huynh nắm rõ cách dạy học, hỗ trợ giáo viên kèm cặp con
em mình ở nhà.
- Tham mưu với nhà trường để giáo viên có đủ tài liệu tham khảo, đồ dùng dạy học, tự
làm thêm tranh ảnh mô hình, sưu tầm thêm những mô hình vật thật để tiết dạy vui, sinh
động. Đồng thời mượn đồ dùng học tập, sách giáo khoa cho học sinh có hoàn cảnh khó
khăn.
- Xây dựng đôi bạn học tốt – chậm tiến giúp nhau.
- Giáo viên có thể cho học sinh đọc chậm để ngồi gần với một học sinh đọc tốt.
- Bồi dưỡng, luyện tập cho học sinh sau khi phân loại học sinh ngay từ đầu năm.
2. Phần học các nét cơ bản, âm, vần, tập đọc:
2.1. Các nét cơ bản:
Giáo viên nên dạy thật kỹ, thật tỉ mỉ tên gọi và cách viết các nét cơ bản. Để cho học
sinh dễ hiểu, dễ nhớ những nét chữ này tôi phân theo cấu tạo các nét có tên gọi và cấu tạo
gần giống nhau thành từng nhóm để học sinh dễ nhận biết và so sánh. Dựa vào các nét cơ
bản này mà học sinh phân biệt được chữ cái, kể cả những chữ cái có hình dáng cấu tạo
giống nhau.
VD: Các nét chữ cơ bản và tên gọi:
+ Nét sổ thẳng
4
+ Nét ngang
Nhóm 1: Nét xiên
báo như chữ a, chữ g thì tôi phân tích cho học sinh hiểu và nhận biết đó cũng là chữ a hay
chữ g để khi gặp kiểu chữ đó được in trong sách báo học sinh dễ hiểu, dễ đọc không bị
lúng túng.
Trong từng tiết học, từng bài ôn tôi luôn tìm đủ cách để kiểm tra phát hiện sự tiến bộ của
học sinh thông qua các bài đọc, các giờ chơi, giờ nghỉ,... từ đó củng cố thêm kiến thức
cho các em.
2.3. Phần học vần:
Sang giai đoạn học vần học sinh đã nắm vững các âm, các em còn được làm quen với
các kiểu chữ hoa: chữ viết hoa, chữ in hoa nên tôi tập cho học sinh nhận biết các kiểu chữ
hoa một cách chính xác để các em đọc đúng.
Để giúp trẻ học tốt phần vần, tôi tập cho học sinh thói quen: nhận diện, phân tích cấu tạo
của vần, nhận biết vị trí các âm trong vần để các em học vững.
5
VD: Học vần ăm :
1/ Cho học sinh nhận diện về cấu tạo vần ăm: vần ăm gồm 2 âm: âm ă và âm m đứng sau.
Vị trí âm trong vần: âm ă đứng trước, âm m đứng sau.
2/ Đánh vần vần ăm:
+ Hướng dẫn học sinh: âm ă đứng trước, ta đọc ă trước, âm m đứng sau ta đọc m sau: ă
_mờ _ăm.
+ Đọc trơn vần: ăm
Kết hợp dùng bộ chữ học vần dành cho học sinh để ghép vần. Yêu cầu các em: chọn đúng
hai con chữ: ă và m. Ghép đúng vị trí: ă trước - m sau. Nếu các em đã ghép đúng giáo
viên hướng dẫn cách đánh vần và đọc trơn vần như trên các em sẽ nhận biết và đọc được
vần ăm.
Với cách dạy phân tích, nhận diện và ghép vần vào bảng cài học sinh như thế, nếu
được áp dụng thường xuyên cho mỗi tiết học vần chúng ta sẽ tạo cho các em kỹ năng
phân tích, nhận diện và ghép vần dẫn đến đánh vần, đọc trơn vần một cách dễ dàng và
thành thạo giúp các em học phần vần đạt hiệu quả tốt. Trong các bài dạy vần, sách giáo
HS: Tiếng trường gồm có âm tr ghép với vần ương và dấu thanh huyền.
GV: Vậy đánh vần tiếng trường thế nào?
HS: trờ - ương – trương – huyền – trường.
GV: Đọc trơn tiếng này thế nào?
Hs: trường.
Rồi cho học sinh đọc nối tiếp: trường em.
2/ Học sinh chậm không đọc được tiếng trường
GV nên cho học sinh ôn lại cấu tạo vần ương trong tiếng trường.
GV: Vần ương gồm có mấy âm?
HS: Vần ương gồm có 2 âm. Âm đôi ươ và âm ng.
GV: Vị trí các âm trong vần thế nào?
HS: Âm đôi ươ đứng trước, âm ng đứng sau.
GV: Đánh vần và đọc trơn vần ương.
HS: ươ- ng- ương, ương
GV: Thêm âm tr vào trước vần ương và dấu huyền trên vần ương.Ta đánh vần, đọc trơn
tiếng thế nào?
HS: trờ - ương – trương- huyền – trường, trường
Sau mỗi lần đánh vần, cho học sinh đọc trơn lại tiếng vừa đánh vần nhiều lần để khắc sâu
vào trí nhớ học sinh.
3. Chữa lỗi phát âm:
3.1. Bằng biện pháp luyện theo mẫu:
7
Bằng phát âm mẫu của mình giáo viên đưa ra trước học sinh cách phát âm chuẩn, các
từ cần luyện, yêu cầu học sinh phát âm theo.
Âm k ≠ c, kẻ vở ≠ (cẻ vở: không hợp lệ)
Âm kh trong tiếng “khế” học sinh phát âm nhầm lẫn đọc thành tiếng “thế”
Bài 20: Trang 42 Tiếng Việt Tập 1.
Vần an: (bàn) ≠ ang: (bàng). Bài 44: trang 90 Tiếng Việt Tập 1.
5. Khuyến khích học sinh rèn kĩ năng đọc qua các hình thức giải trí:
Học sinh Tiểu học thường rất hiếu động và sáng tạo, do đó để luyện kĩ năng đọc cho
học sinh, ngoài các giờ học trên lớp, giáo viên cần khuyến khích các em giải trí thông qua
các hoạt động vui chơi để học.
9
Các hình thức giải trí như xem phim hoạt hình, chơi các trò chơi đấu trí hoặc hát
những bài hát thiếu nhi. Các biện pháp này sẽ giúp cho các em dần dần phát âm đúng, rèn
kĩ năng đọc. Các em sẽ thích thú hơn với môn học, giảm bớt đi áp lực, tạo tinh thần thoải
mái, phấn khởi trong tiết học. Bên cạnh đó học sinh sẽ có nhiều cơ hội để được nghe và
hiểu tiếng Việt nhiều hơn, trau dồi được vốn từ vựng, nắm chắc được các cách phát âm để
nghe hiểu nhanh hơn, từ đó góp phần nâng cao kĩ năng đọc, nói, nghe, viết.
* Minh chứng 3: Phụ lục 3
6. Tổ chức “Đôi bạn/ Nhóm bạn cùng tiến” trong việc học môn Tiếng Việt nói chung
và rèn kĩ năng đọc nói riêng:
Đa số các em học sinh nhà rất gần nhau vì vậy giáo viên nên tổ chức cho các em thành
lập đôi bạn cùng nhau học ở nhà vào thời gian rảnh. Sau mỗi tiết học trên lớp, giáo viên
cần đưa ra bài đọc và giao nhiệm vụ các mỗi nhóm để các em luyện đọc và hiểu nội dung
bài đọc. Mục đích chính là giúp các em rèn cho mình kĩ năng đọc. Sau đó trước khi vào
tiết học mới, giáo viên mời các đôi bạn hay nhóm bạn trình bày kết quả trước lớp. Giáo
viên nhận xét, tuyên dương và đưa ra các chỉnh sửa nếu như các em thực hiện chưa tốt.
* Minh chứng 4: Phụ lục 4
III. HIỆU QUẢ
Qua quá trình suy nghĩ và tìm tòi, tôi đã tìm thấy một số biện pháp như trên để rèn kỹ
năng đọc cho học sinh lớp 1. Qua việc áp dụng những biện pháp trên, tôi thấy học sinh có
nhiều tiến bộ rõ rệt: có hứng thú học tập, các em phát âm chuẩn, đọc rõ ràng, lưu loát,
ngắt nghỉ hơi đúng chỗ, một số em đọc diễn cảm.
* Minh chứng 5: Thống kê số lượng học sinh phát âm sau khi nghiên cứu và áp dụng
đề tài (tính đến cuối tháng 4 năm 2019): Phụ lục 5
Võ Thị Tuyến
PHỤ LỤC 1
Thống kê số lượng học sinh phát âm trước khi nghiên cứu đề tài
(thời điểm đầu năm học 2018-2019):
Thời
điểm
Đầu
năm
Tổng
số HS
21
Phát âm sai
âm, vần, tiếng,
từ
Đọc sai dấu
thanh
Đọc chậm
Đọc đúng, lưu
loát
SL
TL
PHỤ LỤC 2
12
PHỤ LỤC 3
13
14
15
PHỤ LỤC 4
16
PHỤ LỤC 5
Thống kê số lượng học sinh phát âm sau khi nghiên cứu và áp dụng đề tài
(tính đến cuối tháng 4 năm 2019)
Thời
điểm
TL
Đầu năm
21
6
28.6
4
19.1
6
28.6
5
23.7
Giữa HK1
21
5
23.7
61.9
Giữa HK2
21
2
9.5
1
4.8
2
9.5
16
76.2
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
17
TRƯỜNG…………..
5
-Thực trạng
10
2. Giải quyết vấn đề
-Cơ sở lý luận
5
- Giải pháp,
biện pháp thực
hiện
35
- Hiệu quả
35
18
3. Kết luận
-Phạm vi áp
dụng
5
-Ý nghĩa
5
Họ tên người thẩm định 1: ………………………… ………chữ ký:………………….
Đơn vị: ………………………………………….. ……………………………………..
Họ tên người thẩm định 2: ………………………… ………chữ ký:………………….
Đơn vị: ………………………………………….. ………………………………………
Tên đề tài: ...........................................................................................................................
……………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………….
Người thực hiện:
…………………………………………………………………………………………….
Trường:. …………………………………………………………………………………
Tiêu chí
NHẬN XÉT
1. Đặt vấn đề
-Lý do chọn đề
tài
Điểm
Điểm
Quy
chấm
định
5
-Thực trạng
10
2. Giải quyết vấn đề
Tổng
-
điểm:
/100. Xếp loại:
Loại A (Xuất sắc): 91 - 100 điểm.
Loại B (Khá) : 76 – 90 điểm.
Loại C (Đạt) : 50 – 75 điểm.
Không xếp loại: 49 điểm trở xuống.
Nếu có một nội dung bị điểm (0) thì hạ một bậc xếp loại.
Nếu có sao chép từ các nguồn khác thì không xếp loại
Ninh Hòa, ngày tháng năm 2019
NGƯỜI THẨM ĐỊNH 1
NGƯỜI THẨM ĐỊNH 2
21